#
Sang tháng Tư thì nắng bắt đầu gắt.
Ngoài đồng, lúa chiêm đã ngậm sữa, bông lúa cong xuống nằng nặng, gió thổi qua là cả cánh đồng Lò Trấu gợn lên từng đợt như mặt ao. Nhưng lúa ngậm sữa thì chưa ăn được. Người ta gọi mấy tháng này là tháng giáp hạt, cái khoảng lưng chừng giữa hai vụ, khi thóc vụ trước đã cạn đáy bồ mà thóc vụ sau vẫn còn đứng ngoài ruộng. Xóm Thượng thì chẳng biết giáp hạt là gì. Xóm Trung thắt lưng buộc bụng. Còn Mương Đen với xóm Hạ thì lại ra bãi đào củ chuối, ra bờ mương hái rau dại, và ngày nào cũng có vài người mặt xanh như tàu lá, bồng con hoặc cõng cha mẹ già, lê tới cổng nhà ông lang xin một thang thuốc ghi sổ.
Từ cái hôm được ngồi cuối lớp, thằng Bần phải đổi cách xưng hô.
"Ngồi trong lớp tao thì gọi tao là thầy, xưng con." Ông lang nói thế, chẳng buồn ngẩng lên khỏi cái cối thuốc. "Ông với cháu là chuyện của nhà người ta."
Ở Lò Trấu, trẻ con gọi cha là thầy, gọi mẹ là u. Chín năm trời thằng Bần chưa gọi ai là thầy bao giờ. Lần đầu tiên gọi, cái tiếng ấy cứ mắc lại trong cổ họng nó mãi mới bật ra được, bật ra rồi thì mặt nó đỏ lựng lên tới tận mang tai, và cả buổi chiều hôm ấy, đang gánh nước hay đang lật thuốc trên giàn, nó lại tự dưng lẩm bẩm một mình, như sợ để lâu thì quên mất cái tiếng ấy. Thằng Cò thì nhất định không gọi. Trước mặt ông lang nó vẫn gọi là ông, sau lưng thì gọi là lão, mà ông lang cũng chẳng buồn bắt nó đổi, bởi nó đã bỏ lớp từ buổi thứ ba.
Mỗi tháng lớp học sáu buổi. Ngày có học, thằng Bần vẫn phải làm đủ việc như mọi ngày, chẳng bớt đi việc nào, bởi ông lang đã nói từ đầu rằng học là học, việc là việc, học không được trừ vào việc. Việc thì ông ghi vào sổ. Học thì ông ghi vào đầu nó, và cái ông ghi vào đầu nó thì ông không tính tiền. Người làng vẫn hát với nhau câu có làm thì mới có ăn, không dưng ai dễ mang phần đến cho. Thằng Bần thuộc câu ấy từ lâu lắm, trước cả khi biết mặt một con chữ nào, thuộc bằng cái bụng đói chứ chẳng phải bằng tai.
---
Hôm ấy là một ngày có học.
Từ đầu tháng Tư, cứ ngày nào có học là canh năm ông lang lại sai thằng Bần lên đồi hái kim ngân. Kim ngân là một thứ dây leo, mọc bám vào mấy bờ rào đá ở sườn đồi hướng đông, lá xanh thẫm mọc đối nhau từng cặp, nụ hoa dài mảnh như cái tăm tre, trắng ngà, chụm lại từng đôi ở nách lá. Hoa mới nở thì trắng như bạc, để được một hai hôm thì ngả sang vàng óng như vàng ròng, cho nên người ta mới gọi nó là kim ngân. Nhưng ông lang không lấy hoa, ông chỉ lấy nụ. Mà nụ thì phải hái lúc trời còn nhá nhem, sương còn đọng, bởi nắng vừa rọi tới là nụ tách ra, thơm lừng cả một vạt đồi, còn thuốc thì theo cái mùi thơm ấy mà bay đi mất một nửa.
"Kim ngân nở rồi thì thành rơm." Ông lang dặn đi dặn lại như thế. "Nụ nào nở thì vứt. Đầy một rổ thì về."
Hái cho đầy một rổ nụ kim ngân chẳng phải chuyện dễ. Nụ bé tí tẹo, phải ngắt từng cái một bằng hai đầu ngón tay, ngắt nhẹ thôi kẻo dập, hái cả buổi mới được lưng lưng. Những ngày đầu thằng Bần hái tới hết giờ Mão mới đầy, về tới nhà thì lớp đã bắt đầu, nó rón rén vào ngồi cuối chiếu mà lỡ mất cái đoạn ông lang giảng chữ mới, tối ấy chẳng thuộc bài, mà chẳng thuộc bài thì chẳng được gạch vạch nào trong sổ nợ, dù có làm đủ việc cũng thế.
Sáng hôm ấy, mấy bờ rào gần đã bị nó hái trụi từ mấy buổi trước. Nó phải lội qua khe suối sang tận dãy rào đá bên kia, dò dẫm trong sương mù mà ngắt từng nụ một, hai ống quần ướt sũng tới bẹn. Tới lúc chân trời phía đông ửng lên màu hồng nhạt như má đứa trẻ con mới ngủ dậy, thì cái rổ mới được lưng chừng.
Thằng Bần đứng nhìn cái rổ, rồi nhìn về phía làng.
Nó biết mặt trời mà lên khỏi rặng tre đầu xóm Trung là lớp bắt đầu. Nó biết hôm nay ông lang sẽ giảng tiếp cái đoạn Tam Thiên Tự mà hôm trước còn dở, cái đoạn có chữ gia là nhà, chữ quốc là nước, cái đoạn đêm nào nó cũng nằm lẩm nhẩm mà vẫn chưa biết mặt chữ. Nó biết nếu đứng lại đây hái cho đầy rổ thì nó sẽ lại lỡ, lại ngồi cuối chiếu mà ngơ ngác như vịt nghe sấm, lại mất thêm một vạch.
Nó nghĩ, cái nghĩ chậm chạp của nó bò từng bước một, rằng học xong thì nó quay lên hái tiếp cũng được. Cái đầu nó nghĩ được tới đấy thì dừng, không bò thêm được bước nữa, không nghĩ ra rằng tới lúc học xong thì mặt trời đã lên tới đỉnh đầu, và trên cả cái sườn đồi này chẳng còn cái nụ kim ngân nào chưa nở.
Nó ôm rổ chạy một mạch về làng.
---
Nó chạy về tới cổng thì lũ trẻ đi học cũng vừa lục tục kéo tới, đứa nào cũng áo lành guốc mộc, tay ôm bảng gỗ. Ánh Dương đi giữa đám ấy, liếc thấy nó mồ hôi nhễ nhại, hai ống quần ướt sũng sương đêm dính đầy cỏ may, thì khẽ nhíu mày, nhưng có người đứng đấy nên con bé chẳng nói gì, chỉ ôm cái tráp đi thẳng vào nhà.
Ông lang đứng trên hiên, tay cầm quyển sách bản gỗ đã sờn gáy.
"Đủ chưa?"
Câu ấy sáng nào ông cũng hỏi, hỏi mà chẳng buồn nhìn vào rổ, bởi xưa nay thằng Bần chưa từng về khi chưa đủ.
"Dạ..." Thằng Bần nuốt nước bọt. "Dạ đủ rồi ạ."
Ông lang gật đầu rồi quay vào nhà.
Thằng Bần mang cái rổ xuống gian bếp, ngắt một tàu lá chuối đậy lên trên cho nụ khỏi héo, đúng như mọi hôm ông vẫn dặn. Lúc buông tàu lá chuối xuống, tay nó run lên, và nó chẳng hiểu vì sao cái việc nó vẫn làm mọi ngày, hôm nay lại khiến tay nó run.
Buổi học hôm ấy ông lang giảng chữ gia.
Ông vạch lên tấm bảng lớn treo ở vách một cái chữ có mái nhà che ở trên, dưới mái là một con gì bốn chân, rồi giảng rằng người xưa thấy dưới mái nhà có nuôi con lợn thì biết đấy là chỗ có người ở, cho nên chữ gia là nhà. Cả lớp cười ồ lên. Thằng Quý con ông trùm hỏi to thế nhà con là cái chuồng lợn à, rồi bị ông gõ thước xuống bảng đánh cạch một cái.
Thằng Bần ngồi cuối chiếu, mắt nhìn cái chữ, mà trong đầu chẳng vào được nét nào. Nó cứ nghĩ tới cái rổ lưng chừng đang nằm dưới tàu lá chuối trong gian bếp. Có một lúc Ánh Dương ngồi ở hàng trên ngoái lại nhìn nó, nhìn rất nhanh rồi lại quay lên, vậy mà cái nhìn ấy cũng làm nó cúi gằm mặt xuống, như thể con bé nhìn xuyên được qua vách mà thấy cả cái rổ.
Mặt trời lên mỗi lúc một cao. Nắng tràn qua khe cửa sổ, rọi thành từng vệt vàng nằm vắt trên chiếu, nóng dần, nóng dần. Tới lúc ấy thằng Bần mới hiểu ra cái điều mà lẽ ra nó phải hiểu từ lúc còn đứng trên đồi. Nắng đã lên tới tận đây, thì trên sườn đồi hướng đông kia, chẳng còn cái nụ kim ngân nào chưa nở.
Nó hiểu ra, như mọi lần, muộn mất một nhịp.
---
Lớp tan lúc gần trưa. Ông lang xuống bếp để trải nụ kim ngân ra nong như mọi ngày. Ông nhấc tàu lá chuối lên.
Thằng Bần đứng ở cửa bếp, hai tay đan chặt vào nhau.
Dưới tàu lá chuối, cái rổ chỉ lưng chừng. Mà cái lưng chừng ấy cũng chẳng còn là nụ nữa. Nắng trưa hầm hập trong gian bếp, hơi nóng hấp lên từ lớp lá, và những cái nụ trắng ngà ban sáng đã tách bung ra cả, xòe thành những bông hoa trắng muốt, thơm lựng, cánh hoa rũ xuống mềm oặt như rau luộc.
Ông lang bốc lên một nắm. Ông nhìn nắm hoa trong tay, rồi mở bàn tay ra, để chúng rơi lả tả xuống rổ.
"Thiếu."
Thằng Bần cúi gằm mặt.
"Con... con muốn kịp buổi học ạ."
"Muốn kịp buổi học." Ông lang đặt cái rổ xuống nền bếp, chậm, như đặt một vật nặng hơn nó đáng có. "Sáng nay tao hỏi đủ chưa. Mày bảo đủ rồi."
"Dạ."
"Mày nói dối tao để ngồi cho đủ một buổi học mà tao cho mày ngồi không mất một đồng, rồi mang về cho tao nửa rổ rơm." Ông gõ ngón tay vào vành rổ, từng tiếng một. "Nửa rổ nụ thì còn làm được thuốc. Nửa rổ hoa nở thì chỉ để ướp chè cho nhà giàu. Nhà này có ướp chè bao giờ không?"
Thằng Bần lắc đầu.
Ông lang rút cái điếu cày dựng ở góc bếp, gõ mạnh một cái vào thành chum nước. Tiếng ống tre đập vào sành nghe khô khốc như một cái tát, nước trong chum sóng sánh.
"Mày nghĩ tao nuôi mày vì cái gì?"
Thằng Bần không đáp.
Ông lang ngồi xuống cái ghế con, nhưng ông không vê thuốc, cũng chẳng châm lửa, chỉ đặt cái điếu nằm ngang trên đùi.
"Trên đời này, ngoài cha mẹ đẻ ra mày, không ai cho không ai cái gì cả." Giọng ông không to, vẫn khàn khàn đều đều như mọi khi, cái giọng ông vẫn dùng để giảng một con chữ trên bảng. "Mọi thứ mày có được ở đây, ở bất cứ đâu, đều là đổi chác. Người ta cho mày ăn vì mày còn làm được việc. Người ta để mày ở vì mày còn đáng cái chỗ mày chiếm. Ngày nào mày hết đáng, ngày đó mày là đồ bỏ đi, chẳng ai giữ."
Gian bếp im phăng phắc. Ngoài sân, mấy con gà mái đang bới đất dưới giàn phơi thuốc, kêu cục cục.
Thằng Bần đứng yên. Nó không khóc. Cái câu ấy chẳng có chữ nào là lạ với nó cả. Suốt chín năm, cả làng Lò Trấu đã dạy nó đúng từng ấy điều, chỉ có điều chưa ai nói ra thành lời cho rành rọt như thế. Mụ Tám cho nó miếng cháy bánh đúc vì nó cọ nồi. Mụ Tú cho nó mấy củ khoai vì nó bán nhái. Lý trưởng cho nó bát cháo ngô vì nó đào huyệt. Còn cái điếm hoang dưới chân dốc thì nó được ngủ, bởi chẳng ai thèm cái điếm ấy.
Nó nghĩ, cái nghĩ chậm chạp của nó lần từng bước, như người mù lần theo bờ ruộng. Không ai cho không ai cái gì. Chỉ có cha mẹ là cho không. Mà nó thì...
Nó ngẩng lên. Giọng nó nhỏ, nhưng không run, cái giọng của một đứa trẻ vừa nhìn ra một điều hiển nhiên mà trước giờ chưa ai chỉ cho.
"Con không có cha mẹ, thầy ạ. Vậy chắc con phải tự làm ra con, để không ai nỡ vứt con đi."
Ông lang không đáp.
Bàn tay ông đang đặt trên cái điếu cày bỗng dừng lại, mấy ngón tay gân guốc co siết lấy ống tre, các đốt ngón tay trắng bệch ra. Ông nhìn thằng bé, nhìn rất lâu, lâu tới mức một con gà mái ngoài sân đã bới xong cả một vạt đất, kêu toáng lên rồi chạy đi chỗ khác.
Rồi ông đứng dậy, cầm theo cái điếu, đi ra hiên, quay lưng về phía gian bếp.
"Trưa nay nhịn." Ông nói, không quay đầu lại. "Chiều lên đồi, hái cho đủ danh sách hôm nay. Kim ngân thì nở cả rồi, mai hái bù. Hôm nay không gạch."
"Dạ."
Thằng Bần lấy cái rổ tre to mà ông vẫn dùng đựng lá, đi ra cổng. Lúc đi ngang qua hiên, nó liếc thấy ông lang vẫn ngồi đấy, cái điếu cày nằm trên đùi, nõ điếu trống không, không thuốc, không lửa. Cả làng Lò Trấu ai cũng bảo ông lang mà bỏ được thuốc lào thì gà trống cũng biết đẻ trứng. Vậy mà mãi tới lúc thằng Bần ra khỏi ngõ, ngoái đầu lại, vẫn không thấy làn khói trắng nào bốc lên từ hiên nhà.
---
Nắng tháng Tư đổ lửa xuống sườn đồi.
Thằng Bần đi dọc bờ suối, cái bụng rỗng từ sáng cứ kêu lên từng hồi, cổ họng khô khốc, hai bên thái dương giật giật. Danh sách ông lang đọc cho nó hôm ấy dài hơn mọi ngày, hay có lẽ nó thấy thế: ngải cứu, cỏ nhọ nồi, rau má, mã đề, lá lốt, rễ cỏ tranh, thêm một nắm lá bòng bong. Nó không nhớ được mấy cái tên, nhưng nó nhớ mùi, nhớ chỗ, nhớ cái dáng từng chiếc lá lúc bị gió lật ngược lên, và nó đi một mạch từ chỗ này sang chỗ kia như người ta đi thăm lại những nhà quen.
Hôm ấy nó hái kỹ hơn bao giờ hết. Cọng nào dập thì bỏ. Lá nào úa thì bỏ. Cỏ tranh thì đào sâu lấy trọn cái rễ trắng, không để đứt một đoạn nào. Thứ gì nó cũng hái đủ phần ông dặn rồi lại hái thêm một nắm nữa, rồi lại một nắm nữa, như thể những nắm thừa ấy bù được cho nửa rổ kim ngân nở bung ban sáng. Nó chẳng biết cái lẽ đổi chác ấy có đúng không, nhưng nó cứ hái, bởi hái thêm một nắm thì nó lại thấy trong ngực nhẹ đi một chút.
Tới lúc mặt trời ngả về tây, cái rổ đã đầy có ngọn, lá xanh mướt, còn nguyên cái mùi hăng hắc của nhựa cây vừa đứt. Thằng Bần ôm rổ đứng giữa sườn đồi mà thở ra một hơi dài, cái hơi thở của đứa vừa trả xong một món nợ. Nó nhẩm tính, hôm nay không được gạch, nhưng mai nó sẽ dậy từ canh ba mà đi hái kim ngân, hái cho đầy có ngọn, rồi ngày kia cũng thế, ngày kìa cũng thế, và thể nào ông lang cũng lại gạch.
Nó chọn đường tắt mà về, xuống Dốc Cửa Mả, qua ngõ Mương Đen. Đường ấy gần nhất, mà nó thì muốn về cho sớm.
Lúc đi ngang cái điếm hoang dưới chân dốc, nó dừng lại một nhịp. Cửa điếm vẫn mở toang như cái hôm nó bỏ đi, mấy bó rơm chèn cửa đã bị gió lôi ra vứt lổn nhổn ngoài sân, trên xà cái dùi trống gãy buộc dây chuối vẫn treo đung đưa. Mới có hơn ba tháng mà nó thấy cái điếm như đã bỏ không từ mấy đời. Nó đứng nhìn một lúc, rồi ôm rổ đi tiếp.
---
Mương Đen chiều hôm ấy nồng nặc mùi lò mổ.
Lão đồ tể vừa giết xong mẻ lợn chiều, nước lòng xả thẳng xuống mương, con mương vốn đã đen lại càng đen, lềnh bềnh bọt với lông lợn, ruồi nhặng bâu kín hai bên bờ như ai vãi đỗ. Dọc bờ mương, bọn con nhà đồ tể đang lùa đàn lợn thả rông về chuồng, đứa cầm roi tre, đứa cầm cành cây, vừa lùa vừa quất đôm đốp vào mông lợn, lợn kêu eng éc, lũ trẻ cười ha hả.
Thằng Bần nhìn thấy chúng nó từ xa. Nó dừng lại.
Hơn ba tháng nay nó chưa đi qua đây một mình. Ngày thường đi hái thuốc thì nó theo đường bờ ruộng, vòng xa hơn mà vắng, còn hễ có việc phải qua Mương Đen thì bao giờ cũng có thằng Cò lẽo đẽo bên cạnh, mà có thằng Cò thì thằng Hợi chỉ dám đứng từ xa mà lườm, cái bả vai phải xệ xuống từ bữa ăn nửa hòn gạch vẫn còn nhắc nó nhớ rằng thằng Cò không biết sợ là gì. Hôm nay thằng Cò đi chợ bên kia sông từ lúc tờ mờ sáng. Hôm nay nó chọn đường tắt vì nó muốn về sớm.
Người ta bảo chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng. Cái ngõ Mương Đen này là chuồng của bọn con nhà đồ tể.
Nó định quay lại. Nhưng thằng Hợi đã nhìn thấy nó.
"Ơ kìa." Thằng Hợi đứng thẳng người lên, giắt cái roi tre vào cạp quần, nhếch mép. "Thằng đào mả."
Năm đứa bỏ mặc đàn lợn, kéo nhau đi tới, dàn thành một vòng vây quanh thằng Bần, cái vòng vây mà nó đã thấy nhiều lần đến nỗi nhắm mắt lại cũng biết đứa nào sẽ đứng vào chỗ nào. Thằng Hợi đã mười hai tuổi, cao hơn nó cả một cái đầu, hai cánh tay đỏ au vì quanh năm phụ bố dội nước sôi ở lò mổ, còn bên vai phải thì vẫn xệ xuống, cái tay bên ấy chẳng bao giờ giơ lên quá đầu được nữa.
Thằng Bần nhớ lời ông lang dạy. Có người lớn thì phải chào. Mà thằng Hợi thì lớn hơn nó.
Nó đứng thẳng lưng, ôm cái rổ trước ngực, nhìn thẳng vào mặt thằng Hợi mà thưa rành rọt từng tiếng, đúng như ông lang bắt nó tập suốt một mùa.
"Dạ, con chào anh Hợi ạ."
Thằng Hợi khựng lại.
Nó đã quen với một thằng Bần khác, cái thằng cúi gằm mặt xuống đất, khom lưng như cái móc câu, nhe răng cười hềnh hệch mà chìa ngay ra bất cứ thứ gì đang cầm trên tay. Cái thằng đứng trước mặt nó bây giờ vẫn gầy như que củi, vẫn đen nhẻm, vẫn đi chân đất, nhưng lưng thì thẳng, và đôi mắt thì không cúi xuống.
"Mày nhìn cái gì?"
"Dạ, con chào anh ạ."
"Tao hỏi mày nhìn cái gì?" Thằng Hợi bước tới một bước, dí sát mặt vào mặt nó, hơi thở phả ra mùi mỡ lợn. "Ai cho mày đứng thẳng lưng mà nhìn tao?"
"Dạ..." Thằng Bần ngập ngừng. "Thầy con dạy ạ."
Cả bọn im đi một nhịp, rồi phá ra cười.
"Thầy!" Thằng em thứ hai của thằng Hợi ôm bụng. "Thằng đào mả mà cũng có thầy!"
"Nghe nói nó chào cả con chó nhà mình đấy anh ạ." Thằng em út chen vào, cái giọng lanh lảnh. "Bà hàng nước đầu ngõ bảo thế."
"Thầy mày là lão lang keo kiệt chứ gì." Thằng Hợi cười khẩy, gõ gõ ngón tay vào trán thằng Bần. "Lão mua mày về làm chó giữ nhà. Mà đã là chó thì phải cụp đuôi, phải khom lưng, thấy người thì phải vẫy. Chó mà đứng thẳng thì là chó dại. Chó dại thì phải đánh."
Nó liếc xuống cái rổ đầy có ngọn trong tay thằng Bần.
"Rổ gì đấy?"
Thằng Bần ôm chặt cái rổ vào ngực.
Nó biết nó không nên làm thế. Nó đã sống đủ lâu ở cái làng này để biết rằng thứ gì mình càng giữ chặt thì bọn kia lại càng muốn giật. Nhưng hai cánh tay nó cứ tự siết lại, siết như siết một thứ còn quý hơn cả cái mạng của nó, bởi trong cái rổ ấy là bữa cơm ngày mai, là cái vạch mực ngày kia, là cái ổ rơm trong gian bếp, là cái tiếng thầy mà nó mới gọi được có một tháng.
Thằng Hợi nhìn hai cánh tay ấy, và nó nhe răng ra cười.
Thằng Bần chụm môi lại.
Ba tiếng ngắn. Một tiếng dài.
Tiếng sáo bật ra, mỏng, run, nhưng đúng nhịp. Cả bọn con nhà đồ tể giật mình, đứa nào đứa nấy ngó ngược ngó xuôi, ngó lên bờ tre, ngó ra đầu ngõ, cái bả vai phải của thằng Hợi giật lên một cái như có ai vừa ném gạch.
Nhưng đầu ngõ vắng tanh. Chỉ có tiếng lợn ủn ỉn, tiếng ruồi vo ve trên mặt mương, và cái bóng cây đa già đổ dài xuống mái miếu Thần Nông.
Thằng Bần huýt lần nữa. Ba ngắn, một dài.
Chẳng có ai huýt trả.
"Nó gọi thằng Cò!" Thằng em thứ hai reo lên, rồi chụm môi huýt nhại lại, huýt méo xệch như tiếng gà mái bị bóp cổ, cả bọn cười rũ rượi. "Cò ơi! Cò ơi về mà cứu nó!"
Thằng Hợi thôi cười. Nó nắm cái tay trái lại.
---
Giật cái rổ không được thì chúng nó đánh.
Thằng Bần co người lại quanh cái rổ như con tôm co quanh cái vỏ, hai tay ôm siết, lưng cong lên hứng đòn. Nắm đấm, gót chân, roi tre, cành cây, thứ gì trong tay chúng nó cũng giáng xuống. Nắm đấm trái của thằng Hợi thụi vào mạng sườn nó một cái, rồi thêm một cái đúng chỗ ấy, đau điếng, nó tưởng xương sườn mình gãy ra như que củi khô. Nó không cười. Cái khiên ấy nó đã đánh mất từ đêm ba mươi, trên cái cột hiên nhà ông Bá Hộ, và từ đấy tới giờ nó chưa tìm được thứ gì để thay vào. Nó cũng không khóc. Nó chỉ co người lại, cắn chặt răng, và ôm.
Cuối cùng thì thằng Hợi túm được tóc nó giật ngược đầu ra sau, hai thằng em mỗi đứa bẻ một cánh tay. Cái rổ tuột khỏi ngực nó.
Thằng em út nhặt cái rổ lên, ngó vào trong, rồi ngửa mặt cười, dốc ngược cả rổ xuống đất.
Lá xanh đổ tràn ra mặt ngõ. Đàn lợn đang đứng lơ ngơ dưới bờ mương ngửi thấy mùi lá tươi thì xô nhau chạy tới, ủn ỉn chen chúc, rúc mõm vào đống rau má mà ngoạm, mà nhai, mà giẫm. Thằng Bần gào lên, vùng vẫy, nhưng hai cánh tay đã bị bẻ quặt ra sau, nó chỉ vùng được cái thân gầy nhom như con cá mắc cạn. Thằng Hợi đứng nhìn một lúc, rồi đi tới, lấy chân gạt chỗ lá còn sót lại ra mép bờ, gạt từng nắm, từng nắm, xuống con mương đen.
Ngải cứu, nhọ nồi, lá lốt, mã đề, rễ cỏ tranh trắng muốt. Tất cả chìm dần xuống cái thứ nước đen kịt lềnh bềnh bọt với lông lợn, xanh lên được một thoáng rồi đen đi, như mọi thứ khác đã từng rơi xuống cái mương ấy.
Rồi thằng Hợi giẫm lên cái rổ. Rắc.
---
Thằng Bần nằm úp mặt trên nền đất.
Qua kẽ chân lũ trẻ đang đứng vây quanh, nó nhìn thấy cái miếu Thần Nông ở đầu ngõ. Dưới gốc đa, ngay ngưỡng cửa miếu, có một người đang ngồi.
Lão ăn mày què.
Lão ngồi dựa lưng vào vách miếu, cái chân lành duỗi ra, cái chân quấn giẻ co lại dưới người, cây gậy tre đặt ngang trên gối, tay cầm cái bầu rượu. Lão ngồi đấy từ lúc nào, thằng Bần không biết. Lão nhìn về phía này. Lão nhìn thấy hết.
Mắt hai người gặp nhau qua kẽ chân lũ trẻ.
Lão không nhúc nhích. Lão chỉ nâng cái bầu rượu lên, tu một ngụm, rồi đặt xuống, mắt vẫn nhìn.
Thằng Bần nhớ tới mấy người đàn bà giặt giũ ở bến ao đình hôm nào, nhớ tới cái tiếng chày đập quần áo mỗi lúc một mạnh hơn. Nó chẳng thấy lạ. Nó cũng chẳng thấy giận. Người lớn thì vẫn thế. Nó nhắm mắt lại.
"Nhìn cái gì, lão què!"
Thằng em út của thằng Hợi đã trông thấy lão. Nó cúi xuống vốc một nắm bùn bờ mương, vo tròn lại, ném thẳng về phía cửa miếu. Nắm bùn bay vèo đi, đập bẹp vào ngực lão, bắn tung toé lên cả bộ râu tóc bù xù.
Lão ăn mày không gạt đi. Lão không chửi. Lão chỉ từ từ ngẩng mặt lên, nhìn thẳng vào đứa vừa ném.
Thằng Bần mở mắt ra thì chỉ kịp thấy cái đầu râu tóc bết lọn của lão nghiêng về phía thằng em út, và hai con ngươi lão khẽ động lên một cái, như người ta búng ngón tay châm lửa vào bấc đèn. Chỉ một thoáng thôi. Lão không gầm, không quát, cũng chẳng nhích người dậy, cứ ngồi nguyên chỗ cũ, tay vẫn cầm cái bầu rượu, mà cái nhìn ấy thì ném thẳng vào mặt thằng bé như một mũi tên đã ngắm sẵn từ lâu, buông ra rồi thu lại ngay, gọn gàng như chưa từng buông.
Thằng bé ấy đang cúi xuống vốc nắm bùn thứ hai, tay mới vốc được lưng chừng thì khựng lại, rồi cứ thế đứng im như bị ai đóng đinh xuống đất. Nắm bùn trong tay nó rơi bộp xuống chân. Mặt nó trắng bệch ra, trắng tới mức mấy cái nốt tàn nhang trên sống mũi nổi lên như vừng rắc trên bánh đa, môi nó mấp máy mà chẳng ra tiếng. Rồi nó lùi lại một bước, hai bước, hai đầu gối run lên bần bật, và một vệt nước loang dần xuống ống quần.
"Anh... anh Hợi..." Nó lắp bắp, cái giọng lạc đi như đứa vừa trông thấy ma. "Lão ấy... lão ấy nhìn em..."
"Kệ lão." Thằng Hợi quay lại, gắt lên. "Lão điếc, lão say, nhìn thì làm sao."
Nhưng rồi chính thằng Hợi cũng liếc về phía cửa miếu một cái, và thằng Bần thấy cái yết hầu của nó chạy lên chạy xuống.
Đúng lúc ấy, từ phía lò mổ vọng ra tiếng lão đồ tể gào lên, hỏi bọn chó con kia chết dí ở xó nào mà để lợn chạy tràn ra cả ngõ, về ngay không tao lột da từng đứa. Tiếng gào ấy làm cả bọn giật nảy mình. Thằng Hợi buông tóc thằng Bần ra, chửi một câu, rồi quát mấy thằng em đi lùa lợn. Cả bọn cuống cuồng chạy đi, vung roi quất lợn đôm đốp, đứa nào cũng muốn về trước để khỏi thành đứa ăn roi đầu tiên. Thằng em út chạy trước nhất, vừa chạy vừa ngoái lại nhìn cái miếu, một bên ống quần ướt sũng.
Ngõ Mương Đen vắng tanh.
---
Thằng Bần bò dậy.
Nó chẳng để ý tới cái mũi đang chảy máu, cũng chẳng để ý tới cái mạng sườn bên phải cứ hít vào là nhói lên như có ai cầm que xiên chọc vào. Nó bò ra mép mương, rồi lội xuống. Nước mương ngập tới đầu gối, đặc quánh, âm ấm, bốc lên cái mùi tanh tưởi của nước lòng lợn trộn với bùn thối. Nó thò tay xuống mò. Mò được nắm nào thì ném lên bờ nắm ấy. Ngải cứu. Rau má. Một nắm lá lốt dập nát. Mấy cái rễ cỏ tranh đã ngả sang màu xám.
Nó leo lên bờ, ngồi xổm xuống bên cái đống lá ướt sũng, nhặt từng cọng ra mà xem. Cọng nào cũng nhầy nhụa, bám đầy bùn đen với lông lợn, bốc mùi thối, ngay cả cái mùi hăng hắc của ngải cứu cũng đã bị mùi mương át đi mất. Nó biết thứ này không làm thuốc được nữa. Ông lang mà ngửi thấy thì sẽ vứt ngay ra đống rác sau vườn. Nó biết thế, nhưng nó vẫn ngồi lau từng cọng một vào vạt áo, lau đi lau lại, như thể lau đủ lâu thì chúng sẽ sạch trở lại.
Cái rổ nằm bên cạnh, bẹp dí, vành rổ gãy làm đôi.
Mặt trời đã lặn sau rặng tre. Trên mặt mương, muỗi bắt đầu bay lên từng đám.
Thằng Bần ngồi nhìn đống lá, và nó không đứng dậy được.
Không phải vì đau. Cái đau thì nó quen rồi, chín năm nay nó sống chung với cái đau như sống chung với cái đói. Nó không đứng dậy được vì nó chẳng biết đứng dậy rồi thì đi đâu. Về nhà thì ông lang hỏi thuốc đâu. Thuốc thì nằm đây, nằm dưới mương, nằm trong bụng lợn. Sáng nay nửa rổ kim ngân nở bung. Chiều nay cả rổ thuốc chìm xuống mương. Một ngày mà làm hỏng hai lần. Cái đầu chậm chạp của nó lại lần từng bước. Ông lang bảo ngày nào mày hết đáng, ngày đó mày là đồ bỏ đi. Hết đáng thì cút. Cút thì về điếm. Mà ông lang đã nói từ cái đêm ba mươi, ở ngã ba đầu xóm Thượng, nhà tao mà mất một đồng kẽm, một nhúm thuốc, thì cả hai đứa cút. Không phải một. Cả hai.
Một rổ thuốc thì hơn một nhúm nhiều lắm.
Nó ôm cái rổ gãy đứng dậy, nhưng không đi về phía xóm Trung. Nó đi về phía đầu ngõ, về phía cây đa, về cái chỗ mà thằng Cò đã dặn nó từ hôm ở ao đình: có chuyện gì thì ra miếu Thần Nông mà chờ.
Lão ăn mày không còn ngồi ở ngưỡng cửa nữa, chỉ còn cái vệt bùn khô trên vách, chỗ nắm bùn của thằng em út đập vào. Thằng Bần không vào trong. Nó đi vòng ra sau miếu, chui vào giữa đám rễ đa buông xuống chằng chịt như một cái lồng, ngồi bệt xuống đất, lưng dựa vào bức vách vôi đã ngả màu rêu.
Nó chụm môi lại. Ba ngắn. Một dài.
Tiếng sáo tan vào trong tiếng ếch nhái ngoài đồng.
Nó đợi. Rồi nó huýt lần nữa. Rồi lần nữa. Tới lần thứ tư thì môi nó run quá, chẳng huýt ra tiếng, chỉ ra toàn hơi, phì phì như cái hồi tháng Chạp mới học, cái hồi thằng Cò nằm trong ổ rơm cười lăn cười bò.
Chẳng có ai huýt trả.
Thế rồi, lần đầu tiên kể từ cái sáng mùng một Tết ngồi ôm bát cơm trắng, thằng Bần khóc.
Nó khóc không ra tiếng. Nó nhét nắm tay vào miệng mà cắn, cắn như cái đêm năm tuổi nấp sau đống rơm nhìn u Hai bị đánh, hai vai rung lên từng chặp, nước mắt chảy xuống hòa vào máu mũi với bùn mương. Người nó chỗ nào cũng đau, nhưng nó không khóc vì đau. Nó khóc vì bát cơm trắng sáng mai có khi chẳng còn là của nó nữa. Vì cái ổ rơm trong gian bếp. Vì tấm bảng gỗ nứt góc với mẩu than. Vì cái tiếng thầy nó mới gọi được một tháng. Vì thằng Cò, cái thằng chẳng ai thương, sẽ phải cuốn gói theo nó mà chẳng hiểu vì sao. Nó khóc vì sợ phải về, và sợ không còn chỗ mà về.
---
"Khóc cái đéo gì."
Cái giọng ấy vang lên ngay sau lưng nó, bên kia bức vách.
Thằng Bần giật bắn người, nắm tay tuột khỏi miệng. Bức vách sau lưng nó có một chỗ lở to bằng cái nong, lấy mấy tàu lá chuối khô chèn tạm, và qua những khe lá ấy nó nghe thấy tiếng người trở mình sột soạt trên rơm.
Rồi có tiếng gỗ gõ xuống nền đất.
Cộc.
Thằng Bần nín thở.
Cộc. Cộc.
Cái âm thanh ấy nó đã nghe một lần trong đời. Cái đêm mưa cuối tháng Bảy năm ngoái, nằm co ro trong ổ rơm ở cái điếm hoang, nó đã nghe đúng cái tiếng gỗ gõ xuống mặt đường ấy, chậm rãi, đều đều, một bước nặng, một bước nhẹ, đi tới trước cửa điếm thì dừng lại rất lâu.
Tiếng gậy đi ra khỏi miếu, vòng qua gốc đa, rồi dừng lại ngay trước mặt nó.
Lão ăn mày đứng đó, một tay chống gậy, một tay cầm bầu rượu, cái bóng lù lù chắn cả khoảng trời chạng vạng. Lão cao hơn thằng Bần tưởng. Lúc nằm co ro sau bệ thờ đêm ba mươi Tết, lúc ngồi dựa vách ngoài ngưỡng cửa ban chiều, lão chỉ là một đống giẻ rách. Bây giờ đứng lên thì lão cao lừng lững, vai rộng bè, cái áo tơi rách trùm không hết, còn cái chân quấn giẻ thì co lên, lơ lửng, không chạm đất.
Lão chống gậy ngồi xuống một cái rễ đa to như bắp đùi, thở ra một hơi nặng như cái bễ lò rèn, hơi rượu nồng nặc.
"Mày khóc to quá." Lão nói. "Tao đéo ngủ được."
"Dạ..." Thằng Bần vội quệt nước mắt, cuống quýt đứng dậy, rồi nhớ lời ông lang, đứng thẳng lưng lên mà thưa. "Dạ, cháu xin lỗi ông ạ. Cháu đi ngay đây ạ."
"Ông cái con khỉ khô." Lão khịt mũi. "Tao trông già lắm à?"
Thằng Bần ngẩn ra, nhìn cái bộ râu tóc bù xù bết lại từng lọn, nhìn cái mặt đen đúa nhăn nheo như quả táo tàu phơi khô, ngửi cái mùi rượu với mùi giẻ mục đang bốc lên, rồi gật đầu, thật thà.
"Dạ... vâng ạ."
Lão ăn mày trố mắt nhìn nó, như thể không tin nổi trên đời lại có thằng ranh con thật thà tới mức ấy. Rồi lão bật ra một tràng cười khùng khục trong cổ họng, cười tới ho sặc sụa, phải đấm thùm thụp vào ngực.
"Tổ sư cái thằng thật thà." Lão lắc đầu. "Gọi chú. Tao chưa già tới mức mày phải ông."
"Dạ. Chú."
Lão tu một ngụm rượu, lấy mu bàn tay quệt ngang miệng. Dưới ánh chạng vạng, thằng Bần nhìn thấy bàn tay ấy. Đó là một bàn tay to bè, sần sùi, móng đen kịt, nhưng cái làm nó để ý lại là những vết chai. Thằng Bần biết chai tay. Chai cán cuốc thì nằm giữa lòng bàn tay. Chai đòn gánh thì nằm trên vai. Chai mai đào huyệt thì nằm ở gốc mấy ngón tay, chính nó cũng có cả một lớp như thế. Còn chai trên tay lão ăn mày lại nằm ở cái kẽ giữa ngón cái với ngón trỏ, dày cộm, cứng như sừng trâu, ở cái chỗ mà cán cuốc, cán mai, đòn gánh nào cũng không cọ tới. Từ cổ tay lên tới khuỷu thì chằng chịt những vết sẹo, sẹo dài sẹo ngắn, sẹo chéo sẹo ngang, chi chít như có ai đem dao ra tập viết chữ lên đấy.
"Đau à?" Lão hỏi.
"Dạ không ạ."
"Không đau thì khóc cái gì?"
Thằng Bần cúi xuống nhìn cái rổ gãy trong tay, nhìn nắm lá nhầy nhụa bùn mương nó vẫn ôm theo. Nó định nói không có gì, nhưng rồi chẳng hiểu vì sao, có lẽ vì trời đã tối, có lẽ vì người ngồi trước mặt nó chỉ là một lão ăn mày say mà có kể gì thì mai lão cũng quên, nó kể. Nó kể lắp bắp, lộn xộn, chỗ trước chỗ sau, kể chuyện nửa rổ kim ngân, chuyện nói dối, chuyện buổi học chữ gia, chuyện ông lang ngồi trong gian bếp mà nói câu không ai cho không ai cái gì, chuyện cả rổ thuốc chìm xuống mương.
Nó kể tới câu ngày nào mày hết đáng, ngày đó mày là đồ bỏ đi, thì lão ăn mày bật cười.
"Lão lang vẫn nói cái câu ấy à."
Lão cười, cái cười khô khốc như tiếng cành củi gãy, rồi ngửa cổ tu một hơi rượu dài.
"Lão ấy nói đúng."
Thằng Bần ngẩn ra một nhịp, rồi gật đầu.
"Dạ. Thầy cháu nói đúng ạ."
Lão ăn mày quay sang nhìn nó. Trong bóng tối lờ nhờ, thằng Bần chỉ thấy hai con mắt lão lấp lánh dưới cặp lông mày rậm như hai cái chổi xể, cái nhìn đục như nước ao, mà lại không hẳn là đục, như có một thứ gì nằm im dưới đáy.
"Hôm ở ao đình," lão nói, "thằng Cò mà không vác gạch tới thì mày chết đuối rồi."
Thằng Bần giật mình.
"Chú... chú cũng ở đấy ạ?"
Lão không đáp. Lão lắc lắc cái bầu rượu bên tai nghe xem còn bao nhiêu, rồi lại tu.
Thằng Bần nhìn lão, và cái nghĩ chậm chạp của nó bò đi được một quãng. Hôm ở ao đình lão ở đấy. Chiều nay lão ngồi ở cửa miếu. Lão nhìn thấy nó bị dìm xuống ao, nhìn thấy nó bị đánh bên bờ mương, và cả hai lần lão đều ngồi yên.
"Mày không hỏi vì sao lúc nãy tao không ra à?"
Thằng Bần ngẩng lên. Nó nghĩ một lúc, rồi hỏi lại, cái giọng thật lòng không hiểu.
"Dạ... sao chú phải ra ạ?"
Lão ăn mày im lặng.
Lão im lâu, lâu đến nỗi thằng Bần tưởng lão đã ngủ gật. Ngoài đồng, tiếng ếch nhái kêu ồm ộp mỗi lúc một dày, mấy con đom đóm đầu mùa lập lòe bay qua giữa đám rễ đa. Cái bầu rượu trong tay lão dừng lại lưng chừng, không đưa lên miệng, cũng không hạ xuống.
"Ừ." Cuối cùng lão nói, giọng trầm hẳn xuống. "Đéo ai phải ra cả. Mày nhớ lấy."
Lão đặt cái bầu rượu xuống rễ cây.
"Lão lang dạy mày không ai cho không ai cái gì. Tao dạy thêm mày một câu, không lấy tiền. Không ai ra can cho ai cả. Người ta đứng nhìn mày bị đánh cũng như người ta đứng nhìn con gà bị cắt tiết. Thằng Cò hôm ấy vác gạch tới là vì nó dở hơi. Mà dở hơi thì chẳng mấy khi được tới hai lần."
Thằng Bần cúi đầu. Nó nghĩ tới bốn hồi huýt sáo chìm nghỉm trong tiếng ếch nhái.
"Trước mày hay cười lắm cơ mà." Lão nói tiếp. "Bị đánh là nhe răng ra cười. Hôm nay không cười nữa à?"
"Dạ..." Thằng Bần lí nhí. "Dạ, cười không được nữa ạ."
"Ừ. Cái cười ấy chết rồi." Lão gật gù, cái gật gù của người đứng xem một đám ma chẳng dính dáng gì tới mình. "Chết từ đêm ba mươi, ở cái cột hiên nhà lão Bá Hộ."
Thằng Bần mở to mắt. Nhưng nó mệt quá, cái đầu chậm chạp của nó chẳng còn sức mà bò đi hỏi xem vì sao lão ăn mày lại biết cả chuyện đêm ba mươi.
"Thế giờ mày tính sao?" Lão hỏi. "Ngồi đây khóc tới sáng à?"
"Dạ... cháu không dám về ạ."
"Không dám về thì ngồi đây cho muỗi nó ăn. Sáng mai lão lang vẫn hỏi thuốc đâu. Ngày kia vẫn hỏi. Mày trốn được một đêm, đéo trốn được cả đời." Lão hất cằm về phía xóm Trung. "Về. Chửi thì đứng mà nghe. Đuổi thì đi. Khóc ở đây thì được cái gì?"
Thằng Bần đứng lặng một lúc lâu. Rồi nó cúi xuống nhặt cái rổ gãy, nhặt nốt mấy cọng ngải cứu nhầy nhụa, ôm vào ngực.
"Dạ. Cháu về ạ." Nó cúi đầu. "Cháu chào chú ạ."
Nó quay lưng đi được năm bước thì nghe sau lưng có tiếng gọi.
"Ê. Thằng ranh."
Thằng Bần quay lại.
Lão ăn mày vẫn ngồi trên cái rễ đa, trong bóng tối chỉ còn là một cái bóng đen lù lù, cái bầu rượu trên tay.
"Mày có muốn chúng nó thôi đánh mày không?"
Thằng Bần đứng sững.
Nó mở miệng ra, rồi lại ngậm vào. Chín năm nay, người ta hỏi nó có bắt được chuột không, có vớt được bèo không, có gánh nổi hai thùng nước không, có đào xong cái huyệt trước chiều không. Hồi đầu xuân, một đứa con gái đi đôi guốc mộc mới nguyên hỏi nó có muốn học không. Còn câu này thì chưa ai hỏi bao giờ. Nó chưa từng nghĩ đó là một thứ người ta có thể muốn. Bị đánh thì cũng như trời mưa, như mùa đói, như cái rét tháng Chạp, cứ đến thì chịu, chịu mãi rồi cũng qua, chứ có ai đi muốn trời thôi mưa bao giờ.
Lão ăn mày không đợi nó trả lời. Lão chống gậy đứng dậy, cộc một tiếng.
"Về đi. Nghĩ ra thì hẵng quay lại." Lão lê cái chân quấn giẻ đi vòng về phía cửa miếu, không ngoái đầu. "Nghĩ không ra thì thôi. Đừng tới đây khóc nữa, tao đéo ngủ được."
Cộc. Cộc. Cộc.
Tiếng gậy xa dần, rồi tắt sau vách miếu.
---
Thằng Bần ôm cái rổ gãy đi về phía xóm Trung.
Trời tối hẳn. Con đường làng chỉ còn là một vệt xám nhờ nhờ giữa hai hàng rào dâm bụt, đom đóm lập lòe hai bên như ai rắc than hồng. Nó đi chậm, chậm như người ta đi ra đồng lúc sáng sớm mà biết mình sẽ phải cúi lưng tới tận tối mịt. Chân nó đau, sườn nó đau, một bên mặt đã sưng vù lên, nhưng nó chẳng nghĩ tới những cái ấy. Nó nghĩ tới cái câu lão ăn mày vừa hỏi, và nó thấy cái câu ấy nằm trong ngực nó nặng trịch như một hòn gạch, cái nửa hòn gạch vồ mà hồi tháng Mười năm ngoái thằng Cò nhặt ở chân tường đình sạt lở.
Cuối xóm Trung, cái giàn phơi thuốc nhà ông lang in lên nền trời một vệt đen dài.
Trong gian giữa, ngọn đèn dầu lạc vẫn còn sáng.