#
Mùa xuân năm Mậu Tuất, ông lang mở lớp.
Cũng chẳng phải trường lớp gì to tát, chỉ là mỗi tháng sáu buổi, mấy nhà khá giả ở Lò Trấu với cả làng bên kia sông góp tiền, góp gạo lại nhờ ông dạy chữ cho con, bởi khắp một vùng mấy làng quanh đây chỉ có mình ông là biết chữ. Mà ông biết nhiều, biết tới mức có lần quan huyện về làng, đứng giữa sân đình đọc cái tờ trát mới dán mãi không thông, phải sai người xuống xóm Trung mời ông lên đọc hộ. Ông đọc xong, giảng lại từng câu cho lý trưởng nghe, rồi vị quan ấy nhìn ông một cái rất lạ, hỏi ông trước kia học ở đâu, thì ông chỉ cười bảo học lỏm thôi ạ, rồi xách hòm thuốc đi về. Người Lò Trấu kể lại chuyện ấy mãi, kể tới mức thành ra tự hào, như thể cái chữ của ông lang là cái chữ của cả làng.
Buổi học đầu tiên rơi vào một sáng đầu tháng Hai, trời còn mưa phùn lất phất, cái thứ mưa bụi bay nghiêng nghiêng không ướt áo mà lạnh tới tận xương. Thằng Bần đang gánh nước ngang qua sân thì nghe trong nhà có tiếng đọc.
Nó đặt gánh xuống.
Trong gian giữa, sáu bảy đứa trẻ ngồi xếp bằng thành hai hàng trên chiếu, trước mặt mỗi đứa một tấm bảng gỗ quét vôi với một thỏi than, đứa nào cũng mặc áo lành, chân đi guốc. Ông lang ngồi trên cái ghế tre, tay cầm quyển sách bản gỗ đã sờn gáy, đọc lên từng tiếng một, rồi cả lũ đọc theo, cái giọng trẻ con ê a kéo dài ra, lên xuống như tiếng ếch nhái ngoài đồng mùa hè.
"Thiên trời, địa đất, cử cất, tồn còn..."
"Thiên trời, địa đất, cử cất, tồn còn..."
"Tử con, tôn cháu, lục sáu, tam ba..."
"Tử con, tôn cháu, lục sáu, tam ba..."
Về sau thằng Bần mới biết quyển sách ấy gọi là Tam Thiên Tự, người xưa soạn ra cho trẻ con mới học, mỗi chữ Nho đi kèm một tiếng ta, đọc lên thành vần cho dễ thuộc, chữ thiên là trời, chữ địa là đất. Còn lúc ấy thì nó chẳng hiểu gì hết. Những âm thanh ấy với nó cũng chỉ là âm thanh, như tiếng chim, tiếng gió, tiếng nước chảy. Nhưng nó cứ đứng đấy, nép sau cái cột hiên, tay còn nguyên vết hằn đỏ của đòn gánh, quên cả hai thùng nước đang đặt giữa sân, quên cả việc mình phải nhóm bếp trước giờ Ngọ.
Nó đứng vì trong gian nhà kia có một thứ mà nó không gọi được tên.
Những đứa trẻ ngồi trong ấy biết một điều gì đó mà nó không biết. Chúng nó nhìn vào mấy cái nét ngoằn ngoèo trên trang giấy, và trong đầu chúng nó hiện ra một tiếng nói. Thằng Bần thì nhìn vào cũng chỉ thấy mấy cái nét ngoằn ngoèo. Nó bỗng thấy giữa mình với bọn ngồi trong kia có một cái gì đó xa hơn cả khoảng sân, xa hơn cả cái khoảng cách giữa Mương Đen với xóm Thượng, một cái khoảng cách mà có gánh nước cả đời cũng không lấp nổi.
---
"Này."
Thằng Bần giật bắn mình, quay phắt lại.
Một đứa con gái đứng sau lưng nó tự lúc nào, tay ôm một cái tráp gỗ nhỏ, tóc mai còn lấm tấm hạt mưa bụi, hơi thở còn hổn hển, chắc là đi học muộn.
Nó chừng bằng tuổi thằng Bần, mặc áo cánh nâu mới, quần lụa đen, tóc tết thành hai bím buộc bằng dây vải đỏ, chân đi đôi guốc mộc còn mới nguyên chưa mòn gót, gấu quần bắn đầy bùn đường. Da nó trắng, cái trắng của đứa được ở trong nhà chứ không phải dang nắng ngoài đồng, và trên hai gò má thì hồng lên vì vừa chạy một quãng xa. Mắt nó to, đen láy, nhìn thẳng vào mặt thằng Bần mà chẳng có chút gì là e dè, cái lối nhìn thẳng mà ở làng Lò Trấu chẳng đứa con gái nào dám nhìn một thằng con trai, lại càng chẳng ai thèm nhìn một thằng như nó.
"Cậu đứng đây làm gì thế?"
"Dạ... dạ không ạ." Thằng Bần cuống quýt lùi lại, giấu biến hai bàn tay đầy sẹo ra sau lưng. "Em... em đi gánh nước ạ. Em đi ngay đây ạ."
"Ơ, cậu đừng đi." Con bé bước lên một bước, ngó vào trong nhà, rồi lại ngó nó. "Cậu cũng muốn học à?"
Thằng Bần đứng chết trân.
Chưa ai từng hỏi nó câu ấy. Cả đời nó, người ta chỉ hỏi nó có bắt được chuột không, có vớt được bèo không, có gánh nổi hai thùng không, có đào được cái huyệt trước chiều không.
"Em..." Nó ấp úng. "Em không được học đâu ạ. Em không có tiền."
"Ơ thế thì đứng ngoài cửa sổ mà nghe." Con bé nói tỉnh bơ, như thể đó là chuyện hiển nhiên nhất trên đời. "Ông lang không đuổi đâu. Mà cậu đứng chỗ cột này thì bị cái cột che mất, không nhìn thấy bảng đâu. Ra cửa sổ kia kìa, chỗ ấy nhìn rõ hơn."
Nó chỉ tay về phía cái cửa sổ gỗ bên hông nhà, rồi cười.
Cái cười ấy chẳng có gì đặc biệt cả. Nó chỉ là cái cười của một đứa trẻ con nói xong một câu rồi cười, vậy thôi.
Nhưng nhiều năm sau, khi đã đi qua nửa cõi Đại Xuân, khi đã đứng giữa những chỗ mà cái thằng bé gánh nước ngày ấy không tưởng tượng nổi, Trần Minh Luân vẫn còn nhớ rõ mồn một cái mưa bụi buổi sáng hôm ấy bay nghiêng ra sao, và cái đứa con gái đi đôi guốc mộc mới nguyên ấy đã cười như thế nào.
"Cậu tên gì?" Con bé hỏi.
"Dạ... người ta gọi em là thằng Bần ạ."
"Tên gì mà xấu thế." Nó nhăn mũi. "Thôi kệ. Tớ là Ánh Dương. Nhà tớ ở bên kia sông."
Rồi nó ôm cái tráp chạy tọt vào nhà, để lại thằng Bần đứng giữa sân với hai thùng nước và một cái tên mà nó sẽ còn nhớ rất lâu.
Cả làng Lò Trấu gọi nó là thằng Bần, gọi nó là mày, là thằng ranh, thằng đần, thằng đào mả. Chỉ có một đứa con gái đi guốc mộc gọi nó là cậu.
---
Từ hôm ấy, cứ đến buổi học là thằng Bần lại có việc ở gần cửa sổ.
Hôm thì nó ra đấy phơi thuốc, hôm thì nó ngồi đấy giã thuốc, hôm chẳng có việc gì thì nó ngồi bệt xuống vá lại cái quang gánh, mà cái quang gánh ấy nó vá tới lần thứ năm rồi, vá tới mức thằng Cò phải hỏi mày định vá cả đời cái dây ấy à.
Nó không dám nhìn vào trong. Nó chỉ nghe.
Nghe ông lang đọc, nghe lũ trẻ đọc theo, rồi nó cũng mấp máy môi đọc theo trong miệng, không ra tiếng. Thiên trời, địa đất, cử cất, tồn còn. Cái tai của nó chậm, chậm như cái đầu của nó, mỗi buổi chỉ thuộc được một hai câu, trong khi lũ trẻ trong kia thuộc cả trang. Nhưng buổi sau nó lại nghe lại câu ấy, buổi sau nữa lại nghe lại, và cái gì đã vào được tai nó rồi thì không bao giờ ra nữa. Nghe mãi rồi thuộc, thuộc cả những chỗ ông lang giảng, thuộc cả những chỗ có đứa đọc sai bị ông gõ thước vào bảng cái cạch.
Có điều nó chỉ thuộc được cái tiếng, chứ không biết mặt chữ.
Cho nên buổi tối, khi cả nhà đã ngủ, nó lén bò ra sân, lấy que củi vạch xuống đất những cái nét mà nó nhớ được qua khe cửa sổ. Vạch xong thì ngồi nhìn. Nhìn mãi cũng chẳng biết mình vạch đúng hay sai, bởi có ai chấm cho nó đâu. Rồi nó xoá đi, về gian bếp nằm ngủ. Sáng hôm sau lại cầm chổi quét cái sân ấy, quét lên chính chỗ mình vừa vạch.
Thỉnh thoảng, lúc tan học, Ánh Dương đi ngang qua chỗ cửa sổ, lại dừng chân mấy nhịp. Có hôm nó chìa cái bảng gỗ của nó ra, chỉ vào một chữ, bảo chữ này là chữ nhân, là người đấy, cậu nhìn kỹ đi, nó giống cái người đang dang chân ra mà đi. Có hôm nó hỏi hôm qua ông lang giảng câu ấy cậu có nghe thấy không, tớ ngồi trong mà còn chẳng nghe rõ. Thằng Bần chỉ dạ dạ, lí nhí, mắt nhìn xuống đất, nhưng tối ấy bao giờ cái chữ Ánh Dương chỉ cho nó cũng được vạch xuống sân nhiều lần hơn những chữ khác.
---
Cái lớp học ấy chỉ có mình Ánh Dương là con gái.
Mấy đứa con trai trong lớp chẳng ưa gì chuyện ấy. Đứa to mồm nhất là thằng Quý, con trai ông trùm làng, cái thằng mà hồi tháng Bảy năm ngoái đã nhận vơ công đi đập cửa gọi cả xóm Hạ chạy lũ, được mấy nhà biếu cá rô mà ăn mãi không hết. Thằng Quý lớn hơn cả lớp hai tuổi, học thì chậm, nhưng chê bai thì nhanh.
"Con gái học chữ làm gì." Có lần nó nói to giữa lớp, lúc ông lang ra sân rít thuốc. "Có được đi thi đâu mà học. Học xong rồi cũng về nhà bế con thôi."
Ánh Dương quay lại nhìn nó, cái nhìn thẳng tưng ấy.
"Thế thì tớ học cho hơn cậu." Nó nói. "Để cậu thi mà trượt thì còn biết là thua cả con gái."
Cả lớp cười ồ lên. Thằng Quý đỏ mặt tía tai, mà ông lang thì đã quay vào, gõ thước xuống bàn, nên nó chẳng nói được gì thêm.
Nhưng thằng Quý là cái loại đứa không bao giờ quên được một lần bị cười.
Mấy hôm sau, lúc tan học, nó bắt gặp Ánh Dương đứng ở chỗ cửa sổ, đang chìa cái bảng gỗ cho thằng Bần xem. Nó đứng ở đầu hiên, chống nạnh, gọi to lên cho cả lũ đang lục tục ra về nghe thấy.
"Ơ kìa! Con gái bên kia sông sang đây học chữ, học chẳng thấy đâu, lại đứng buôn chuyện với thằng đào mả!"
Mấy đứa trẻ khác dừng lại, nhìn, rồi bắt đầu cười khúc khích.
"Nó đào mả suốt, người nó hôi mùi xác chết đấy, đứng gần mà không sợ à?" Thằng Quý nói tiếp, giọng càng lúc càng to. "Mai tao bảo mẹ tao sang bên kia sông nói với nhà mày, xem nhà mày có cho mày sang đây học nữa không."
Ánh Dương đứng sững. Cái vẻ tỉnh bơ trên mặt nó lần đầu tiên vỡ ra, hai gò má từ hồng chuyển sang đỏ bừng, rồi tái đi.
Thằng Bần hiểu ra trước cả khi con bé kịp nói gì. Nó hiểu chậm mọi thứ, nhưng cái thứ này thì nó hiểu nhanh, bởi cả đời nó đã sống bằng cái thứ này. Một đứa con gái nhà khá giả bên kia sông, mà để người ta đồn là đứng nói chuyện với thằng đào mả ở Mương Đen, thì cái tiếng ấy sẽ theo nó về tận nhà, theo nó tới tận lúc người ta tính chuyện gả chồng. Cho nó một nắm xôi mà u Hai bị đánh rách lưng. Đứng nói với nó một câu mà con gái nhà người ta mang tiếng. Cái lẽ ấy chẳng khác gì nhau.
Nó lùi lại một bước, cúi gằm mặt, nhe răng ra cười hềnh hệch như mọi khi.
"Dạ, cô bảo em xách nước rửa bảng cho cô ạ? Dạ em xách ngay đây ạ."
Ánh Dương nhìn nó, ngẩn ra một nhịp. Rồi con bé hiểu. Con bé hiểu nhanh hơn thằng Bần tưởng.
"Ừ." Nó hất cằm, giọng cứng lại, lạnh tanh. "Xách nhanh lên. Chậm như rùa."
Thằng Bần dạ một tiếng rồi chạy biến ra giếng. Sau lưng nó, thằng Quý bĩu môi, bảo thế mà tưởng, rồi cả lũ lục tục kéo nhau về, chẳng còn gì để xem nữa.
Lúc thằng Bần xách thùng nước quay lại thì sân đã vắng. Ánh Dương đứng một mình dưới hiên, ôm cái tráp gỗ vào ngực. Con bé nhìn nó, môi mím lại, rồi nói thật khẽ, khẽ như sợ gió nghe thấy.
"Tớ xin lỗi."
"Dạ... cô có làm gì đâu ạ."
"Tớ bảo cậu là thằng chậm như rùa."
"Thì em chậm thật mà." Thằng Bần gãi đầu, cười. "Cả làng bảo em đần."
Ánh Dương nhìn nó thêm một lúc, rồi cũng cười, cái cười méo xệch, không giống cái cười hôm đầu tiên dưới mưa bụi. Rồi nó cầm cái bảng gỗ của mình nhúng vào thùng nước, lau sạch lớp than, lau thật kỹ, như để cho cái thùng nước ấy có lý do mà được xách tới.
Từ hôm ấy, trước mặt người khác, Ánh Dương gọi nó là thằng kia, sai nó xách nước, sai nó mang tráp, giọng lúc nào cũng cộc lốc như một cô chủ nhỏ sai đứa ở. Còn thằng Bần thì dạ dạ vâng vâng, cúi đầu, xách, mang, chạy. Chỉ lúc sân vắng, lúc cả lũ đã về hết, con bé mới đứng lại chỗ cửa sổ mấy nhịp, chỉ cho nó một chữ, rồi đi.
Ở cái làng này, muốn làm bạn với nhau thì cũng phải giấu, như người ta giấu một thứ đồ ăn trộm.
---
Chuyện vỡ lở vào một buổi chiều cuối tháng Ba.
Hôm ấy lớp tan sớm, thằng Bần ngồi dưới cửa sổ mải mê vạch một chữ xuống nền đất bằng ngón tay, mồm thì lẩm bẩm cái âm mà nó nghe được lúc sáng, nên chẳng để ý ông lang đã đứng sau lưng từ bao giờ.
"Mày làm gì đấy?"
Nó giật thót, vội vàng lấy bàn tay xoá lia lịa cái vệt trên đất, rồi đứng bật dậy, cúi gằm mặt.
"Dạ cháu không làm gì ạ! Cháu xin lỗi ông ạ! Cháu đi giã thuốc ngay đây ạ!"
Ông lang không nói gì. Ông đẩy nó sang một bên, cúi xuống nhìn cái vệt đất chưa kịp xoá hết.
Rồi ông đứng im rất lâu.
Cái chữ ấy vạch xấu, nét run, to nhỏ lộn xộn, lại còn thiếu mất một nét ngang. Nhưng nó đúng.
"Mày nghe lỏm được bao lâu rồi?"
"Dạ..." Thằng Bần nuốt nước bọt, hai chân run lên. "Dạ từ buổi đầu ạ. Cháu xin lỗi ông, cháu không cố ý, tại cháu ngồi đấy làm việc nên nghe thấy thôi ạ, cháu sẽ không ngồi đấy nữa..."
"Vào nhà."
"Dạ?"
"Tao bảo vào nhà."
---
Trong gian giữa, ông lang lôi ra một tấm bảng gỗ cũ đã nứt mất một góc, quăng xuống chiếu, rồi ném theo một mẩu than.
"Ngồi xuống."
Thằng Bần ngồi thụp xuống, hai tay đặt lên đùi, không dám thở mạnh. Nó nhặt mẩu than lên, theo thói quen, cầm bằng tay trái.
Cái thước tre gõ xuống mu bàn tay nó đánh chát một cái.
"Tay phải." Ông lang nói. "Chữ viết nét từ trái sang phải, từ trên xuống dưới. Cầm tay trái thì tay mày quệt lên nét vừa viết, nhoè hết. Đổi tay."
Thằng Bần xoa xoa mu bàn tay, đổi mẩu than sang tay phải. Cái tay phải của nó cầm than cứng đờ như cầm khúc củi, run run, lóng ngóng, như tay của đứa vừa khỏi ốm.
Ông lang cầm que thước chấm vào mẩu than của mình, rồi vạch lên tấm bảng một chữ. Ông vạch chậm, từng nét một, nét nào ra nét nấy, và thằng bé ngồi nhìn cái bàn tay gân guốc ấy đưa đi đưa lại mà quên cả chớp mắt. Chữ vạch xong gồm nhiều nét, phần trên xòe ra như hai cái sừng, phần dưới chằng chịt, trông vừa cân đối vừa nặng nề, như một người đang gánh trên vai một cái gì rất nặng mà lưng vẫn thẳng.
**義**
"Chữ này đọc là nghĩa." Ông gõ que thước xuống chiếu. "Đọc theo tao. Nghĩa."
"Dạ. Nghĩa."
"Nghĩa trong hai chữ lễ nghĩa. Nghĩa trong hai chữ nhân nghĩa."
Thằng Bần ngước lên, ngơ ngác.
"Thưa ông, sao ông không dạy cháu chữ nào... dễ hơn ạ? Cháu thấy mấy bạn trong lớp học chữ nhân có hai nét thôi."
"Bởi vì mấy đứa ấy nhà nó có cha có mẹ dạy lễ nghĩa rồi." Ông lang đặt que thước ngang trên đùi. "Còn mày thì không có ai dạy. Mày lớn lên ở cái ngõ Mương Đen, ăn cơm thừa canh cặn, bạ đâu nằm đấy. Mày biết bắt cua, biết soi nhái, biết đào huyệt, biết chui lỗ chó chui, biết cả trị chó nhà người ta mà đi ăn trộm. Nhưng mày không biết làm người."
"Dạ..."
"Học chữ mà không học lễ nghĩa thì chỉ thành thằng lưu manh biết chữ, mà lưu manh biết chữ thì hại đời gấp mười lần lưu manh mù chữ." Ông chỉ que thước vào mặt bảng. "Thiên hạ này chẳng thiếu những thằng đọc thông sách thánh hiền mà lòng dạ còn đen hơn cái nồi cám. Cho nên chữ đầu tiên tao dạy mày là chữ này. Học được chữ này rồi thì mai kia học chữ khác mới có chỗ mà đặt vào."
Thằng bé nhìn cái chữ trên bảng, nhìn mãi, rồi rụt rè hỏi.
"Thưa ông, thế nghĩa là gì ạ?"
Ông lang im lặng một lát.
"Nghĩa là cái mày phải làm, dù chẳng ai bắt mày làm, và dù làm rồi cũng chẳng được gì."
Ông lấy que thước gõ nhẹ vào bả vai thằng bé, đúng cái chỗ vệt roi thứ ba đã lên da non, cái chỗ đêm ba mươi sợi thừng gai siết vào.
"Như đêm ba mươi ấy."
Thằng Bần ngẩn người. Nó không hiểu sao ông lang lại biết chuyện đêm ba mươi nó nhận tội thay thằng Cò, bởi lúc ấy ông còn chưa bước qua cổng nhà ông Bá Hộ. Nhưng cái đầu chậm chạp của nó mới kịp nghĩ tới đấy thì ông lang đã gõ thước xuống bảng, bảo viết lại mười lần, viết sai một nét thì viết lại từ đầu, thế là nó cúi xuống viết, quên luôn cái điều vừa định hỏi.
Nó viết tới lần thứ ba mươi mới được một chữ không sai nét nào. Cái tay phải run tới mức mẩu than gãy làm ba, nét chữ xiên xẹo như con giun bò. Ông lang ngồi xem, rít hết hai điếu thuốc lào, chẳng khen, chẳng chê, cũng chẳng bảo thôi.
---
Tối hôm ấy, lúc rửa cối, thằng Bần hỏi thêm một câu, cái câu nó nghĩ suốt từ buổi đầu nghe lỏm.
"Thưa ông, sao mấy bạn đọc thiên lại đọc cả trời ạ? Thiên với trời là hai chữ hay một chữ ạ?"
Ông lang đang ngồi rít thuốc ngoài hiên, nhả ra một luồng khói rồi mới đáp.
"Thiên là chữ Nho. Trời là tiếng ta." Ông gõ nõ điếu vào cột. "Chữ Nho là chữ của sách thánh hiền, chữ của quan, của khoa cử. Còn tiếng ta thì là tiếng mày nói hằng ngày, tiếng mẹ ru con, tiếng người ta chửi nhau ngoài chợ. Người xưa thấy tiếng ta không có chữ mà viết, mới mượn nét chữ Nho mà ghép lại, chỗ lấy âm, chỗ lấy nghĩa, thành ra một thứ chữ riêng để viết cái tiếng của mình, gọi là chữ Nôm."
"Thế sao ông không dạy chữ Nôm ạ? Cháu nói tiếng ta mà."
"Vì bọn làm quan chê chữ Nôm là nôm na, là chữ của đàn bà với dân quê, thi cử không dùng." Ông lang cười khẩy một tiếng trong cổ họng, cái cười hiếm hoi mà thằng Bần chẳng biết là vui hay buồn. "Thế mà ca dao, truyện thơ, lời ru, cái gì người mình thương người mình nhớ thì lại chép bằng chữ Nôm cả. Mày cứ học chữ Nho trước đi. Chữ Nôm để sau, bao giờ mày có cái gì đáng nói thì hẵng học."
Thằng Bần chẳng hiểu cái câu có cái gì đáng nói ấy nghĩa là gì. Nhưng nó nhớ.
---
Từ hôm ấy, mỗi ngày một chữ.
Nhưng ông lang không chỉ dạy chữ.
Sáng ra thằng Bần bưng mâm cơm lên, ông gõ đũa vào mâm.
"Bưng bằng hai tay. Cơm là thứ mày làm ra mới có, không phải thứ mày bới dưới đất lên."
Nó vội đổi tay, lí nhí dạ.
Trưa có người tới cắt thuốc, nó đứng nép ở góc nhà nhìn, ông ngoái ra.
"Có người lớn vào nhà thì phải chào. Chào rồi rót nước. Rót nước thì rót bảy phần, đừng có đổ đầy tràn ra như cho lợn ăn."
"Dạ."
Tối nó hỏi một câu mà quên không thưa, ông đặt quyển sách xuống.
"Hỏi người trên thì mở đầu bằng chữ thưa, đáp thì đáp bằng chữ dạ, chưa hiểu thì nói kính xin ông nói lại. Mày nhớ lấy. Cái miệng không mất tiền mua, mà lắm khi nó cứu được cái mạng."
Cái lễ thì thằng Bần học nhanh hơn cái chữ. Nó vốn đã quen cúi đầu từ bé, quen khúm núm, quen vâng dạ với mụ Tú, với lão đồ tể, với ông trùm làng. Nhưng cái vâng dạ ngày trước là vâng dạ của một con chó hoang sợ bị đá, còn cái vâng dạ bây giờ thì ông lang bắt nó phải đứng thẳng lưng mà thưa, nhìn thẳng vào mặt người ta mà dạ, không được cúi gằm xuống đất.
"Lễ không phải là sợ." Có lần ông bảo thế, trong lúc ngồi thái thuốc. "Thằng nào cúi đầu vì sợ thì đấy là hèn. Lễ là mình biết mình đứng ở đâu, người ta đứng ở đâu, rồi ăn ở cho phải phép. Hiểu chưa?"
"Dạ... cháu chưa hiểu lắm ạ."
"Chưa hiểu thì cứ làm đi đã. Làm mãi rồi khắc hiểu."
Và thằng bé cứ thế mà làm. Nó vâng, nó dạ, nó thưa, nó bưng bằng hai tay, nó chào từ ngoài ngõ chào vào. Chỉ trong vòng một mùa, cái thằng ranh ngõ Mương Đen ngày nào nhe răng cười hềnh hệch với tất cả mọi người đã thành ra một đứa lễ phép nhất làng, lễ phép tới mức mấy bà đi chợ về ngang qua thấy nó chào cũng phải quay lại nhìn thêm một cái, rồi bảo nhau không biết ông lang nhặt được thằng bé này ở đâu mà ngoan thế. Người ta khen thì khen vậy, chứ sau lưng vẫn gọi nó là thằng đào mả.
Chỉ có thằng Cò là bĩu môi.
"Mày cúi lắm thế thì gãy lưng." Nó bảo. "Tao thấy mày chào cả con chó nhà lão đồ tể đấy."
"Thì con chó ấy nó cũng già hơn tao mà."
Thằng Cò lắc đầu quầy quậy, bỏ đi.
---
Ông lang cho cả hai đứa ngồi cuối lớp, không mất tiền, nhưng có điều kiện. Học thì phải thuộc. Buổi nào không thuộc bài thì tối ấy không được gạch vạch nào trong sổ nợ, dù có làm đủ việc cũng thế.
Thằng Cò học được đúng ba buổi.
Buổi thứ nhất nó thuộc cả trang trước tất cả mọi đứa trong lớp, đọc làu làu, ông lang hỏi đâu trả lời đấy, tới mức thằng Quý con ông trùm ngồi bên cạnh cứ phải liếc sang mà nhìn. Buổi thứ hai nó chán, ngồi ngáp rồi vẽ con gà lên bảng. Buổi thứ ba nó viết sai cái chữ đã học hôm trước, bị ông lang gõ thước vào tay một cái, thế là nó vứt bảng xuống chiếu, đứng dậy đi thẳng ra sân, không ngoái lại.
"Học cái này làm cái quái gì." Tối ấy nó nằm trong gian bếp, gác chân lên vách, nói vọng sang. "Biết chữ thì có ra được đồng nào không? Ông lang biết chữ đầy mình mà vẫn ở cái xó này đấy thôi."
"Thì..." Thằng Bần đang lấy ngón tay vạch chữ nghĩa lên nền đất cạnh chỗ nằm, ngập ngừng. "Thì biết chữ thì đọc được đơn thuốc. Đọc được đơn thuốc thì cứu được người."
"Cứu người thì ai trả tiền cho mày?"
Thằng Bần không đáp được.
Nó nghĩ tới cái nấm mả bé xíu trên Dốc Cửa Mả, nghĩ tới nắm cơm trắng gói lá chuối nó đặt trên đầu mả, nghĩ tới cái giọng khàn đặc của chị Mận bảo chị không có gì trả ông ấy. Cái câu của thằng Cò đúng quá, đúng tới mức nó chẳng tìm được chữ nào mà cãi, kể cả cái chữ nghĩa nó vừa học. Người không có gì trả thì không dám đi chữa bệnh. Người biết chữa bệnh thì không chữa không cho ai. Cứ thế mà quay vòng, như con trâu kéo cối xay, quay mãi mà chẳng đi được tới đâu.
Nó nằm im một lúc lâu, rồi lại đưa ngón tay vạch tiếp cái chữ đang vạch dở, vạch trong bóng tối, chẳng nhìn thấy gì cả, chỉ có ngón tay miết trên nền đất mát lạnh. Vạch bằng tay phải, như ông lang dạy, dù cái tay trái cứ ngứa ngáy muốn giành lấy.
"Tao cứ học thôi." Cuối cùng nó lẩm bẩm. "Không mất gì mà."
Thằng Cò không đáp. Nó đã quay mặt vào vách, và chẳng bao lâu sau thì tiếng thở đều đều.
Ngoài sân, trăng tháng Ba lên tới đỉnh giàn phơi thuốc. Ở gian giữa, ông lang vẫn chưa ngủ. Tiếng điếu cày sòng sọc từng hồi vọng xuống, rồi thôi, rồi lại sòng sọc, cho tới tận canh ba.