Chương 5: Người Chuộc

Chúng nó bị lôi ra sân trước, trói vào hai cái cột hiên nhà trên bằng thừng gai, trói kiểu ôm cột, hai tay quặt ra vòng lấy thân gỗ lim, mặt áp vào cột, lưng phơi ra giữa sân, rồi sợi thừng được quấn thêm một vòng qua cổ cho chặt, càng giãy thì càng siết. Cái lối trói ấy thằng Cò biết thừa, người ta chỉ dùng khi định đánh cho tới lúc nào chán tay thì thôi. Lúc ấy thằng Bần mới hiểu ra đám gia đinh kia chưa bao giờ ra đầu làng uống rượu. Chúng nó uống ngay trong gian nhà ngang, cửa đóng then cài, đèn tắt hết, uống từ chập tối mà chờ, và cái tin lão Bá Hộ cho gia đinh ra đầu làng ăn tất niên thì chính người trong nhà này đã thả ra ngoài chợ cho thằng Cò nghe được. Giờ thì chúng nó đứng thành một vòng quanh sân, kẻ cầm gậy, kẻ cầm roi mây, mặt đứa nào cũng đỏ gay vì rượu, mắt sáng lên cái thứ hào hứng của những kẻ sắp được đánh người mà không sợ ai bắt tội. Còn lão Bá Hộ thì đã ngồi vào cái ghế tựa kê sẵn giữa hiên, khoác áo bông, tay bưng chén trà nóng, thong thả thổi cho nguội, cái dáng ngồi của người sắp được xem một tích chèo hay. Thằng Bần nghiêng mặt khỏi thân cột, nhìn xuống nền sân. Cái sân gạch ấy nó biết. Ba năm trước, qua khe cổng, nó đã nhìn thấy u Hai quỳ ở đúng chỗ kia, chỗ viên gạch sứt một góc ngay trước bậc thềm, hai tay ôm thằng cháu đích tôn nhà này, lưng áo rách toạc từng vệt dưới những làn roi mây. Bây giờ trên bậc thềm, bà Bá Hộ đang đứng bế chính thằng bé ấy. Thằng bé đã lên ba, má phính, mặc áo gấm đỏ, đội mũ có đính chuông bạc, được bà nội bế ra hiên cho xem người ta bắt trộm, nó chỉ tay vào hai cái cột hiên mà cười khanh khách, cái cười trong veo của một đứa trẻ con chưa biết gì. Thằng Bần nhìn cái miệng bé xíu đang cười ấy, và nó nghĩ, cái miệng này ngày xưa đã bú sữa của u Hai. "Thằng nào cầm chìa khoá?" Không đứa nào trả lời. Lão Bá Hộ nhấp một ngụm trà, gật gù, rồi khẽ hất cằm. Một gã gia đinh bước tới, túm tóc thằng Cò giật ngược ra sau, cái nón mê đã rơi mất từ lúc ở vườn sau, để lộ ra khuôn mặt đen bóng với vết sẹo sứt trên trán mới lên da non, hồng nhợt dưới ánh đuốc. "Thằng này ạ." Gã gia đinh nói. "Con mụ Tám bánh đúc chết đói hồi tháng Ba đấy ông. Mẹ nó còn ở nhờ đất nhà ta thì nó đã lảng vảng quanh cổng rồi, con nhớ mặt. Cái loại hay chôm vặt ngoài chợ, hôm trước vừa bị thằng cháu mụ Tú đạp xuống rãnh." Thằng Cò không nói gì. Nó chỉ vặn cổ nhìn gã gia đinh, rồi nhổ toẹt một bãi nước bọt vào mặt gã. Gã gia đinh lau mặt, rồi vung tay tát nó một cái nghe bốp, tát mạnh tới mức đầu nó đập vào thân cột, khóe miệng ứa ra một dòng máu. "Vậy thì chắc là nó rồi." Lão Bá Hộ đặt chén trà xuống cái kỷ gỗ bên cạnh. Tiếng sứ chạm gỗ ấy nhỏ thôi, mà cả cái sân im phăng phắc. "Vác một bao thì còn bảo là đói. Đằng này vác hai bao, thế là tham." Lão nói, giọng vẫn khề khà. "Mà tham thì thâm, chúng mày chưa nghe người ta nói bao giờ à?" Lão ngả người ra ghế, hai bàn tay đan vào nhau đặt trên bụng. "Trộm của quan thì chặt tay, trộm của dân thì đánh ba chục roi. Tao không phải quan, nhưng tao cũng chẳng phải dân." Lão ngừng một nhịp, như để cho câu ấy thấm. "Thôi thì tao lấy đủ ba chục cái. Đánh chậm thôi, đừng để nó chết sớm, sáng mùng một còn trói ra gốc đa cho cả làng người ta xem." Gã gia đinh cuốn sợi roi mây quanh cổ tay một vòng cho chắc, rồi giơ lên. Thằng Bần nhìn thấy bóng sợi roi đổ dài trên nền gạch dưới ánh đuốc, thấy cái lưng gầy của thằng Cò đang gồng cứng lại, những đốt xương sống nhô lên như một chuỗi hạt, thấy nó nhắm nghiền mắt, và trước khi cái đầu chậm chạp của nó kịp nghĩ ra một điều gì cho ra hồn thì cái miệng đã tự mở ra. "Không phải nó!" Tiếng gào ấy vỡ ra giữa sân, to tới mức chính nó cũng giật mình. "Chìa khoá là của con! Con nhặt được ngoài ngõ! Con rủ nó đi, con bảo nó là sang xin gạo chứ có phải ăn trộm đâu, nó không biết gì cả! Nó không biết gì hết!" Cả sân quay lại nhìn. Thằng Cò mở bừng mắt, mồm há ra định chửi, nhưng gã gia đinh sau lưng đã giật sợi thừng vòng qua cổ nó một cái, thế là nó chỉ ọ ẹ được mấy tiếng nghe như tiếng vịt bị bóp cổ. Lão Bá Hộ nhướn mày, ngắm nghía cái thằng bé đen nhẻm bị trói ở cột bên kia, cái thằng mà nãy giờ lão tưởng chỉ là đứa đi theo vác đồ. "Mày biết mày vừa nói cái gì không?" "Dạ con biết ạ." Thằng Bần gật đầu lia lịa, trán đập cả vào thân cột, nước mũi chảy ròng ròng mà giọng thì rành rọt lạ thường. "Con nhận hết. Ba chục roi con chịu. Ông đánh con, ông thả nó ra." Lão Bá Hộ nhìn nó thêm một lúc nữa, rồi bật cười khà khà, cái cười của người vừa xem được một trò hay hơn mình tưởng. "Hay. Hay lắm." Lão vỗ đùi đánh đét. "Thằng ranh này có nghĩa khí đấy chứ. Ở cái làng này người lớn còn chẳng ai dám nhận tội thay ai, thế mà lại có thằng oắt con nhận tội thay bạn. Được." Lão hất cằm. "Thế thì đánh cả hai. Thằng kia hai chục, thằng này bốn chục, cho nó được cái nghĩa khí." Lão cầm chén trà lên lại. "Đánh thằng có nghĩa khí trước." --- Roi mây rít lên trong không khí, rồi quất xuống. Cái đau đến chậm hơn tiếng roi một nhịp. Thoạt tiên thằng Bần chỉ thấy một vệt lạnh buốt chạy chéo qua lưng, rồi cái lạnh ấy bùng lên thành lửa, rồi lửa ăn sâu vào thịt, sâu tới tận xương sống, khiến cả người nó giật nảy lên, sợi thừng quanh cổ siết lại một cái làm nó nghẹn thở. Nó cắn chặt môi cho khỏi bật ra tiếng. Rồi nó cười. Nó cười theo đúng cái lối nó vẫn cười suốt ba năm nay, nhe răng ra, hềnh hệch, ngây ngô, như một thằng đần chẳng biết đau là gì. Bị đánh thì cười, đấy là luật thứ ba của nó, là cái khiên nó giơ lên mỗi lần lũ con nhà đồ tể xúm vào. Đánh một thằng đần cứ nhe răng ra cười thì chẳng ai thấy sướng, chẳng mấy chốc mà chán tay. Nhưng gã gia đinh cầm roi không phải thằng Hợi. Gã là đàn ông ba mươi tuổi, đang say rượu tất niên, và cái cười của thằng Bần lọt vào mắt gã như một bãi nước bọt thứ hai trong đêm. "Mày cười à?" Gã gầm lên. "Mày cười ông à?" Roi thứ hai quất xuống mạnh gấp đôi roi đầu. Thằng Bần nghe rõ tiếng da mình toác ra. Roi thứ ba đè đúng lên vệt roi thứ hai, và lần này thì máu rỉ ra, nóng hổi, chảy dọc xuống thắt lưng. Cái khiên của nó lại vỡ, lần thứ hai trong năm ấy, và lần này nó hiểu ra một điều mà hôm ở ao đình nó chưa kịp hiểu. Cái cười chỉ làm khiên được với những đứa đánh người cho vui. Còn với những kẻ đánh người vì có quyền được đánh, thì cười hay khóc cũng thế cả. "TỔ SƯ CHÚNG MÀY!" Thằng Cò giãy lên ở cột bên kia, giãy tới mức sợi thừng quanh cổ siết lại làm mặt nó tím bầm, mà nó vẫn gào. "Nó đần! Nó cười vì nó đần! Chìa khoá tao móc! Đánh tao đây này! Thằng cha chúng mày có giỏi thì đánh tao đây này!" Trên bậc thềm, bà Bá Hộ không bế cháu vào nhà. Bà vỗ vỗ lưng thằng bé, bảo cứ cho nó xem, cho nó biết từ bé cái giống ăn trộm thì phải xử như thế nào. Thằng bé nhìn một lúc thì chán, gục đầu vào vai bà nội ngáp. Gã gia đinh cầm roi nhổ nước bọt vào lòng bàn tay, xoa xoa, rồi giơ roi lên lần thứ tư. "Đêm ba mươi mà các người làm gì om sòm thế?" --- Cái giọng ấy không to. Nó khàn, chậm, hơi rề rà, cái giọng của người vừa đi bộ một quãng xa trong gió rét mà chưa kịp lấy lại hơi. Ngoài cổng, một ông lão đứng đó, tay xách cái hòm thuốc gỗ đã tróc sơn, dưới nách kẹp cái điếu cày bằng tre lên nước bóng, khoác áo bông vá mấy mảng, râu tóc lốm đốm bạc, chân đi đôi guốc mộc dính đầy bùn khô. Ông không bước vào, chỉ đứng ngay ngoài ngưỡng cổng mà nhìn vào trong sân, mắt lướt qua hai cái cột hiên, dừng lại ở cái lưng rớm máu của thằng Bần một thoáng, rồi dời lên sợi roi mây đang giơ lơ lửng giữa trời. Gã gia đinh hạ tay xuống. "Ông lang." Lão Bá Hộ nhấc chén trà lên lại, giọng đổi hẳn, nhũn đi mấy phần. "Đêm hôm ông còn đi đâu thế này?" "Bà cụ Tứ ở xóm Hạ trở bệnh, tôi vừa châm cho mấy mũi xong thì về ngang đây." Ông lão đáp. "Nghe tiếng người om sòm nên ghé vào xem có ai đau ốm gì không." "Không có ai đau ốm cả. Chỉ có hai thằng ăn trộm." "Ừ. Tôi thấy rồi." Ông lang xóm Trung về làng Lò Trấu đã hơn mười năm. Không ai biết ông từ đâu tới. Người thì bảo ông là người mạn xuôi, nhà có tang nên bỏ quê đi, người thì bảo ông từng làm thầy đồ dạy học cho nhà quan ở tận đâu đâu, mà hỏi thẳng thì ông chỉ rít thuốc lào, nhả khói, rồi bảo già rồi nhớ đâu ra mấy chuyện ấy. Ông không vợ không con, sống một mình trong ba gian nhà lá ở cuối xóm Trung, trước sân lúc nào cũng phơi đầy những nong nia rễ cây lá cỏ. Cả vùng chỉ có ông đọc thông được giấy tờ của quan, chỉ có ông bắt mạch bốc thuốc, và mùa dịch thổ tả vừa rồi nhà nào còn giữ được người sống thì phần nhiều là nhờ mấy câu ông dặn. Người ta vẫn nói nhất sĩ nhì nông, rồi nói tiếp hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ, ý là cái chữ chỉ quý lúc no, chứ đói rồi thì chữ chẳng nấu thành cơm được. Nhưng ông lang thì khác, bởi ngoài cái chữ ông còn có cái nghề cầm mạng người trong tay. Ở cái làng này, người ta có thể không nể lý trưởng, có thể chửi ông trùm sau lưng, nhưng chẳng ai dám hỗn với ông lang, bởi nhà nào chẳng có lúc ốm đau. Ngay như nhà ông Bá Hộ, thằng cháu đích tôn mỗi lần lên cơn sốt co giật là lại phải cho người chạy sang xóm Trung gõ cửa lúc nửa đêm. Ông cũng chẳng cho không ai cái gì bao giờ. Chữa bệnh thì lấy tiền, nhà nào không có tiền thì trả bằng gạo, bằng củi, bằng công, mà nhà nào đến gạo đến củi cũng không có thì ông ghi sổ, bao giờ có thì trả. Người làng bảo ông keo, nhưng cũng chẳng ai bảo được ông lấy thừa của ai một đồng. Ông đặt cái hòm thuốc xuống đất, chậm rãi bước qua ngưỡng cổng, đi thẳng tới chỗ hai cái cột hiên mà chẳng thèm xin phép ai. Đám gia đinh dạt cả sang hai bên nhường lối. Ông cúi xuống vạch mắt thằng Cò ra xem, rồi sang vạch mắt thằng Bần, rồi đưa bàn tay gân guốc nắn nắn vào bả vai nó, chỗ sợi thừng gai đang siết, khiến nó phải nhăn mặt hít vào một hơi. Ông nhìn ba vệt roi trên lưng nó, nhìn khá lâu, mà chẳng nói gì. "Trói kiểu này mà để tới sáng thì hai đứa nó liệt tay." Ông nói, không quay đầu lại. "Mà liệt tay rồi thì chẳng làm được việc gì nữa đâu, ông Bá ạ." "Tôi cần gì chúng nó làm việc." "Ông thì không, nhưng tôi thì cần." Lão Bá Hộ ngừng thổi trà. Ông lang đứng thẳng dậy, phủi tay vào vạt áo, rồi quay sang nhìn lão bằng cái vẻ bình thản của người đang mặc cả giá một con lợn ngoài chợ. "Nhà tôi dạo này thiếu chân chạy vặt. Tôi thì già rồi, leo đồi hái thuốc không nổi nữa, thuê người lớn thì tốn, người lớn lại hay thó thuốc đem bán. Trẻ con thì được cái rẻ, lại nhanh chân, mà có thó thì cũng chẳng biết thó cái gì cho đáng tiền." Ông hất cằm về phía hai cái cột. "Hai thằng này coi bộ nhanh chân đấy. Chui được qua lỗ chó nhà ông mà ba con chó săn không sủa lấy một tiếng thì cũng phải có tài." Có tiếng khịt cười của một gã gia đinh, rồi tắt ngay. Sắc mặt lão Bá Hộ sầm xuống. "Ông định xin chúng nó?" "Không xin. Chuộc." Ông lang thò tay vào trong vạt áo bông, lôi ra một cái túi vải nhỏ, dốc ngược xuống lòng bàn tay. Mấy mẩu bạc vụn lăn ra, xỉn màu, méo mó, không nhiều, ít tới mức đếm được bằng mắt, nhưng dưới ánh đuốc thì vẫn là bạc. "Chỗ này bằng hai bao gạo của ông, tính theo giá chợ huyện hôm rằm. Mà hai bao gạo thì vẫn nằm nguyên ngoài vườn sau kia, một bao có bục thì hốt lên vẫn đủ, chưa mất hạt nào. Vậy là ông chẳng lỗ đồng nào. Còn ba roi vừa rồi thì coi như ông lấy lãi." "Ông lang này." Lão Bá Hộ cười, nhưng mắt thì không cười. "Hai thằng ranh con ăn trộm, ông bỏ mấy mẩu bạc ra chuộc, ông tưởng tôi thiếu cái chỗ tiền ấy à? Tôi không cần tiền. Tôi cần cái lệ. Làng này mà đứa nào ăn trộm của tôi xong cũng có người tới chuộc, thì từ mai tôi còn ra cái gì nữa?" "Ông cần cái lệ. Tôi hiểu." Ông lang gật gù. Rồi ông rút cái điếu cày dưới nách ra, lần trong túi áo lấy một nhúm thuốc lào, vê vê thành một viên tròn nhét vào nõ điếu, chìa về phía gã gia đinh đang cầm đuốc đứng gần nhất. "Cho tôi xin tí lửa." Gã gia đinh ngớ ra một lúc, rồi cũng cúi xuống, đưa ngọn đuốc lại gần. Ông lang ghé nõ điếu vào lửa, rít một hơi dài. Tiếng điếu kêu sòng sọc giữa cái sân im phăng phắc, nghe to như tiếng nước sôi, rồi ông ngửa cổ nhả ra một luồng khói trắng đặc, khói cuộn lên dưới ánh đuốc, khét lẹt, tan dần vào bóng tối dưới mái hiên. Cả làng Lò Trấu ai cũng biết ông nghiện thuốc lào nặng, nặng tới mức mấy bà hàng nước vẫn đem câu nhớ ai như nhớ thuốc lào, đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên ra mà trêu, bảo ông lang bỏ được thuốc lào thì gà trống cũng biết đẻ trứng. Ông đứng rít thêm một hơi nữa, thong thả như thể giữa sân nhà ông Bá Hộ lúc này chẳng có ai bị trói, chẳng có sợi roi nào đang giơ. Rồi ông nói tiếp, vẫn cái giọng rề rà chậm rãi ấy, chậm tới mức nghe như đang bàn chuyện đồng áng. "Mà cũng phải thôi. Ông vừa mới nhập về mấy xe gạo trắng từ mạn ngược, giấu trong kho sau vườn đợi giá. Cái kho ấy tới giờ này cả làng chưa ai biết, mà tự dưng hai thằng ranh con nhà nghèo lại mò được vào tận nơi. Sáng mai ông trói chúng nó ra gốc đa, cả làng kéo tới xem, thế nào người ta cũng hỏi hai thằng này ăn trộm cái gì của ông. Chúng nó là trẻ con, có hỏi thì chúng nó nói. Rồi cả làng sẽ biết trong kho nhà ông có gạo trắng." Ông ngừng một nhịp, gõ gõ cái nõ điếu vào đế guốc cho rơi tàn thuốc, rồi nói thêm, giọng vẫn đều đều. "Mà năm nay thì mất mùa. Dân xóm Hạ ăn củ chuối từ tháng Mười rồi. Sáng mùng một, người đói mà kéo nhau tới đứng đầy sân nhà ông thì cũng phiền." Sân im như tờ. Lão Bá Hộ đặt chén trà xuống kỷ, lần này không nhẹ như lần trước, nước trà sóng sánh tràn cả ra ngoài. Lão nhìn ông lang, ông lang cũng nhìn lại, cái nhìn của hai người đều biết thừa đối phương đang nói cái gì, và đều biết thừa là chẳng ai sẽ nói thẳng câu ấy ra. "...Ông lang, ông nói khéo lắm." "Tôi già rồi, nói được câu nào hay thì nói." Ông chìa lòng bàn tay có mấy mẩu bạc ra. "Ông cầm cho. Tôi xin hai đứa." Lão Bá Hộ nhìn chỗ bạc ấy hồi lâu, rồi bật ra một tiếng cười khô khốc, vơ lấy, phẩy tay. "Coi như tôi bán cho ông hai con chó. Cởi trói. Đuổi cổ đi." --- Ra tới ngoài ngõ, cái nón mê của thằng Cò bị một gã gia đinh ném ra theo như người ta ném một cái giẻ rách, lăn lông lốc dưới chân nó. Thằng Cò chẳng buồn nhặt. Nó vừa được cởi dây đã vùng ra, xoa xoa cái cổ còn hằn đỏ vết thừng, rồi quay phắt sang gí ngón tay vào mặt thằng Bần. "Mày điên à? Ai bảo mày nhận? Mày có biết bốn chục roi là gãy xương chứ không phải đùa đâu! Cái loại như mày đánh mười roi là nằm bẹp rồi! Ba roi thôi mà lưng mày đã thế kia!" "Thì tại mày bị siết cổ, mày có nói được đâu." Thằng Bần gãi đầu, nhe răng cười, rồi nhăn mặt vì cái lưng. "Với lại mày bảo có gì thì chia đôi mà. Gạo thì chia đôi, roi cũng phải chia đôi chứ." Thằng Cò há mồm định chửi tiếp, rồi lại thôi. Nó cúi xuống nhặt cái nón mê, chụp lên đầu kéo sụp xuống che gần hết mặt, rồi quay lưng đi thẳng về phía trước mấy bước, rồi dừng lại, đứng im trong bóng tối, hai vai run lên. Thằng Bần không biết nó đang tức hay đang khóc, mà thằng Cò thì chẳng bao giờ để ai biết. Ông lang xách hòm thuốc đi sau, đứng lại ở ngã ba đầu xóm Thượng, rít nốt mồi thuốc còn lại trong nõ điếu, rồi mới lên tiếng. "Tao bỏ ra ngần ấy bạc cho hai đứa bay." Ông nói, cái giọng khàn khàn chẳng có chút ấm áp nào. "Không phải cho. Tao mua. Mà đã mua thì hai đứa bay phải làm mà trả." Thằng Bần đứng sững lại. Nó nhìn ông lang, rồi nhìn xuống hai bàn chân trần của mình, và cái luật thứ hai của nó trồi lên trong đầu, rành rọt như khắc vào đá: đừng nhận ơn ai. Ba năm trước u Hai cho nó một nắm xôi rồi bị đánh rách lưng ngay trong cái sân vừa rồi. Đêm nay ông lang bỏ ra ngần ấy bạc, mà ngần ấy bạc giữa năm đói thì đủ cho cả một nhà ăn tới mùa gặt. "Thưa ông..." Nó lí nhí. "Cháu không có gì trả ông đâu ạ." "Thì làm mà trả." Ông lang đáp, chẳng buồn nhìn nó. "Từ mai canh tư dậy quét sân, gánh nước, nhóm bếp. Ăn cơm xong thì lên đồi hái thuốc, hái không đủ thì nhịn. Tao nuôi cơm, cơm tính vào công. Tiền chuộc thì trừ dần, bao giờ đủ thì đi đâu thì đi, tao không giữ. Làm không được thì cút, tao trả về cho ông Bá." Ông gõ cái nõ điếu vào cột mốc đầu ngõ, tàn thuốc rơi xuống đất đỏ lên một thoáng rồi tắt. "Tao không cho không ai cái gì bao giờ, mà cũng chẳng lấy không của ai cái gì. Sòng phẳng." Thằng Bần nghe thấy chữ ấy, và trong một khắc, nó tưởng mình đang ngồi xổm dưới chân mụ Tám ở góc chợ, tay cầm miếng cháy bánh đúc còn nóng, nghe cái giọng khàn khàn vừa ho vừa nói rằng tao không cho không mày đâu nhé, mày cọ nồi thì cháy là công của mày, sòng phẳng. Không phải ơn. Là công. Nó làm thì nó được ăn, nó làm đủ thì nó hết nợ, chẳng ai phải bị lôi ra giữa sân vì nó cả. Cái luật thứ hai của nó vẫn còn nguyên, không sứt mẻ chỗ nào. "Dạ! Cháu làm được ạ!" Nó đáp ngay, mắt sáng rực lên trong bóng tối, quên cả cái lưng đang rát. "Cháu gánh nước khỏe lắm ông ạ! Cháu gánh cả ngày không mỏi! Cháu còn biết bắt nhái, bắt cua, bắt chuột, ông có ăn cua không ạ, để sang xuân cháu đi bắt cho ông một giỏ, cháu còn biết đào huyệt nữa, cháu đào nhanh lắm..." "Lắm mồm." "Dạ." Ông lang hừ một tiếng trong cổ họng, rồi quay sang cái bóng gầy nhẳng đang đứng quay lưng lại ở phía trước. "Còn mày?" Thằng Cò không quay lại. "Tôi không đi." Nó nói, giọng cứng như đá. "Tôi chẳng bán mình cho ai." Ở làng Lò Trấu, một thằng oắt tám tuổi mà xưng tôi với một ông già sáu mươi thì là hỗn, hỗn tới mức đáng ăn một cái bạt tai. Ông lang chỉ khịt mũi. "Hỗn." Ông nói, rồi gõ gõ cái điếu cày vào lòng bàn tay. "Tùy mày. Nhưng tiền chuộc mày thì tao trả rồi. Mày không đi thì phần của mày thằng này nó gánh. Nó làm gấp đôi, trừ gấp đôi, thế thôi." Thằng Cò đứng sững. Thằng Bần nhìn thấy hai bàn tay nó nắm chặt lại, nắm chặt tới mức các đốt ngón tay trắng bệch ra, y như cái hôm nó ngồi trên bậc cửa túp lều nhà mụ Tám. Thằng Cò không thích nợ ai. Mà cái nó ghét hơn cả nợ ai, thì là để thằng Bần phải gánh nợ thay cho nó. "...Thì đi." Cuối cùng nó rít qua kẽ răng. "Còn một điều nữa." Ông lang nói, và lần này ông nhìn thẳng vào thằng Cò. "Nhà tao mà mất một đồng kẽm, một nhúm thuốc, thì cả hai đứa cút. Không phải một. Cả hai." Thằng Cò quay mặt đi chỗ khác. Nó không đáp. --- Ba người đi về phía xóm Trung. Họ đi được nửa đường thì trống đình nổi lên. Tiếng trống cái dồn dập, rền vang, dội qua những mái rạ, những lũy tre, vọng ra tận cánh đồng trơ gốc rạ ngoài kia, rồi ở đâu đó phía xóm Thượng có tiếng pháo nổ đì đẹt, khói pháo khét lẹt theo gió bấc bay tới. Người ta bắt đầu lũ lượt kéo ra đình, ra chùa hái lộc đầu năm, những cành đa cành si non được bẻ về giắt lên cửa cho cả năm may mắn, đuốc đèn lập lòe dọc đường làng như một đàn đom đóm. Giao thừa. Năm Đinh Dậu hết, sang năm Mậu Tuất. Theo cái lối người làng vẫn tính tuổi, qua đêm ấy thì thằng Bần lên chín. Nó đi sau lưng ông lang, cái lưng rát như bị ai chườm than hồng, mà hai chân thì cứ nhảy chân sáo trên con đường đất. Trong bụng nó nhẹ bẫng, một thứ nhẹ mà nó chưa từng được biết bao giờ, cái nhẹ của một đứa vừa thoát khỏi bốn chục roi mây và tự dưng có chỗ để về. Thằng Cò đi phía trước, cái nón mê sụp xuống che gần hết mặt, thỉnh thoảng lại ngoái lại lườm nó một cái, cái lườm bảo rằng mày ngu vừa thôi, nhưng thằng Bần đang mải nhảy nên chẳng để ý. Nhiều năm sau, có người hỏi Trần Minh Luân rằng trong đời ông, ai là người đầu tiên đối xử với ông như một con người. Ông nghĩ rất lâu, rồi bảo là hai người, một bà bán bánh đúc và một ông thầy lang, và cả hai đều chưa từng cho ông cái gì không. --- Nhà ông lang nằm ở cuối xóm Trung, ba gian lợp lá cọ, sân đất nện, trước sân có cái giàn phơi thuốc bằng tre cao ngang đầu người, cái mùi thuốc bắc ngai ngái bốc ra tận đầu ngõ. Người Lò Trấu tin rằng ai là người đầu tiên bước qua ngưỡng cửa nhà mình sau giao thừa thì người ấy mang vận cả năm vào nhà, cho nên nhà nào cũng phải nhờ trước một người tốt vía, làm ăn khấm khá, con cái đề huề sang xông đất. Năm Mậu Tuất ấy, người xông nhà ông lang là hai thằng ăn trộm. Ông lang chẳng nói gì về chuyện ấy. Ông chỉ chỉ tay vào gian bếp, bảo hai đứa vào đấy mà ngủ, trong góc có ổ rơm với cái chăn chiên cũ. Rồi ông lục trong cái hòm thuốc, lấy ra một cái lọ sành nhỏ nút lá chuối, ném cho thằng Cò. "Bôi lên lưng cho nó. Ngày hai lần." Ông nói. "Tiền thuốc tao ghi vào sổ." Thằng Cò bắt lấy cái lọ, nhìn theo cái lưng ông lang khuất sau tấm liếp, rồi lẩm bẩm rằng lão này keo kiệt thật, keo tới mức cái lọ thuốc cũng tính tiền. Nhưng rồi nó vẫn ngồi xuống sau lưng thằng Bần, mở nút lọ, lấy ngón tay quệt thứ cao đen sì thơm mùi lá cây, bôi lên từng vệt roi, bôi nhẹ tới mức thằng Bần tưởng không phải tay thằng Cò. --- Mãi tới lúc nằm xuống trong ổ rơm ở gian bếp nhà ông lang, thằng Bần mới sực nhớ ra một chuyện. Ông bảo ông vừa ở xóm Hạ về, tiện đường nên ghé qua. Nhưng xóm Hạ thì nằm ở đầu kia làng, xa tít phía bãi đê vỡ, mà từ xóm Hạ về nhà ông ở cuối xóm Trung thì chẳng có con đường nào đi ngang qua xóm Thượng cả. Rồi nó lại nhớ thêm một chuyện nữa. Lúc ông bước vào sân nhà ông Bá Hộ, ông chẳng hỏi ai đứa nào ăn trộm, đứa nào cầm chìa khoá, đứa nào nhận tội thay đứa nào. Ông chẳng hỏi gì cả, như thể ông đã biết hết từ trước. Thằng bé trở mình, kéo cái chăn chiên cũ lên tận cằm, nằm nghĩ ngợi một lúc. Cái nghĩ chậm chạp của nó bò được một quãng thì dừng, bởi nó chẳng biết phải bò tiếp về đâu. Rồi nó ngáp một cái, nghĩ chắc ông lang đi lòng vòng thăm ai đó, người lớn thì có bao nhiêu là việc, mình biết thế nào được. Bên cạnh, thằng Cò nằm quay lưng lại, im lìm, mắt vẫn mở, nhìn lên cái mái lá cọ tối om. Đêm ấy, lần đầu tiên sau bao nhiêu năm, cái điếm hoang dưới chân Dốc Cửa Mả không có ai về ngủ. Còn thằng Bần thì ngủ một giấc dài dưới một mái nhà không dột, giấc ngủ đầu tiên của nó trong năm Mậu Tuất.
Chương trước Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ