Chương 6: Bát Cơm Trắng

# Nhà ông lang nằm cuối xóm Trung, một nếp nhà ba gian lợp lá cọ đã mục mất một góc, vách đất trộn rơm, sân đất nện, trước sân có cái giàn phơi thuốc bằng tre cao ngang đầu người, trên xếp đầy những nong nia đựng rễ cây, vỏ cây, lá khô đủ loại. Cái mùi thuốc bắc ngai ngái ấy bốc ra tới tận đầu ngõ, năm này qua năm khác đã ngấm cả vào đất, vào vách, vào từng cái cột gỗ trong nhà, tới mức người làng đi ngang qua chỉ cần hít một hơi là biết mình đang đứng trước cửa nhà ai. Sáng mùng một Tết năm Mậu Tuất, thằng Bần dậy từ lúc gà chưa gáy. Chẳng ai gọi nó cả, chỉ là nó nằm trên ổ rơm trong gian bếp mà không ngủ tiếp được. Cả đời nó quen nằm co quắp trong cái điếm dột dưới chân Dốc Cửa Mả, nghe gió lùa qua vách, nghe mưa nhỏ tong tỏng xuống nền đất, giờ tự dưng có chăn, có mái che kín gió, thành ra người nó cứ nôn nao như đang nằm nhờ chỗ của ai đó, và sợ người ta về đuổi đi. Nó bò dậy, mò ra sân. Cái lưng vừa cử động đã rát như có ai cầm que cời than chà lên ba vệt roi, rát tới mức nó phải đứng khom khom mất một lúc mới thẳng người lên được. Rồi nó cầm cái chổi tre quét sân, quét từ đầu này sang đầu kia, quét đi quét lại ba lượt cái sân vốn đã sạch, quét cả những mảnh xác pháo đỏ gió thổi từ xóm Thượng sang đêm qua. Quét xong nó ra giếng gánh nước, mỗi lần đòn gánh đè lên vai là mấy vệt roi trên lưng lại toác ra, rịn máu thấm qua vạt bao tải, mà nó vẫn gánh cho đầy cả hai cái chum sành trước khi trời sáng. Tới lúc ông lang mở cửa bước ra thì nó đang quỳ trước bếp thổi phù phù, mặt mũi lem nhem tro, còn thằng Cò thì vẫn cuộn tròn trong góc bếp ngáy khò khò. Ông lang nhìn hai cái chum đầy ắp, nhìn cái sân quét sạch bong, rồi nhìn cái lưng áo bao tải lấm tấm máu của thằng bé đang quỳ trước bếp. "Ai bảo mày gánh nước?" "Dạ ông bảo ạ." "Tao bảo canh tư. Giờ mới có canh ba." "Dạ..." Thằng Bần gãi đầu, cười hì hì. "Cháu dậy sớm quen rồi ạ. Nằm mãi không ngủ được." "Lưng mày toác ra rồi kia kìa." Ông nói, giọng vẫn khàn khàn như cũ. "Toác ra thì lâu lành. Lâu lành thì mày làm được ít việc. Làm được ít việc thì mày trả nợ chậm. Mày tính ra chưa?" Thằng Bần ngẩn người ra, rồi cúi gằm mặt xuống. Nó chưa tính ra. Nó chỉ nghĩ làm được nhiều thì tốt. Ông lang hừ một tiếng, không nói thêm, rồi đi ra giàn phơi thuốc lật trở mấy cái nong. --- Bữa sáng hôm ấy ông bảo nó dọn cơm. Nhà ông lang ăn Tết chẳng có gì. Không bánh chưng, không thịt mỡ, không mâm cỗ, trên ban thờ gian giữa chỉ có một đĩa hoa quả với ba nén hương, cũng chẳng biết ông thờ ai. Thằng Bần bê cái nồi đất từ bếp ra, đặt xuống chiếu, mở vung. Rồi nó đứng chôn chân ngay giữa gian nhà. Cơm trắng. Không phải cơm độn khoai, không phải cháo loãng nấu với trấu, không phải cái thứ cơm nguội lên men chua mà ông trùm làng vẫn vứt cho nó cuối ngày. Cơm trắng thật, hạt căng, còn bốc hơi nghi ngút, cái mùi thơm dịu dịu bay lên xộc thẳng vào mũi nó, cái mùi mà đêm qua nó mới ngửi thấy trong kho nhà ông Bá Hộ, cái mùi mà ba năm trước nó ngửi thấy trong nắm xôi của u Hai. "Đứng đực ra đấy làm gì? Xới đi." Nó lóng ngóng xới một bát đưa cho ông lang, rồi một bát cho thằng Cò vừa mò dậy, mắt còn nhắm mắt mở, rồi tới bát của mình. Bên cạnh nồi cơm chỉ có một đĩa muối vừng với một bát canh rau cải nấu suông, nhưng thằng Bần thì chẳng nhìn thấy gì khác ngoài cái bát trong tay. Nó bưng bát cơm bằng cả hai tay, ngồi thụp xuống góc chiếu, và trong một lúc lâu nó không ăn, chỉ ngồi nhìn. Rồi nó và một miếng. Cơm mềm, ngọt, tan ra trong miệng, không có cái vị chua của cơm thiu, không có cái sạn của trấu, không có cái đắng the the của khoai hà. Nó nhai thật chậm, chậm như sợ nhai nhanh thì miếng cơm hết mất. Mắt thằng bé bỗng nhòe đi, và trước khi kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra thì nước mắt đã chảy xuống hai gò má, rơi lộp bộp vào bát cơm trong tay. Nó vội cúi gằm mặt xuống, cố và cơm thật nhanh để giấu, nhưng càng và thì càng nghẹn, càng nghẹn thì nước mắt càng chảy, tới mức cuối cùng nó phải bỏ đũa xuống, ôm cái bát vào ngực mà ngồi run lên từng chặp. Thằng Cò thôi nhai, quay sang nhìn nó, rồi cũng cúi xuống bát của mình không nói gì. Ông lang ngồi ở đầu chiếu, chậm rãi và từng miếng, mắt nhìn ra sân. Mãi một lúc lâu sau ông mới lên tiếng, cái giọng khàn khàn ấy chẳng có chút gì gọi là dỗ dành. "Ăn đi. Khóc thì cơm nguội." --- Tối mùng một, ông lang gọi hai đứa ra gian giữa. Ông ngồi xếp bằng bên ngọn đèn dầu lạc, trước mặt để một quyển sổ đóng bằng giấy bản đã ngả vàng, một cái nghiên mực với một cây bút lông đã toè ngọn. Ông lật tới một trang trắng, chấm bút vào nghiên, rồi vạch xuống giấy từng vạch ngắn, vạch dọc, đều tăm tắp như răng lược, vạch hết dòng này sang dòng khác, vạch kín gần nửa trang giấy mới dừng tay. "Đây là nợ của hai đứa bay." Ông gõ đầu bút vào trang giấy. "Tiền chuộc, tính theo giá gạo chợ huyện. Thêm hai vạch tiền thuốc bôi lưng. Mỗi ngày làm đủ việc thì tao gạch đi một vạch. Ngày nào lười, ngày nào trốn, thì không gạch. Ngày nào làm hỏng việc thì tao vạch thêm." Thằng Bần nhìn trang giấy chi chít những vạch mực đen. Nó không biết chữ, nhưng nó biết đếm. Hồi đi bán nhái cho mụ Tú nó đã tự học đếm, đếm bằng ngón tay, rồi đếm bằng mấy hòn sỏi, đếm tới mức mụ Tú ăn chặn củ khoai nào nó cũng biết. Nó bắt đầu đếm từng vạch trên trang giấy, mấp máy môi, ngón tay chỉ chỉ, đếm tới dòng thứ ba thì rối, lại đếm lại từ đầu. Thằng Cò thì chẳng cần đếm. Nó liếc một cái là biết. "Chừng này thì làm tới bao giờ?" Nó hỏi, giọng cộc lốc. "Làm chăm thì vài năm." Ông lang đáp, chẳng buồn ngẩng lên. "Lười thì tới lúc râu mọc." "Mấy mẩu bạc vụn mà bắt làm vài năm." "Mấy mẩu bạc vụn ấy là hai bao gạo. Hai bao gạo ấy là hai cái mạng của hai đứa bay đêm qua." Ông lang gác cây bút lên nghiên, lúc ấy mới ngẩng lên nhìn thằng Cò. "Mày thấy mạng mày rẻ hơn thế thì mày cứ đi. Phần của mày thằng kia nó làm." Thằng Cò mím chặt môi, không cãi nữa. Tối hôm ấy thằng Bần nằm trong gian bếp mà không ngủ được. Nó cứ nhắm mắt lại là thấy trang giấy chi chít vạch mực ấy hiện ra trong bóng tối, và nó nằm đếm, đếm mãi, đếm tới lúc ngủ thiếp đi vẫn chưa đếm xong. Nhưng lạ thay, nó chẳng thấy sợ. Nợ thì có chừng có mực, có vạch có số, làm đủ thì hết. Nó chỉ sợ những thứ người ta cho không mà chẳng bao giờ nói ra mình đang nợ bao nhiêu. --- Việc ở nhà ông lang không nặng, nhưng nhiều và không bao giờ hết. Sáng quét sân, gánh nước, nhóm bếp, nấu cơm. Trưa lật thuốc trên giàn phơi, cái nào khô thì gom vào chum, cái nào còn ẩm thì trải ra, mà trải cũng phải đúng cách, rễ ra rễ, lá ra lá, vỏ ra vỏ, không được lẫn. Chiều lên đồi hái thuốc theo cái danh sách ông đọc miệng cho nghe. Tối rửa cối, rửa chày, quét gian thuốc, rồi mới được đi ngủ. Ngày nào xong đủ việc thì tối ấy ông lang giở quyển sổ ra, gạch đi một vạch, gạch xong thì gấp sổ lại, chẳng khen chẳng chê. Thằng Bần làm không than lấy nửa lời. Nó vốn quen làm nhiều hơn thế mà chỉ được nửa bát cơm nguội, cho nên ở đây với nó là sướng, sướng tới mức có hôm đang gánh nước nó lại cười một mình. Mấy vệt roi trên lưng nó cũng lành dần. Ngày hai lần thằng Cò lấy cái lọ cao đen sì ra bôi cho nó, bôi thì bôi, mồm thì vẫn làu bàu rằng cái lão keo kiệt ấy tính cả tiền thuốc vào sổ, bôi cho mày mỗi lần là mất một miếng cơm của mày đấy, nhưng ngón tay nó thì bao giờ cũng quệt nhẹ như sợ chạm mạnh vào vết thương. Có điều, thằng Bần học cái gì cũng chậm. Lần đầu ông lang dẫn nó lên đồi, ông đi trước, chống cây gậy trúc, thỉnh thoảng lại dừng, chỉ vào một bụi cỏ rồi hỏi cộc lốc cái này là gì. Nó bảo cháu không biết ạ. Ông bảo lá bòng bong, giã ra đắp vết thương cho cầm máu, nhớ lấy. Nó dạ nhớ rồi ạ. Đi thêm một quãng, ông chỉ vào đúng loại lá ấy, hỏi lại, thì nó lại ngẩn ra, gãi đầu, bảo cháu quên mất rồi ạ. Tới lần thứ mười ông hỏi, nó vẫn nhầm lá bòng bong với lá mơ, nhầm cỏ mực với cỏ nhọ nồi, tên nọ xọ sang tên kia, rối như canh hẹ. Thằng Cò đi theo được đúng một buổi đã thuộc làu hai chục thứ, lại còn đọc vanh vách thứ nào chữa bệnh gì, đọc xong thì ngáp dài, bảo chán, rồi lỉnh đi đâu mất. Nhưng thằng Bần có một cái lối nhớ riêng. Nó không nhớ được tên, nhưng nó nhớ mùi, nhớ chỗ mọc, nhớ hình cái lá khi bị gió lật ngược lên. Cứ đưa cho nó một cái lá là nó đưa lên mũi ngửi, rồi bảo lá này hay mọc chỗ đất ẩm gần bờ mương, lá kia thì thích leo hàng rào hướng đông, mà mấy chỗ ấy thì nó thuộc như lòng bàn tay, bởi nó đã bò khắp mấy quả đồi này từ hồi lên bốn để bắt dế, bắt cào cào, đào củ mài. Có một buổi chiều cuối tháng Giêng, ông lang đọc tên một loại rễ rồi bảo tìm thử. Thằng Bần không biết cái tên ấy là cây gì, nó bảo thế, nhưng khi ông tả cái rễ ấy màu gì, mùi gì, thì nó chỉ ngó quanh một lượt rồi chạy thẳng tới một gốc cây mục bên bờ suối, bới lên đúng thứ ông cần. Ông lang cầm cái rễ, xoay xoay trong tay. "Sao mày biết chỗ này có?" "Dạ tại chỗ này đất mềm mà lại có bóng râm buổi chiều ạ." Thằng Bần đáp, thở hổn hển. "Cây nào mọc rễ củ thì hay thích chỗ như thế. Với lại lúc nãy cháu thấy có mấy con mối bò ra, mà mối thì hay làm tổ chỗ rễ cây mục, nên chắc dưới này phải có rễ to." Ông lang im lặng. Ông nhìn cái rễ trong tay mình hồi lâu, rồi nhìn thằng bé, rồi lại nhìn cái rễ. "Tên nó là gì?" Ông hỏi. Thằng Bần há miệng, rồi ngậm lại, rồi gãi đầu. "Dạ... cháu quên rồi ạ." Ông lang hừ một tiếng trong cổ họng, ném cái rễ vào giỏ. "Đần." Ông nói. Rồi ông quay lưng đi trước, và trên đường về hôm ấy ông đi chậm hơn mọi khi, thỉnh thoảng lại liếc sang cái thằng bé đang lon ton chạy trước mặt, cái thằng mà cả làng Lò Trấu đều gọi là thằng đần. --- Thằng Cò làm được ba ngày thì bắt đầu càu nhàu, làm được bảy ngày thì bắt đầu trốn. Ban đầu là trốn nửa buổi, sau là trốn cả ngày, cứ hễ ông lang quay lưng là nó lỉnh ra ngõ, chiều tối mới mò về, trong túi lúc thì có nắm kẹo bột, lúc thì có mấy đồng kẽm, có hôm thì mặt mũi lại sưng vù, môi lại toác, mà hỏi ở đâu ra thì nó chỉ nhe cái răng khểnh ra cười. Những ngày ấy, ông lang không gạch vạch nào trong sổ cho nó. Ông cũng chẳng mắng, chẳng hỏi, chỉ lặng lẽ giở sổ ra, nhìn một lúc, rồi gấp lại. Có một đêm, thằng Bần thức giấc vì khát, mò lên gian giữa uống nước thì thấy ông lang ngồi một mình bên ngọn đèn dầu, trước mặt là cái ống tre đựng tiền, ông dốc hết ra chiếu mà đếm, đếm từng đồng một, đếm hai lượt. Đếm xong ông ngẩng lên, nhìn về phía gian bếp, nơi thằng Cò đang ngủ, nhìn lâu lắm. Rồi ông bỏ tiền vào ống, nút lại, thổi tắt đèn. Thằng Bần nín thở lùi về ổ rơm, nằm im mà tim đập thình thịch. Nó biết ông đếm để làm gì. Nó cũng biết ông chẳng thiếu đồng nào, bởi thằng Cò có ăn cắp thì cũng ăn cắp ngoài chợ, chưa bao giờ đụng vào một cọng thuốc trong nhà này. Nhưng nó nhớ cái câu ông nói ở ngã ba đầu xóm Thượng đêm ba mươi, nhà tao mà mất một đồng kẽm thì cả hai đứa cút, không phải một, cả hai. Và từ đêm ấy, mỗi lần thằng Cò lỉnh ra ngõ, thằng Bần lại đứng nhìn theo mãi, cái nhìn của đứa đang nín thở chờ một cái gì đó đổ xuống. "Mày ngu thật đấy." Một tối, thằng Cò nằm gác chân lên bụng nó trong gian bếp, thì thào. "Ông ấy chuộc mình bằng mấy mẩu bạc, rồi bắt mình làm quần quật cả ngày, làm tới lúc râu mọc. Tao tính rồi, ra chợ tao kiếm một ngày bằng mày làm ở đây năm ngày." "Nhưng ở đây có cơm trắng." "Cơm trắng thì cũng chỉ là cơm thôi." Thằng Bần không cãi. Nó nghĩ thằng Cò nói đúng, cơm trắng thì cũng chỉ là cơm, nhưng nó vẫn thấy sung sướng mỗi lần mở vung nồi, và nó không biết giải thích thế nào cho thằng bạn hiểu rằng cái sung sướng ấy không nằm ở hạt cơm, mà nằm ở chỗ bát cơm ấy là của nó, do nó làm ra, chẳng ai phải bị lôi ra giữa sân vì nó cả. Nó không biết nói thế nào, nên thôi nó im. --- Gian giữa nhà ông lang là gian thuốc, ba mặt tường kê kín những cái tủ gỗ nhiều ngăn, mỗi ngăn dán một mẩu giấy bản có chữ, mà thằng Bần thì chẳng đọc được chữ nào, chỉ nhớ mặt từng ngăn theo mùi. Trên cái xà ngang phía trên cửa ra vào có gắn một tấm gỗ nhỏ chừng bằng hai bàn tay, sơn đã tróc gần hết, trên khắc mấy chữ. Một hôm quét nhà, thằng Bần ngước lên nhìn mãi. "Thưa ông, cái tấm gỗ kia viết gì thế ạ?" Ông lang đang ngồi thái thuốc, con dao cầu đang đưa xuống thì dừng lại giữa chừng, chỉ một thoáng rất ngắn, ngắn tới mức chính thằng bé cũng không để ý. "Chữ." Ông đáp. "Dạ, nhưng chữ gì ạ?" "Chữ cũ của nhà này. Người ta để lại từ đời nào rồi, tao cũng chẳng biết." "Ơ, thế không phải nhà của ông ạ?" Dao cầu lại đưa xuống, cạch một tiếng gọn. "Quét cho xong đi. Lắm mồm." Thằng Bần dạ một tiếng rồi cúi xuống quét tiếp. Được một lúc, nó lại buột miệng hỏi, cái thói hỏi lung tung của trẻ con chưa bao giờ biết cái gì là nên hỏi, cái gì là không. "Thưa ông, sao ông không lấy vợ ạ? Nhà mình rộng mà có mỗi mình ông. Nhà bác Tư ở xóm Hạ có bảy đứa con cơ." Con dao cầu dừng lại lần nữa. Lần này thì dừng lâu hơn. "Ngày xưa tao bận." Ông nói. "Bận gì ạ?" "Bận lắm mồm như mày. Quét cho xong đi." Ông lại cúi xuống thái thuốc, và thằng Bần chẳng để ý rằng suốt buổi chiều hôm ấy ông thái chậm hơn hẳn mọi khi, cũng chẳng để ý rằng tới tối ông ngồi rít thuốc lào ngoài hiên lâu hơn mọi khi, rít hết điếu này sang điếu khác, khói thuốc trắng đục cuộn lên dưới ánh trăng rồi tan mất. Với một thằng bé chín tuổi thì trên đời có hàng vạn thứ nó không hiểu, và cái tấm gỗ trên xà nhà cũng chỉ là một trong số đó. Nhưng tối hôm ấy, lúc nằm trong gian bếp, nó lại nhớ ra một chuyện. Cái tấm gỗ ấy bám đầy bụi, tróc hết sơn, mạng nhện giăng kín góc trên, nhưng ở mặt trước, ngay chỗ mấy con chữ, thì sạch bong. Sạch như thể tháng nào cũng có người trèo lên lau. --- Rằm tháng Giêng, thằng con chị Mận ở xóm Hạ chết. Thằng bé lên hai, cái thằng mà hồi tháng Bảy chị Mận cõng trên lưng đi theo xác chồng lên Dốc Cửa Mả, cái thằng lúc ấy đã ốm. Nó ốm dai dẳng từ hồi mùa dịch, qua mùa đông thì ho, ho mãi thành sốt, sốt mãi thì người teo tóp lại như con mèo con, rồi đêm rằm tháng Giêng, trong lúc cả làng đang lên chùa lễ Thượng nguyên, nó nằm im trong lòng mẹ mà không thở nữa. Sáng hôm sau lý trưởng lại cho người sang tìm thằng Bần. Nó đứng trước mặt ông lang, hai tay xoắn vào vạt áo, chẳng biết mở lời thế nào. Ông lang nghe người của lý trưởng nói xong thì chẳng hỏi gì, chỉ bảo việc nhà xong thì đi, công đào huyệt được bao nhiêu là của mày, tao không lấy. Cái huyệt ấy nó đào xong trong nửa buổi. Huyệt của trẻ con thì chẳng cần to, chỉ dài bằng hai cánh tay nó, sâu tới đầu gối. Nó đào ngay cạnh cái mả chồng chị Mận mà hồi tháng Bảy chính tay nó lấp, cỏ trên mả ấy đã mọc xanh. Chị Mận ôm cái bó chiếu nhỏ lên dốc, một mình. Chị gầy rộc đi, gầy tới mức thằng Bần suýt không nhận ra, hai má hóp lại, hai mắt trũng sâu hoắm mà khô khốc, chẳng còn nước mắt nào mà chảy. Chị đặt cái bó chiếu xuống huyệt, đặt nhẹ như đặt con nằm xuống giường, rồi quỳ ở mép huyệt mà nhìn, nhìn mãi không thôi. Thằng Bần cầm cái mai đứng bên cạnh, không dám lấp. "Sao chị không bế em sang nhà ông lang ạ?" Nó hỏi, giọng lí nhí. Chị Mận không quay lại. Chị chỉ nói, giọng khàn đặc như có cát trong cổ. "Chị không có gì trả ông ấy." Thằng Bần đứng sững. Nó nhớ tới cái câu ông lang vẫn nói, nhà nào không có tiền thì trả bằng gạo, bằng củi, bằng công, không có gì thì ghi sổ, bao giờ có thì trả. Chị Mận có thể bế thằng bé sang. Ông lang có thể ghi sổ. Nhưng chị đã không sang, bởi chị không muốn nợ, bởi chị biết mình chẳng bao giờ trả nổi. Nó hiểu cái lẽ ấy, hiểu rõ tới mức lạnh cả sống lưng, bởi đó chính là cái luật thứ hai mà nó giữ suốt ba năm nay. Đừng nhận ơn ai. Đừng nợ ai cái gì. Cái luật ấy đã giữ cho nó sống. Và cũng chính cái luật ấy vừa giết chết một đứa trẻ lên hai. Nó lấp đất. Lấp từng xẻng một, chậm rãi, cho tới khi cái bó chiếu nhỏ khuất hẳn dưới lớp đất đỏ, rồi đắp thành một cái nấm bé xíu, bé hơn cả cái nong phơi thuốc nhà ông lang. Lấp xong, nó lần trong vạt áo lấy ra một nắm cơm trắng gói trong lá chuối. Đó là phần cơm trưa của nó, nó để dành từ sáng, định mang lên dốc ăn sau khi đào xong. Nó đặt nắm cơm lên đầu cái mả nhỏ, rồi chắp tay vái ba vái. Chị Mận quay sang nhìn nắm cơm trắng trên mả con mình, rồi nhìn thằng Bần, nhìn rất lâu. Chị không nói gì. Nó cũng không nói gì. Nó biết chị đang nghĩ gì, bởi cả xóm Hạ ai cũng biết thằng Bần bây giờ ở nhà ông lang, ngày ba bữa cơm trắng, trong khi xóm Hạ vẫn còn đang ăn củ chuối. Nó cúi đầu vái chị một cái, rồi vác mai xuống dốc. Đi được nửa đường, nó dừng lại, đứng bên bờ tre mà nôn thốc nôn tháo, nôn ra cả bữa sáng, nôn ra toàn cơm trắng. Đêm ấy, nó nằm trong gian bếp, cái bụng rỗng không, mắt mở trân trân nhìn lên mái lá cọ. Thằng Cò đi chơi đâu chưa về. Ở gian giữa, ông lang lại ngồi rít thuốc lào, tiếng điếu kêu sòng sọc từng hồi trong đêm. Cả Mương Đen năm ấy chỉ có một đứa trẻ được ăn cơm trắng ngày ba bữa, và thằng Bần biết rõ đứa ấy là nó.
Chương trước Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ