#
Ông lang ngồi xếp bằng bên ngọn đèn dầu lạc, quyển sổ nợ mở sẵn trước mặt, nghiên mực đã mài, cây bút lông gác ngang miệng nghiên. Bên cạnh ông, cái điếu cày nằm lăn lóc giữa một vốc tàn thuốc đen sì, nhiều tới mức thằng Bần chưa từng thấy ông rít chừng ấy điếu trong một buổi tối.
Nó đứng dưới bậc thềm, không dám bước lên, bởi người nó bết bùn mương từ đầu gối trở xuống, cái mùi nước lòng lợn bốc lên nồng nặc tới mức chính nó cũng thấy buồn nôn.
"Thưa thầy, con về ạ."
Ông lang ngẩng lên.
Ông nhìn nó từ đầu tới chân, nhìn cái áo rách toạc một bên vai, nhìn một bên mặt sưng vù tím bầm, nhìn cái mũi còn vương máu khô, nhìn hai ống chân đen kịt bùn mương, rồi dừng lại ở cái rổ gãy nó đang ôm trước ngực.
"Thuốc đâu?"
Thằng Bần chìa cái rổ ra. Trong lòng rổ chỉ còn mấy cọng ngải cứu nhầy nhụa với một nắm rau má nát bét, bốc mùi thối.
"Dạ... hỏng hết rồi ạ."
Ông lang không hỏi vì sao hỏng. Ông không hỏi ai đánh. Ông chỉ nhìn cái rổ, rồi nhìn lại khuôn mặt sưng vù của thằng bé, nhìn lâu tới mức ngọn đèn dầu lạc lụi xuống một nhịp rồi mới bùng lên lại.
Rồi ông cầm bút lên, chấm mực.
"Kim ngân sáng nay, một vạch." Ông vạch xuống giấy một nét dọc. "Thuốc chiều nay, hai vạch." Thêm hai nét nữa. "Cái rổ, một vạch." Lại thêm một nét. "Hôm nay không gạch. Tối nay nhịn."
"Dạ."
Bốn vạch mực đen nằm thẳng hàng trên trang giấy bản, nối vào cái hàng dài chi chít đã có từ trước. Thằng Bần nhìn bốn cái vạch ấy, và nó thấy hai đầu gối mình run lên, mà không phải vì sợ. Bốn vạch. Ông không bảo nó cút. Ông không nhắc tới cái câu cả hai đứa. Ông chỉ vạch thêm bốn vạch, như vạch cho bất cứ một việc hỏng nào, như cái hôm nó đánh vỡ cái bát sành.
Chín năm nay nó sợ đủ thứ trên đời. Nó chưa bao giờ nghĩ có ngày mình lại mừng vì bị ghi thêm nợ.
"Đi rửa ráy đi." Ông lang gác bút lên nghiên. "Người mày hôi như cú."
Nó dạ một tiếng rồi lùi ra giếng. Lúc thả gầu xuống, nó nghe sau lưng ông lang nói thêm một câu, giọng vẫn khàn khàn đều đều, chẳng buồn ngẩng lên khỏi quyển sổ.
"Mai thì đi đường bờ ruộng."
Thằng Bần đứng sững bên thành giếng, cái gầu lơ lửng giữa chừng. Nó chưa hề kể với ông một lời nào về chuyện ở Mương Đen.
"Dạ."
---
Gần nửa đêm thằng Cò mới mò về.
Nó lách qua tấm liếp gian bếp, rón rén như con mèo, trong vạt áo lủng củng cái gì chẳng biết. Bếp lửa đã tàn, chỉ còn mấy hòn than hồng thoi thóp dưới lớp tro. Thằng Bần nằm co trong ổ rơm, không ngủ, cái bụng rỗng từ sáng quặn lên từng cơn.
"Mày chưa ngủ à?" Thằng Cò ngồi phịch xuống bên cạnh, lôi trong vạt áo ra một nắm lạc rang. "Tao vừa chôm được ở..."
Nó dừng lại giữa chừng.
Ánh than hồng hắt lên một bên mặt thằng Bần. Thằng Cò nhìn cái bên mặt ấy, rồi thò tay túm lấy cằm nó, xoay hẳn về phía bếp mà nhìn cho rõ. Con mắt trái tím bầm, sưng húp lại chỉ còn một đường chỉ. Môi toác. Dưới mũi còn vệt máu khô.
"Mặt mày làm sao thế?"
"Tao ngã xuống mương."
"Ngã xuống mương." Thằng Cò nhắc lại, giọng dửng dưng mà lạnh. "Mương nhà ai mọc được nắm đấm thế?"
Thằng Bần không đáp.
"Thằng Hợi."
Câu ấy chẳng phải câu hỏi. Thằng Bần nghe cái giọng thằng Cò mà rùng mình. Nó đã nghe cái giọng ấy một lần, trong miếu Thần Nông đêm ba mươi, cái lúc thằng Cò bảo mày cũng là thằng ăn trộm rồi.
"Mày đừng hỏi nữa." Nó nói.
Thằng Cò buông cằm nó ra. Nó ngồi im một lúc lâu, nắm lạc rang vẫn nằm trong lòng bàn tay, rồi nó dốc một nửa sang tay thằng Bần, lần này chẳng nói câu chia đôi như mọi khi. Xong nó nằm xuống, quay mặt vào vách.
Thằng Bần cầm nắm lạc, rồi chợt nhớ ra tối nay nó phải nhịn. Ông lang bảo nhịn. Nó cầm nắm lạc mà không ăn, nằm nghĩ mãi xem lạc thằng Cò chôm ngoài chợ thì có tính là phạm vào cái lệnh nhịn của ông hay không, nghĩ mãi không ra, cuối cùng đành gói nắm lạc vào một góc vạt áo, định bụng để mai.
"Cò này."
"Gì."
"Chiều nay tao có huýt mày."
Thằng Cò không đáp. Ngoài sân, tiếng dế kêu ri ri dưới chân giàn phơi thuốc. Lâu lắm, lâu đến nỗi thằng Bần tưởng nó ngủ rồi, thì cái giọng của nó mới vọng ra, nghèn nghẹt, úp vào vách.
"Tao ở chợ bên kia sông."
"Ừ. Tao biết."
Lại im. Rồi:
"Lần sau huýt to hơn."
Thằng Bần nằm nhìn cái lưng gầy của thằng bạn, nhìn mãi, và nó thấy mắt mình lại cay. Nhưng nó không khóc nữa. Một ngày khóc một lần là đủ rồi.
Sáng hôm sau, lúc mở mắt ra, nó thấy ngay cạnh đầu mình có một cái lọ sành nhỏ nút lá chuối, cái lọ cao đen sì mà đêm ba mươi ông lang ném cho thằng Cò. Nó không biết cái lọ ấy tới đó từ lúc nào. Nó ngủ say quá, chẳng nghe thấy ai vào.
Lúc nó bưng mâm cơm sáng lên, ông lang gõ đũa vào mâm.
"Lọ cao, một vạch."
"Dạ."
Thằng Cò ngồi bên cạnh bĩu môi, lầm bầm cái gì đó về lão keo kiệt đến lọ thuốc cũng tính vào sổ. Nhưng tối hôm ấy nó vẫn ngồi sau lưng thằng Bần, mở nút lọ, quệt thứ cao đen sì thơm mùi lá cây lên từng vết bầm, quệt nhẹ tênh như cái đêm ba mươi.
---
Người ta bảo được đằng chân thì lân đằng đầu. Bọn bắt nạt ở làng Lò Trấu thì đứa nào cũng thuộc câu ấy, thuộc mà chẳng cần ai dạy.
Từ hôm ấy, thằng Hợi biết thằng Bần hay đi một mình.
Hôm sau, thằng Bần đi đường bờ ruộng như ông lang dặn, thì thấy hai thằng em thằng Hợi ngồi vắt vẻo trên bờ đê chờ sẵn. Nó quay đầu chạy, chạy thục mạng qua mấy thửa lúa chiêm, bùn ngập tới gối, rơi mất nửa rổ lá, về tới nhà thì thiếu. Hôm sau nữa, nó đi vòng lên Dốc Cửa Mả, xuyên qua bãi tha ma, men theo con đê cũ xuống xóm Hạ rồi mới vòng về xóm Trung, con đường dài gấp ba mà vắng hoe, chỉ có mả với cỏ gà. Đường ấy thì chẳng đứa nào chặn, bởi trẻ con trong làng chẳng đứa nào dám bén mảng tới bãi tha ma lúc chiều tà. Nhưng đi một lượt thì mất thêm hơn nửa canh giờ, về tới nhà thì mặt trời đã lặn, nồi cơm chưa thổi, cối thuốc chưa rửa, sân chưa quét.
Việc không xong thì không gạch.
Mười ngày ấy, nó được gạch có ba vạch, lại bị vạch thêm hai, một vạch vì về muộn quá để ông lang phải tự nhóm bếp, một vạch vì mệt quá mà thái lẫn rễ cỏ tranh với rễ lau. Tối nào nằm trong gian bếp nó cũng lôi mấy hòn sỏi giấu dưới ổ rơm ra mà xếp, xếp thành một hàng như những vạch mực trong sổ, hôm được gạch thì bớt đi một hòn, hôm bị vạch thì thêm vào. Cái hàng sỏi ấy đáng lẽ mỗi ngày một ngắn lại, thì cứ dài ra mãi.
Nó tính, cái lối tính chậm chạp mà chắc nịch của nó, tính từng bước như con cua bò trong bùn. Đi đường tắt thì bị đánh. Bị đánh thì thuốc hỏng. Thuốc hỏng thì vạch thêm. Đi đường vòng thì về muộn. Về muộn thì việc không xong. Việc không xong thì không gạch. Chạy cũng tốn, mà không chạy cũng tốn. Cái giá của một trận đòn chẳng nằm ở mấy vết bầm trên người nó, vết bầm thì vài hôm là lặn. Cái giá của một trận đòn nằm trong quyển sổ giấy bản của ông lang, nằm trong cái hàng sỏi dưới ổ rơm, dài ra từng ngày một.
Mà thằng Hợi thì chẳng mất gì cả.
Bấy giờ thằng Bần mới hiểu cái câu lão ăn mày hỏi nó nặng tới chừng nào. Hỏi nó có muốn chúng nó thôi đánh nó không, cũng tức là hỏi nó có muốn cái hàng sỏi kia thôi dài ra không.
Nó muốn.
---
Mùng năm tháng Năm là Tết Đoan Ngọ.
Người Lò Trấu gọi là Tết giết sâu bọ. Sáng sớm, nhà nào có của thì cho trẻ con ăn một bát rượu nếp với mấy quả mận chua, bảo ăn vào thì sâu bọ trong bụng say mà chết, cả năm không đau bụng, rồi buộc vào cổ tay chúng nó một sợi chỉ ngũ sắc, bôi một chấm hồng hoàng lên trán, lên rốn, cho rắn rết khỏi cắn. Tới giờ Ngọ, khi mặt trời đứng bóng, cả làng lại tỏa ra đồng, ra đồi mà hái lá, bởi người ta tin lá hái đúng giờ Ngọ ngày ấy là thứ lá thiêng nhất năm, phơi khô để dành, ốm đau gì đem nấu nước uống cũng khỏi.
Ông lang thì bảo cái tin ấy chỉ đúng được một nửa.
"Lá hái giờ Ngọ hôm nay thì tốt hơn ngày thường, bởi nắng to, lá ráo sương, dầu trong lá đặc." Ông nói, trong lúc đưa cho thằng Bần cái rổ mới. "Tốt hơn được bao nhiêu thì chẳng ai biết. Nhưng người ốm thì tin. Mà người ốm có tin thì thuốc mới ngấm."
Thằng Bần chẳng hiểu lắm, chỉ dạ, rồi đi. Hôm ấy nó hái lá mùng năm cho ông lang tới tận xế chiều, về bằng đường vòng qua bãi tha ma, tới nhà thì mệt rã rời. Thằng Cò đi đâu từ sáng, tối mịt mới về, trong vạt áo có một bát rượu nếp gói lá chuối, chẳng biết chôm của nhà nào.
"Chia đôi." Nó nói, rồi xúc cho thằng Bần một nửa.
Rượu nếp ngọt lịm, cay cay, thơm nồng. Thằng Bần ăn hết phần mình, được một lúc thì thấy hai má nóng bừng, đầu nhẹ bẫng như có ai thổi hơi vào, nhìn cái gì cũng thấy buồn cười. Thằng Cò nằm lăn ra ổ rơm mà chỉ vào mặt nó, bảo mày say rồi con ạ, say vì một bát rượu nếp, đúng là thằng đần, rồi hai đứa cùng cười rinh rích, cười như cái tối ở điếm hoang gõ vào mặt trống rách, cười tới lúc thằng Cò lăn ra ngủ.
Thằng Bần thì không ngủ.
Nó nằm nghe tiếng thở đều đều của thằng Cò, nghe tiếng điếu cày từ gian giữa vọng xuống, sòng sọc rồi thôi, rồi lại sòng sọc, cho tới khi ngọn đèn dầu bên ấy tắt hẳn. Nó đợi thêm một lúc nữa. Rồi nó bò dậy, lách qua tấm liếp.
Có lẽ vì bát rượu nếp. Có lẽ vì cái hàng sỏi dưới ổ rơm. Đêm ấy, lần đầu tiên trong đời, thằng Bần tự đi tìm một người để xin một thứ.
---
Miếu Thần Nông đêm ấy sáng lờ mờ.
Ai đó đã thắp mấy nén hương trên bát hương sành, chắc là người đi hái lá mùng năm qua đây tiện chân vái ông Thần Nông cho một mùa gặt khá, khói hương còn quẩn quanh pho tượng gỗ mòn vẹt mặt mũi. Lão ăn mày nằm sõng soài sau bệ thờ, bên cạnh lăn lóc mấy cái bát sành không, bát nào cũng còn dính vài hạt nếp, thứ rượu nếp người ta bố thí cho lão ban sáng. Lão đang ư ử một câu hát gì đó trong cổ họng, lời lẽ lạ tai, thằng Bần chỉ nghe ra được mấy tiếng cờ, tiếng ngựa, tiếng ải, rồi thôi.
Thấy nó bước vào, lão thôi hát.
"Lại mày à."
"Dạ." Thằng Bần đứng thẳng lưng, chắp hai tay trước bụng, đúng như ông lang dạy. "Thưa chú, cháu nghĩ ra rồi ạ."
"Nghĩ ra cái gì?"
"Dạ, cháu muốn chúng nó thôi đánh cháu ạ."
Lão ăn mày nhìn nó một lúc, rồi phá ra cười, cười sằng sặc, cười nghiêng ngả, cánh tay quờ phải một cái bát sành bên cạnh làm nó lăn lông lốc xuống nền đất.
"Muốn thì cứ muốn." Lão nói, giọng lè nhè hơi rượu. "Tao còn muốn có vò rượu to bằng cái cối xay đây này. Muốn thì ai chẳng muốn."
"Chú dạy cháu đi ạ."
"Dạy cái gì?" Lão trợn mắt. "Tao là thằng ăn mày què. Dạy mày ngửa tay xin à? Cái đấy thì dễ. Chìa tay ra, cúi đầu xuống, ai cho gì cũng cảm ơn, ai đá thì cũng cảm ơn. Học xong rồi đấy. Về đi."
"Hôm ấy..." Thằng Bần nuốt nước bọt. "Hôm ấy chú nhìn thằng em thằng Hợi một cái mà nó sợ tới đái cả ra quần ạ."
"Nó sợ ma què." Lão ăn mày ngả lưng xuống đống rơm, kéo cái áo tơi rách trùm lên tận mặt. "Cút. Tao ngủ."
Thằng Bần đứng im.
Tiếng ngáy khò khè bắt đầu vang lên dưới cái áo tơi, đều đều như tiếng bễ lò rèn. Nó đứng đợi, đợi tới lúc mấy nén hương trên bát hương cháy hết, tàn rơi xuống từng mẩu, rồi nó cúi đầu chào cái đống áo tơi đang ngáy, lặng lẽ quay về.
---
Đêm hôm sau nó lại tới.
Miếu Thần Nông đêm ấy bốc mùi chua loét. Lão ăn mày nằm úp mặt xuống rơm, bên cạnh là một bãi nôn lẫn rượu với cơm, ruồi muỗi bâu kín trên ấy. Lão ngáy, cái ngáy đứt quãng của người say mềm.
Thằng Bần đứng nhìn bãi nôn một lúc. Rồi nó ra gốc đa nhặt một cái mo cau khô người ta vứt đấy, quay vào xúc bãi nôn đổ ra bụi tre sau miếu. Nó ra giếng đình múc nước, xách về từng gầu một, dội sạch nền đất, lấy nắm rơm khô chà đi chà lại, rồi vốc đất khô ngoài sân rắc lên cho át mùi. Mùa dịch năm ngoái nó đã đào huyệt cho bốn mươi mốt người chết thổ tả, có những cái xác người nhà khiêng tới mép huyệt thì vứt đấy mà chạy, để một mình nó kéo xuống. Một bãi nôn của người còn sống thì chẳng là cái gì cả.
Xong việc, nó chẳng nói gì, cúi đầu chào cái đống người đang ngáy, rồi lặng lẽ về.
Nó không để ý rằng tiếng ngáy sau bệ thờ, cũng như cái đêm ba mươi Tết, đã tắt từ lúc nào.
---
Đêm thứ ba, lão ăn mày ngồi đợi nó.
Lão ngồi dựa lưng vào bệ thờ, tỉnh táo, cái bầu rượu nằm bên cạnh, nút kín. Ánh trăng thượng tuần lọt qua khe mấy tàu lá chuối chèn chỗ mái ngói vỡ, rọi thành một vệt trắng nhợt xuống nền miếu, ngay cái chỗ đêm qua là bãi nôn.
"Mày lại tới."
"Dạ."
Lão không nói gì thêm. Lão chỉ duỗi cái chân quấn giẻ ra giữa vệt trăng.
"Giẻ chân tao thối rồi. Tháo ra mà giặt."
Thằng Bần quỳ xuống.
Lớp giẻ quấn chân lão dày tới mấy chục vòng, lớp ngoài đen kịt bùn đất, lớp trong thì cứng lại, dính bết vào da thịt bởi một thứ nước vàng khè đã khô. Nó tháo từng vòng một, chậm rãi, gặp chỗ nào dính thì nhổ nước bọt vào cho mềm rồi mới gỡ. Cái mùi xộc lên, mùi thịt thối, mùi mủ, thứ mùi mà người thường ngửi phải thì sẽ chạy ra ngoài mà nôn. Thằng Bần chỉ hơi nhăn mũi. Cái mùi ấy nó quen. Đó là mùi của những cái xác người ta vứt lại mép huyệt mùa dịch.
Lớp giẻ cuối cùng rơi xuống.
Cái chân lão ăn mày nằm phơi ra dưới vệt trăng.
Từ đầu gối trở xuống, cái chân ấy teo tóp lại chỉ bằng một nửa chân lành, da bọc lấy xương, bàn chân vặn hẳn sang một bên, mấy ngón co quắp lại như móng gà. Ngay dưới đầu gối có một cái sẹo to bằng lòng bàn tay, lõm sâu vào như có ai từng khoét đi một tảng thịt, quanh đó da thịt co rúm, nhăn nhúm, bóng lên như vỏ cây bị lửa táp. Còn ở mắt cá, chỗ lớp giẻ cọ vào suốt ngày, có một vết loét đang mưng mủ, đỏ tấy, to bằng đồng xu.
Thằng Bần nhìn cái sẹo dưới đầu gối rất lâu. Nó không biết thứ gì khoét được vào thịt người một cái lỗ như thế. Không phải răng chó. Không phải lưỡi cuốc. Nó chỉ biết nếu là nó, bị khoét một cái lỗ như thế thì đã nằm trên Dốc Cửa Mả từ lâu.
"Nhìn cái gì." Lão ăn mày nói. "Giặt đi."
Thằng Bần không giặt ngay. Nó cầm cái bát sành lão vẫn dùng xin cơm chạy ra giếng đình, múc về một bát nước, rửa cái vết loét ở mắt cá cho sạch mủ. Rồi nó lại chạy đi. Lần này nó chạy ra hàng rào sau đình, chỗ có một bụi bòng bong leo kín mấy cây cọc tre, cái bụi mà nó chỉ để mắt tới đúng một lần hồi đầu xuân mà vẫn nhớ. Trời tối, nó chẳng nhìn thấy gì, nhưng nó lần tay theo hàng rào, đưa từng chiếc lá lên mũi mà ngửi, ngửi tới đúng cái mùi ngai ngái ấy thì ngắt. Nó mang về một nắm, lấy hòn đá kê chân bệ thờ mà giã nát, đắp lên vết loét, rồi mới đem đống giẻ ra giếng giặt, giặt xong vắt kiệt, chọn mấy mảnh còn lành nhất quấn lại cho lão, quấn chặt vừa tay, như nó từng thấy ông lang quấn cho người ta.
Lão ăn mày ngồi im suốt lúc ấy. Lão nhìn nó.
Nhiều năm về sau, Trần Minh Luân vẫn còn nhớ rất rõ cái nhìn của lão ăn mày đêm ấy, dưới vệt trăng lọt qua chỗ mái ngói vỡ. Ông nhớ, nhưng ông chưa bao giờ biết phải gọi nó là gì.
"Lão lang dạy mày cái này à?"
"Dạ. Thầy cháu dạy lá bòng bong giã ra đắp vết thương thì cầm máu ạ." Thằng Bần buộc nốt cái nút giẻ. "Cháu hái ngoài hàng rào đình, không phải thuốc nhà thầy đâu ạ."
"Lão lang có biết mày ở đây không?"
"Dạ không ạ."
"Hừ."
Lão ăn mày với lấy cái bầu rượu, rút nút, tu một ngụm. Rồi lão chống gậy ngồi thẳng dậy.
"Mày muốn học đánh để làm gì?"
Thằng Bần nghĩ. Nó nghĩ lâu, cái nghĩ chậm chạp của nó bò đi từng bước một, rồi nó kể, kể chuyện đường tắt với đường vòng, chuyện bờ ruộng với bãi tha ma, chuyện vạch mực trong sổ với hàng sỏi dưới ổ rơm.
"Đi đường tắt thì bị đánh. Bị đánh thì thuốc hỏng. Thuốc hỏng thì thầy cháu vạch thêm. Đi đường vòng thì về muộn. Về muộn thì việc không xong. Việc không xong thì thầy cháu không gạch." Nó đếm trên đầu ngón tay, đếm từng việc một, nghiêm trang như đứa đang trả bài. "Đằng nào cũng tốn ạ. Cứ thế thì nợ của cháu với thằng Cò chẳng bao giờ hết. Mà nợ không hết thì..."
Nó ngừng lại, không nói nốt.
Lão ăn mày nhìn nó trân trân, rồi bật ra cái cười khùng khục trong cổ họng như hôm trước.
"Tổ sư. Mày tính sổ y như lão lang."
Lão lắc đầu, tu thêm một ngụm.
"Thế học rồi thì mày đánh lại thằng Hợi à?"
"Dạ..." Thằng Bần ngập ngừng. "Cháu không biết ạ. Cháu chỉ muốn chúng nó thôi đánh cháu."
"Không biết thì tốt."
Lão đặt cái bầu rượu xuống, vuốt vuốt bộ râu bết lọn, ngước nhìn pho tượng Thần Nông mòn vẹt mặt mũi.
"Ngày xưa có một thằng tên là Hàn Tín."
Thằng Bần chưa nghe cái tên ấy bao giờ, nhưng nó ngồi thẳng lưng lên mà nghe, như ngồi nghe ông lang giảng chữ.
"Thằng ấy nghèo rớt mồng tơi, ăn chực hết nhà này tới nhà khác, cả chợ khinh. Thế mà đi đâu nó cũng đeo một thanh gươm bên hông. Một hôm ra chợ, có thằng con nhà hàng thịt chặn đường nó lại, bảo mày đeo gươm làm cái đéo gì, có gan thì rút ra mà đâm tao, không có gan thì chui qua háng tao mà đi." Lão khoát tay một cái. "Cả chợ xúm lại xem. Thằng Hàn Tín đứng nhìn thằng hàng thịt rất lâu. Rồi nó cúi xuống, bò qua háng thằng ấy, bò giữa chợ. Cả chợ cười lăn cười bò. Người ta cười nó tới mấy năm trời."
"Rồi sao nữa ạ?"
"Rồi về sau nó làm đại tướng. Cầm cả trăm vạn quân, đánh đâu thắng đấy." Lão kể, giọng đều đều như kể chuyện con trâu nhà hàng xóm. "Làm đại tướng rồi thì nó về quê, cho người đi tìm thằng hàng thịt năm xưa. Thằng hàng thịt bị lôi tới, quỳ mọp dưới đất, đái cả ra quần, tưởng phen này chết chắc."
"Ông ấy giết thằng hàng thịt ạ?"
"Không. Nó cho thằng ấy làm một chức quan con."
Thằng Bần ngẩn ra.
"Sao... sao ông ấy lại không giết ạ?"
Lão ăn mày im một lúc.
"Vì lúc ấy nó đã đủ lớn để thấy thằng hàng thịt chẳng đáng để nó giết." Lão nói. "Mà cũng vì nó biết, nếu cái hôm ở chợ ấy nó rút gươm ra đâm, thì nó chết ở cái chợ ấy, chẳng có đại tướng nào hết."
Lão gõ đầu gậy xuống nền đất. Cộc.
"Muốn sống thì phải chịu được nhục trước, rồi mới chịu được đau. Đứa nào chưa chịu được nhục mà đã đòi học chịu đau, thì học xong cũng chỉ để chết sớm."
Rồi lão chống gậy đứng dậy, dạng chân ra, cái chân lành đặt xuống nền đất, còn cái chân quấn giẻ vẫn còn thơm mùi lá bòng bong thì co lên, chĩa sang một bên.
"Chui qua háng tao xem."
Thằng Bần chẳng đợi lão nói tới lần thứ hai. Nó quỳ ngay xuống, hai tay chống đất, cúi đầu định bò.
Chưa kịp nhích tới đâu thì cán gậy tre đã vụt ngang một cái, trúng giữa lưng nó đau điếng, hất nó lăn kềnh sang một bên. Nó chưa kịp hiểu ra chuyện gì thì bàn tay to bè của lão đã túm lấy vạt áo lôi dậy, rồi một cái tát nảy đom đóm mắt nổ đánh đét bên má, tiếp một cái nữa bên kia, cái sau nặng hơn cái trước.
"Ai cho phép mày chui?" Lão quát, cái giọng lè nhè hơi rượu bỗng sắc lại như lưỡi dao cạo. "Tao mới nói được có một câu, mày đã chực cúi đầu xuống đất rồi."
Thằng Bần ôm má, nước mắt trào ra vì đau, nhưng nó cắn răng không để bật thành tiếng, chỉ đứng lom khom nhìn lão, không hiểu mình sai ở đâu.
Lão ăn mày ngồi phịch xuống bệ thờ, chống gậy, thở hắt ra một hơi.
"Tao thử mày có nghĩ không, chứ đéo phải thử mày có nhục hay không." Lão nói. "Người ta bảo cúi là mày cúi liền, chẳng kịp hỏi lấy một câu vì sao phải cúi, cúi xong thì được cái gì, không cúi thì mất cái gì. Cái đầu mày lúc ấy đi đâu?"
Thằng Bần đứng ngẩn ra. Nó nghĩ tới thằng Hàn Tín vừa nghe kể, nghĩ tới cái chợ đông người cười, rồi nó chợt hiểu ra được một nửa, cái nghĩ chậm chạp của nó bò được một quãng ngắn.
"Chú... chú không định để cháu chui thật ạ?"
"Chui thì được cái gì?" Lão hỏi lại, gằn từng tiếng. "Thằng Hàn Tín chui vì nó cân đo xong xuôi rồi mới chui. Cân xem rút gươm ra thì chết ở cái chợ ấy, không rút thì sống mà chờ ngày làm tướng. Nó chọn lấy cái nhục để giữ cái mạng, cái mạng ấy sau này nó dùng làm được việc lớn. Còn mày," lão chĩa đầu gậy vào ngực nó, "mày nghe tao bảo chui là chui liền, chẳng cân đo gì sất. Cái nhịn ấy không phải mày chọn. Đấy là cái nhịn của con chó, đánh thì cụp đuôi, cho ăn thì vẫy đuôi, bảo gì làm nấy."
"Tao mà dạy mày, thì là dạy cho mày có một thứ trong tay. Để mai kia mày có nhịn, thì là mày chọn nhịn. Hiểu không?"
"Dạ..." Thằng Bần xoa cái má còn rát bỏng. "Cháu chưa hiểu lắm ạ."
"Chưa hiểu thì thôi. Ngã nhiều rồi khắc hiểu."
Thằng Bần đứng im một lúc, rồi hỏi cái câu nó đã nghĩ suốt ba đêm.
"Thưa chú, thế cháu trả chú bằng gì ạ?"
"Trả?" Lão ăn mày nhướn cặp lông mày rậm.
"Dạ. Thầy cháu bảo không ai cho không ai cái gì. Chú dạy cháu thì cháu phải trả chú."
"Lại lão lang." Lão ăn mày khịt mũi. "Tao đéo lấy công."
"Không trả thì cháu không học đâu ạ."
Lão ăn mày quay sang nhìn nó. Thằng Bần đứng thẳng lưng, hai tay chắp trước bụng, cái mặt còn tím bầm một bên mà vẫn nhìn lại lão không chớp, cái vẻ lì lợm của đứa đã quyết rồi thì chẳng ai lay được.
Lão nhìn nó lâu lắm. Rồi trong bóng tối, lão nhe răng ra cười, cái hàm răng vàng khè sứt mất hai chiếc.
"Được. Thế thì nợ." Lão nói. "Bao giờ tao cần, tao lấy."
"Dạ."
Thằng Bần thở phào. Nợ thì nó hiểu. Nợ thì có chừng có mực, làm thì trả được, trả xong thì hết. Nó đứng đấy, nhẹ cả người, mà chẳng nghĩ tới chuyện món nợ ấy không có sổ, không có vạch, chẳng ai nói ra nó to bằng chừng nào, cũng chẳng ai nói ra bao giờ thì đòi. Nó quên mất rằng cái thứ nó sợ nhất trên đời, xưa nay chưa bao giờ là nợ, mà là những món nợ chẳng ai nói ra giá.
"Chú tên là gì ạ?"
"Tên để làm cái gì." Lão ăn mày ngả lưng dựa vào bệ thờ. "Người ta gọi tao là thằng què. Mày gọi chú là được rồi. Còn mày, người ta gọi mày là gì?"
"Dạ, thằng Bần ạ."
"Tên gì mà xấu thế."
Thằng Bần gãi đầu cười hì hì. Cả đời nó mới có ba lần người ta hỏi tới cái tên của nó, và cả ba lần người ta đều chê đúng một câu như thế.
"Mai." Lão ăn mày nói. "Hái thuốc xong thì ra cái điếm hoang dưới chân Dốc Cửa Mả."
Thằng Bần ngẩn ra.
"Cái điếm... cái điếm cháu ngủ ngày trước ạ?"
"Ừ."
"Nhưng... người ta bảo dưới ấy có ma què ạ."
Lão ăn mày nhìn nó, rồi lại nhe cái hàm răng vàng khè sứt mẻ ra mà cười.
"Ừ. Chỗ ma què." Lão ngả lưng xuống đống rơm, gác cây gậy lên bệ thờ. "Có ma thì càng tốt. Chẳng thằng nào mò tới."
---
Thằng Bần đi về trong đêm.
Trăng thượng tuần đã ngả về tây, con đường đất trắng nhợt dưới chân. Nó đi được nửa đường thì chậm dần, rồi đứng lại, bởi cái đầu chậm chạp của nó, bò mãi từ lúc ra khỏi miếu, cuối cùng cũng bò tới được một chỗ.
Cái đêm mưa cuối tháng Bảy năm ngoái, người đứng rất lâu trước cửa điếm hoang, một bước nặng, một bước nhẹ, cộc, cộc, cộc, là lão ăn mày. Cái ấy thì nó đoán ra từ hôm ngồi khóc sau miếu. Nhưng đêm ấy lão đứng đấy làm gì, đứng lâu thế, dưới mưa, trước cửa một cái điếm chỉ có một thằng bé tám tuổi đang nằm nín thở, thì nó không biết. Lão biết chuyện ở ao đình. Lão biết chuyện cái cột hiên nhà ông Bá Hộ đêm ba mươi, trong khi đêm ấy lão nằm say mềm sau bệ thờ. Bằng cách nào mà lão biết, nó cũng không biết.
Nó nghĩ mãi không ra. Mà cái gì nghĩ mãi không ra thì nó để đấy, như nó vẫn để lại những con chữ chưa biết mặt, đợi tới hôm có người chỉ cho.
Nó đi tiếp. Nhưng suốt quãng đường còn lại, nó cứ ngoái đầu nhìn về phía đầu ngõ Mương Đen, nơi cây đa già đứng đen sì dưới trăng.