#
Tháng Chạp năm Đinh Dậu rét sớm.
Gió bấc về từ giữa tháng Mười Một, thổi dọc cánh đồng trơ gốc rạ, rít qua những lũy tre đầu làng nghe u u như tiếng ai thổi tù và ngoài biên, rồi luồn vào từng khe vách, từng lỗ mái, lạnh tới mức sáng ra mặt ao đình đóng một lớp váng mỏng như mỡ đông, còn những người già ở Mương Đen thì ngồi co ro cả ngày bên bếp tro tàn mà hai hàm răng cứ va vào nhau lập cập. Người ta bảo đói giỗ cha, no ba ngày Tết, ý là nghèo đến đâu thì ngày giỗ cha còn có thể nhịn, chứ ba ngày Tết thế nào cũng phải được một bữa cho ra hồn. Câu ấy người ta nói đã từ đời nào, và cũng như phần lớn những câu người ta vẫn nói, nó chỉ đúng với những ai có cha để mà giỗ, có nhà để mà ăn Tết.
Làng Lò Trấu năm ấy mất ba lần. Vụ chiêm lép hạt vì gió Lào, vụ mùa cấy lại sau lũ thì muộn và thưa, ở giữa lại thêm một mùa dịch thổ tả cướp đi không biết bao nhiêu người đang khỏe mạnh. Tới tháng Chạp thì xóm Hạ đã có nhà ăn củ chuối từ tháng Mười, xóm Trung thì ăn độn ba phần khoai một phần gạo, chỉ có xóm Thượng là vẫn lo Tết như mọi năm. Nhà ông Bá Hộ mổ hai con lợn, nhà ông trùm làng mổ một con, nhà lý trưởng thì gói năm chục cặp bánh chưng, lá dong phơi xanh mướt cả sân. Người ta dựng cây nêu, dán câu đối đỏ lên cột cổng, đủ cả thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ, cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh, cái câu mà năm nào ông lang xóm Trung cũng phải ngồi viết đi viết lại ở đầu chợ cho mấy nhà giàu mang về treo ở gian giữa. Còn xuống tới Mương Đen thì Tết chẳng khác gì mấy ngày thường, chỉ có rét hơn.
---
Mùa đông thì nhái trốn xuống bùn, chuột cũng theo lúa về kho nhà người ta, thành ra hai cái nghề nuôi sống thằng Bần suốt từ xuân tới thu đều đã tắt. Nó phải kiếm việc khác. Tờ mờ sáng, khi sương muối còn trắng mặt đường, nó xách cái thúng thủng với cái que tre đi dọc đường làng nhặt phân trâu, nhặt từng bãi còn bốc hơi, nhặt đầy một thúng thì gánh ra bán cho mấy nhà trồng rau ở xóm Trung, mỗi thúng đổi được nửa bát ngô. Hôm nào có người chết thì làng lại gọi nó. Tháng Chạp năm ấy Mương Đen chết thêm ba người già vì rét, một người đàn bà ở xóm Hạ chết vì đẻ khó, và cả bốn cái huyệt trên Dốc Cửa Mả đều do một tay nó đào. Làng Lò Trấu đã quen với việc ấy tới mức chẳng ai còn thấy lạ, cứ nhà nào có người nằm xuống là lại có người xuống điếm gọi thằng Bần, như người ta vẫn gọi lão mõ đi rao việc làng.
Thằng Cò thì chẳng bao giờ làm những việc ấy.
"Cả buổi hót cứt trâu được nửa bát ngô." Nó nằm gác chân lên vách điếm, nhìn thằng Bần ngồi cạo lớp phân khô bám dưới gan bàn chân, cười khẩy. "Tao ra chợ một khắc thôi đã được cả cái bánh rán. Mày tính xem đứa nào ngu."
Thằng Bần gãi đầu cười hì hì, không cãi, bởi nó biết thằng Cò nói đúng, mà nó cũng biết thằng Cò kiếm cái bánh rán ấy bằng cách nào.
Sống chung với nhau được hơn hai tháng, thằng Bần mới hiểu ra thằng bạn mình nhanh tới mức nào. Cái gì thằng Cò cũng nhanh, nhanh mồm, nhanh tay, nhanh chân, nhanh trí. Nó nhẩm tiền nhanh hơn cả mụ Tú, nhớ giờ giấc từng hàng ở chợ như nhớ đường về nhà, hàng nào sáng ra đông khách, hàng nào trưa chủ hay ngủ gật, hàng nào có con chó dữ, nó thuộc hết. Nó nhại giọng lý trưởng giống tới mức mấy bà ngồi giặt ở giếng đình giật mình quay lại tìm. Chuyện gì thằng Bần phải nghĩ ba ngày mới vỡ ra thì thằng Cò chỉ cần nghe qua một lần là hiểu, hiểu cả cái đoạn người ta chưa kịp nói. Chỉ phải một nỗi nó nhanh quá, việc trước chưa làm xong đã nhảy sang việc sau, việc sau chưa nghĩ tới đã làm luôn, cho nên mười lần ra chợ thì có tới ba lần nó mang về cái bánh, ba lần mang về mấy đồng kẽm, còn bốn lần thì mang về một bộ mặt sưng vù.
Có một chiều cuối tháng Mười Một, nó về muộn.
Thằng Bần đang nhóm bếp rơm trong điếm thì nghe ngoài cửa có tiếng bước chân lê lết, rồi thằng Cò bò vào, một bên mắt tím bầm sưng húp, môi dưới toác ra một đường còn rỉ máu, cánh tay trái ôm khư khư trước ngực như ôm một đứa con. Nó bị thằng cháu mụ Tú bắt được ở hàng bánh rán, bị bẻ quặt tay ra sau rồi đạp xuống rãnh nước đầu chợ, trong lúc cả chợ đứng xem, có người còn vỗ tay. Thế mà vừa ngồi phịch xuống ổ rơm, nó đã lần tay vào cạp khố, lôi ra hai cái bánh rán bẹp dí dính đầy bùn rãnh, rồi nhe cái răng khểnh dính máu ra mà cười.
"Vẫn còn đây."
Thằng Bần múc nước trong cái vò sành, xé một góc bao tải nhúng ướt, lau máu trên môi cho nó. Nó chẳng biết thuốc thang gì, chỉ biết lau cho sạch rồi ấn vào cho đỡ chảy, như cái hôm ở giếng đình.
"Mày đừng đi nữa." Nó nói, giọng nhỏ xíu. "Người ta đánh chết mày thì sao."
"Đánh thì đã sao." Thằng Cò nhăn mặt vì xót, rồi phẩy tay. "Bị đánh mà vẫn được ăn thì là lãi. Mày nhịn cả đời, có được bữa nào no đâu mà khuyên tao."
Nó lấy tay áo phủi lớp bùn trên hai cái bánh rán, bẻ đôi một cái, dúi nửa vào tay thằng Bần.
"Chia đôi."
Thằng Bần cầm miếng bánh, nhìn mãi. Nó tự bảo đây là chia đôi, không phải cho, thằng Cò đã nói thế từ hôm ở ao đình, mà chia đôi thì không phải ơn. Nó cắn một miếng. Bánh nguội ngắt, lẫn cả sạn bùn, nhân đỗ bên trong đã hơi chua, nhưng vẫn là bánh, cái bánh rán đầu tiên nó được ăn trong đời. Vậy mà miếng bánh ấy cứ mắc lại ở cổ họng, nuốt mãi không trôi, và nó chẳng hiểu vì sao.
---
Tháng ấy thằng Cò dạy nó huýt sáo.
Chuyện bắt đầu từ một đêm thằng Cò đi đâu về khuya, đứng ngoài bờ ruộng huýt ba tiếng ngắn một tiếng dài, huýt mãi mà thằng Bần trong điếm không biết đáp lại thế nào, đành phải chạy ra tận nơi. Thằng Cò chửi nó một trận, bảo nghe thấy tiếng tao thì phải huýt trả, để tao biết mày còn sống, chứ cứ chạy ra chạy vào thế có ngày ăn đòn thay tao. Rồi nó chụm môi lại làm mẫu. Tiếng sáo bật ra trong veo, cao vút, xé ngang cả tiếng gió bấc. Thằng Cò bảo nó học được cái lối huýt ấy từ một tay lái trâu người mạn ngược đi qua làng hồi nó lên sáu, học có một buổi chiều là xong.
Thằng Bần thì học nửa tháng.
Đôi môi nó nứt nẻ vì rét, chụm lại thổi thì chỉ ra toàn hơi, phì phì như con rắn nước bị chặn hang, thổi mạnh quá thì nước bọt bắn ra tứ tung mà vẫn chẳng có tiếng. Thằng Cò nằm trong ổ rơm cười lăn cười bò, cười tới mức phải ôm lấy con mắt còn tím. Thằng Bần cũng cười theo, rồi lại cúi xuống thổi tiếp. Nó thổi lúc đi nhặt phân trâu, thổi lúc ngồi đợi người ta khiêng xác lên dốc, thổi cả trong lúc đào huyệt, thổi tới mức môi toác ra chảy máu thì lấy lưỡi liếm rồi lại thổi. Đêm nào nằm xuống nó cũng chụm môi thổi phì phì vào bóng tối cho tới khi ngủ thiếp đi.
Rồi một buổi sớm, khi sương muối còn phủ trắng bờ ruộng, trong lúc nó đang cúi xuống nhặt một bãi phân trâu, đôi môi nó tự nhiên bật ra một tiếng "hoét" mỏng dính, run run, méo xệch, nghe như tiếng con gà con bị ai giẫm phải chân.
Thằng Bần đứng sững giữa đường, tay còn cầm cái que tre.
Nó vứt cả thúng lẫn que, chạy một mạch về điếm, lay thằng Cò dậy, rồi chụm môi lại huýt cho nó nghe. Lần này thì không ra tiếng. Nó đỏ mặt thổi lại, rồi lại thổi, tới lần thứ bảy thì cái tiếng "hoét" méo mó ấy mới chịu bật ra thêm lần nữa.
Thằng Cò dụi mắt nhìn nó, rồi phá ra cười.
"Nửa tháng mới huýt được một tiếng, mà nghe như con gà mái bị bóp cổ. Mày đần thật đấy." Nó lăn ra ổ rơm cười một hồi, rồi ngồi dậy chụm môi làm mẫu lại. "Ba ngắn. Một dài. Không phải hai ngắn. Ba."
Cái nhịp ba ngắn một dài ấy thằng Bần lại mất thêm năm ngày nữa, bởi khi thì nó huýt thành hai ngắn, khi thì thành bốn ngắn, có lần hứng chí lên còn huýt ra được cả ba dài. Nhưng tới hôm ông Táo về trời thì nó đã huýt được đúng nhịp, không trượt lần nào. Người Lò Trấu vẫn bảo thằng Bần đần, mà có lẽ người ta nói đúng, cái gì thằng Cò học một buổi thì nó phải học nửa tháng. Chỉ có điều người ta không để ý rằng cái gì thằng Bần đã học được thì nó không bao giờ quên.
---
Hăm ba tháng Chạp, cả làng cúng ông Công ông Táo.
Người ta bảo từ hôm ấy ông Táo cưỡi cá chép về trời tâu với Ngọc Hoàng chuyện bếp núc của từng nhà trong năm, nhà nào tử tế thì tâu tốt, nhà nào ăn ở thất đức thì tâu xấu, cho nên nhà nào cũng cố làm mâm cúng cho tươm tất, mong ông ăn no rồi tâu nhẹ đi mấy câu. Ông Táo đi rồi thì trong nhà không còn ai coi, ma quỷ tha hồ đi lại, thế nên nhà giàu ở xóm Thượng lại dựng cây nêu trước ngõ, trên ngọn treo khánh đất nung với lá bùa đỏ, gió thổi kêu leng keng suốt đêm, rồi lấy vôi bột rắc thành hình cái cung với mũi tên chĩa ra ngoài cổng cho ma quỷ trông thấy mà sợ. Dưới Mương Đen thì chẳng nhà nào rắc vôi, bởi vôi cũng phải mua bằng tiền, mà ma quỷ có vào được tới đây thì cũng chẳng tìm được cái gì mà lấy.
Chiều hôm ấy ao đình đông người ra thả cá chép. Nhà giàu thả cá to đỏ au, nhà khá thả cá nhỏ bằng hai ngón tay, người ta vái vái mấy cái rồi thả xuống, con cá quẫy đuôi một cái là mất hút dưới làn nước xanh đục, dưới đám bèo tây đã úa vàng vì rét.
Thằng Bần đứng xa xa trên bờ ao nhìn xuống mà rùng mình, cái đám bèo tây ấy nó vẫn còn nhớ mùi.
Đêm ấy, khi làng đã ngủ, thằng Cò lội xuống đúng cái ao ấy.
Nước tháng Chạp buốt như dao cạo, ngập tới ngực nó, vậy mà nó vẫn lội dọc theo mép bèo, hai tay thọc xuống bùn mò mẫm, răng va vào nhau lập cập mà miệng vẫn chửi tổ sư cái rét. Mấy con cá chép vừa được thả hồi chiều còn lạ nước, nằm lờ đờ dưới rễ bèo, thằng Cò mò được con nào thì ném lên bờ con ấy. Thằng Bần đứng trên bờ ôm lấy mấy con cá đang giãy đành đạch, run bắn cả người, không biết vì rét hay vì sợ.
"Cá của ông Táo đấy..." Nó thì thào.
"Ông Táo cưỡi có một con thôi." Thằng Cò lóp ngóp bò lên bờ, người tím tái, cười hi hí. "Cả làng thả mấy chục con, ông cưỡi không hết đâu, để thừa thì phí."
Hai đứa nướng cá trong điếm bằng lửa rơm, cá cháy xém một nửa, nửa kia còn tanh sống, xương thì nhiều như lông nhím. Thằng Bần ngồi nhìn con cá chép nướng trong tay rất lâu. Rồi nó cũng ăn. Nó ăn chậm, ăn kỹ, gỡ từng cái xương, ăn tới cả phần đầu, và trong lúc ăn nó cứ nghĩ không biết năm nay ông Táo lên trời sẽ tâu gì về hai đứa nó, rồi lại nghĩ chắc ông chẳng tâu gì đâu, bởi cái điếm hoang này làm gì có bếp mà có ông Táo.
---
Ba mươi Tết, trời tối từ lúc xế chiều.
Buổi sáng thằng Bần đi cạo lông lợn thuê ở lò mổ nhà lão đồ tể. Tết thì nhà nào khá cũng mổ lợn, lò mổ làm từ canh tư tới quá trưa không ngơi tay, nước sôi dội xuống bốc hơi mù mịt, tiếng lợn kêu eng éc suốt cả buổi vọng ra tận đầu ngõ. Thằng Bần cạo lông, rửa lòng, gánh nước, hứng tiết, làm luôn tay luôn chân tới lúc lão đồ tể chặt cho nó một khúc xương ống đã lóc hết thịt, chặt làm hai đoạn, ném vào cái thúng của nó. Thằng Hợi đứng ở góc lò mổ, một bên vai vẫn còn xệ xuống từ cái bữa ăn nửa hòn gạch, nhìn nó chằm chằm suốt buổi mà không nói câu nào, bởi có lão đồ tể đứng đấy.
Thằng Bần ôm khúc xương về điếm, định bụng nấu với rau má ăn dần trong ba ngày Tết. Cái hôm ông Táo về trời nó đã ăn cá trộm, thì ba ngày Tết nó muốn được ăn một thứ do chính tay mình làm ra.
Chập tối, gió bấc nổi lên, và trong tiếng gió có một hồi sáo.
Ba tiếng ngắn. Một tiếng dài.
Tiếng sáo vọng về từ phía đầu ngõ, chỗ miếu Thần Nông. Thằng Bần nhét khúc xương vào bọc ngực, chạy ra cửa điếm, chụm đôi môi nứt nẻ lại mà huýt trả. Ba ngắn, một dài. Tiếng sáo của nó vẫn mỏng, vẫn run run, nhưng lần này thì đúng nhịp.
Miếu Thần Nông nằm ở đầu ngõ Mương Đen, dưới gốc một cây đa già rễ buông xuống như râu ông lão, nhỏ chỉ bằng cái chuồng trâu, tường vôi đã ngả màu rêu, mái ngói vỡ mất một góc phải lấy tàu lá chuối khô chèn tạm. Trong miếu có một pho tượng gỗ ông Thần Nông ngồi trên bệ, tay cầm bó lúa, sơn đã tróc gần hết, mặt mũi mòn vẹt chẳng còn nhận ra, trước bệ là một cái bát hương sành cắm mấy chân nhang đã tàn từ mùa nào. Mấy năm được mùa thì người làng còn ra đây cúng, chứ mấy năm nay lúa thóc chẳng ra gì, người ta bảo nhau ông Thần Nông không còn linh nữa, dần dà chẳng ai buồn thắp hương.
Thằng Cò ngồi vắt vẻo trên cành đa đợi sẵn, thấy nó tới thì trượt xuống bằng một cú lộn vòng, tiếp đất nhẹ như con mèo. Nó chẳng nói chẳng rằng, kéo thằng Bần vào trong miếu tránh gió.
Trong miếu tối om, có mùi rượu.
Thằng Bần khựng lại. Ở góc khuất sau bệ thờ, chỗ ánh trời chập choạng không lọt tới, có một đống gì đó to bằng cái cối xay lúa, đen sì, nhô lên hạ xuống theo từng tiếng ngáy khò khè như cái bễ lò rèn thủng. Nó nheo mắt nhìn mãi mới nhận ra đó là một người, một lão già nằm co ro dưới đống giẻ rách lẫn rơm rạ, râu tóc bù xù bết lại thành từng lọn, bên cạnh lăn lóc một cái bầu rượu làm bằng quả bầu khô. Một bàn chân trần thò ra khỏi đống giẻ, to bè, đen đúa, gan bàn chân nứt nẻ như mặt ruộng mùa hạn, còn ống chân bên kia thì quấn giẻ kín mít, co quắp lại dưới người, trông chẳng giống chân người. Dựa vào vách ngay cạnh là một cây gậy tre đã lên nước bóng, đầu gậy mòn tròn.
"Lão ăn mày què." Thằng Cò hất hàm, chẳng buồn hạ giọng. "Dạt về làng từ sau lũ, ban ngày ra chợ ngửa tay xin, tối về đây ngủ. Say suốt ngày, điếc đặc, có gào vào tai cũng chẳng biết. Kệ lão."
Thằng Bần gật đầu, nhưng mắt nó cứ dán vào cái đầu gậy mòn tròn ấy, rồi lại nhìn xuống cái bàn chân trần to bè, và nó nhớ tới cái đêm mưa tháng Bảy, tới hàng dấu chân xen những cái lỗ tròn in trên mặt bùn trước cửa điếm. Nó định nói gì đó, rồi lại thôi. Chuyện ma què nó đã kể một lần, bị thằng Cò cười cho thối mũi.
---
Thằng Cò ngồi xổm xuống sát bên nó, ngó ra cửa miếu một lượt, rồi ghé vào tai nó mà thì thầm, cái giọng run lên vì hào hứng.
"Tao có mối làm ăn to."
Nó kể, lão Bá Hộ ở xóm Thượng vừa ngầm nhập về mấy xe kéo gạo trắng từ mạn ngược, giấu kín trong cái kho sau vườn. Gạo trắng, không phải gạo độn, không phải thóc lép, mà là gạo tám thơm hạt căng như hạt ngọc. Lão ém hàng không bán, đợi sang giêng giá lên sẽ bán cho quân triều đình, bởi ngoài biên lại đang đánh nhau, lính cần lương, mà năm nay mất mùa thì giá gạo mỗi ngày một vọt. Đêm nay giao thừa, cả làng kéo ra đình đợi đón năm mới, gia đinh nhà lão thì được lão cho ra đầu làng uống rượu tất niên từ chập tối, trong nhà chỉ còn mấy người đàn bà với ba con chó săn.
"Mày thì có tài trị chó." Thằng Cò nói. "Còn tao thì có cái này."
Nó xoè bàn tay ra. Trong lòng bàn tay đen nhẻm ấy nằm một cái chìa khoá đồng đã xỉn màu, to bằng ngón tay cái.
"Móc được của thằng quản gia nhà lão hồi chiều. Nó đứng chen ở hàng câu đối ông lang đầu chợ, chìa khoá đeo lủng lẳng ngay thắt lưng, tao chỉ cần lách qua một cái." Nó nắm chặt tay lại, mắt sáng lên trong bóng tối. "Mình lẻn vào, mỗi đứa vác một bao, rồi chuồn thẳng lên núi mà giấu. Một bao gạo tám ăn dè được tới mùa gặt. Từ mai mày không phải đi hót cứt trâu nữa, tao cũng không phải ăn đòn của thằng cháu mụ Tú nữa."
Thằng Bần ngồi im.
Nó nghĩ, cái nghĩ chậm chạp của nó bò đi từng bước một như con cua bò trong bùn. Nó nghĩ tới lão Bá Hộ, cái lão mà năm ngoái đã sai người trói một thằng ăn trộm gà vào gốc đa đầu làng suốt ba ngày ba đêm không cho ăn uống, đánh tới khi thằng ấy đái ra máu rồi mới cởi trói cho bò về. Nó nghĩ tới cái sân gạch nhà lão, nơi ba năm trước u Hai đã quỳ giữa những làn roi mây mà không kêu lấy một tiếng. Rồi nó nghĩ tới một điều khác nữa, một điều cứ lấn cấn mà nó chưa gọi được thành tên.
"Cò này." Nó ngập ngừng. "Sao thằng quản gia lại để mày móc dễ thế?"
"Tại tao khéo." Thằng Cò nhếch mép, gõ gõ ngón tay vào trán mình. "Mày tưởng ai cũng đần như mày à?"
Thằng Bần gãi đầu. Nó vẫn thấy lấn cấn, nhưng nó không biết lấn cấn ở chỗ nào, mà nó thì chưa bao giờ cãi thắng thằng Cò được câu nào.
"Tao sợ." Cuối cùng nó nói thật.
Thằng Cò im lặng một lúc. Rồi nó nói, giọng không còn hào hứng nữa, mà lạnh đi.
"Mày sợ, nhưng mày vẫn ăn." Nó nhìn thẳng vào mặt thằng Bần. "Bánh rán tao chôm, mày ăn. Cá ông Táo tao mò, mày ăn. Thế thì mày cũng là thằng ăn trộm rồi, chỉ khác là mày để tao liều một mình."
Câu ấy như một cái tát.
Thằng Bần cứng người lại, mặt tái đi trong bóng tối. Nó muốn cãi, muốn bảo đấy là chia đôi chứ có phải tao xin đâu, nhưng rồi nó nhận ra cái chia đôi ấy chỉ có một chiều, miếng ăn thì hai đứa cùng chia, còn trận đòn thì thằng Cò một mình gánh. Thằng Cò nói đúng. Thằng Cò lúc nào cũng nói đúng.
"Liều thì ăn nhiều." Thằng Cò đập vào vai nó, giọng dịu xuống. "Không liều thì ăn cứt trâu cả đời. Mà mày bảo có gì chia đôi cơ mà."
Người xưa bảo đói ăn vụng, túng làm liều. Thằng Bần chưa bao giờ ăn vụng, cũng chưa bao giờ làm liều, suốt tám năm trời nó sống bằng cái luật nhịn thì sống mà nó tự dạy mình. Nhưng suốt tám năm trời ấy nó cũng chưa từng có một thằng bạn chảy máu thay cho nó, rồi ngồi gánh một mình trận đòn của cả hai đứa.
Cái vẻ ngây ngô thường ngày trên khuôn mặt nó từ từ tắt đi, nhường chỗ cho một thứ khác, lì lợm và tối tăm, cái thứ mà người ta vẫn thấy trong mắt con chó hoang bị dồn vào chân tường.
"Được." Nó nói. "Làm thì làm."
Hai đứa ra khỏi miếu, lẩn vào bóng tối. Chúng nó không để ý rằng tiếng ngáy khò khè sau bệ thờ đã tắt từ lúc nào.
---
Đêm ba mươi tối như hũ nút.
Từ phía đình làng vọng lại tiếng trống cúng và tiếng người í ới, đuốc đèn sáng rực cả một vùng, mùi hương trầm theo gió bay tới tận xóm Thượng. Còn xóm Thượng thì tối om, mấy nhà giàu đều đã kéo nhau ra đình, chỉ có ngọn đèn lồng treo ở cổng nhà ông Bá Hộ là còn hắt ra một quầng sáng vàng vọt, đung đưa trong gió. Bức tường đất bao quanh cơ ngơi nhà lão cao quá đầu người lớn, trên đỉnh cắm đầy mảnh sành vỡ lởm chởm như hàm răng cá dữ, nhưng ở góc vườn phía sau có một cái lỗ chó chui bị rễ tre đùn lở ra, thằng Cò đã rình sẵn từ mấy hôm trước.
Hai đứa vừa chui lọt qua lỗ, tiếng gầm gừ đã nổi lên trong bóng tối.
Ba con chó săn to như ba con bê, lông gáy dựng ngược, răng nanh trắng nhởn, sợi xích sắt dài kéo lê trên nền gạch kêu loảng xoảng. Thằng Cò cứng đờ cả người, cái nón mê trên đầu rơi xuống đất lúc nào không hay.
Thằng Bần thì bước lên trước, chậm rãi, không chạy, không lùi.
Nó không nhìn thẳng vào mắt lũ chó, cái mẹo ấy nó học được từ hồi lên bốn, bằng một bắp chân bị chó nhà ông trùm làng cắn rách toạc. Nó cúi đầu, khom người xuống thấp hơn cả lũ chó, rồi từ trong bọc ngực lôi ra hai khúc xương ống lão đồ tể chặt cho hồi sáng, cái bữa Tết mà nó định để dành ăn dần trong ba ngày. Nó ném từng khúc về hai phía, ném bằng tay trái, cái tay mà hồi bé lão mõ cứ thấy nó cầm đũa là lại lấy đũa cả gõ vào, bảo tay trái là tay ngược, đứa nào ăn bằng tay trái thì cả đời đi ngược với người ta.
Lũ chó khựng lại. Mùi tủy xương còn tươi.
Con đầu đàn ngửi ngửi, gầm gừ thêm một tiếng trong cổ họng rồi cụp tai xuống, chồm tới ngoạm lấy khúc xương mà nhai rau ráu. Hai con kia thấy vậy cũng bỏ luôn việc canh, lao vào giành nhau khúc còn lại.
Thằng Cò đứng phía sau há hốc mồm, mãi mới thì thào được một câu rằng mày đúng là quái vật, còn thằng Bần thì chỉ ngoái lại nhe răng cười hềnh hệch như mọi khi, cái nụ cười của một thằng bé vừa đem bữa Tết của mình cho chó ăn mà chẳng thấy tiếc.
---
Cái kho nằm sâu cuối vườn, tường gạch, cửa gỗ lim đóng im ỉm, khoá đồng to bằng nắm tay.
Chìa khoá của thằng Cò tra vào, xoay một vòng, tách một tiếng khẽ, và cánh cửa hé ra, phả vào mặt hai đứa một luồng hơi khô ráo thơm mùi gạo mới.
Thằng Bần đứng chết lặng ở ngưỡng cửa.
Dưới ánh đèn lồng hắt vào lờ mờ từ phía nhà trên, những bao gạo xếp chồng lên nhau cao quá đầu người, xếp thành từng dãy chạy hút vào trong bóng tối, nhiều tới mức nó không đếm nổi, nhiều tới mức nó không tưởng tượng nổi là trên đời này lại có chừng ấy gạo nằm im một chỗ, trong khi ngoài kia xóm Hạ đang ăn củ chuối, và trên Dốc Cửa Mả có bốn mươi mốt ngôi mả mới đắp từ hồi tháng Bảy.
Nó thò tay vào một cái bao đã rạch sẵn miệng, vốc lên một nắm.
Gạo trắng, hạt căng mẩy, mát lạnh, trôi qua kẽ tay nó rào rào như nước.
Cái mùi ấy nó chỉ được ngửi đúng một lần trong đời, cái đêm u Hai dúi cho nó nắm xôi gói trong lá chuối ở cổng sau của chính cái nhà này. Ba năm trước, người ta đánh u Hai rách lưng vì một nắm xôi đơm trên ban thờ. Bây giờ nó đứng giữa ngần ấy bao gạo, và cả cái kho này thì chẳng để cúng ai cả, người ta chỉ ngồi đợi cho nó lên giá.
Thằng bé tám tuổi ấy đứng đó, tay nắm chặt nắm gạo, và bỗng nhiên nó thấy sống mũi mình cay xè, mà nó chẳng hiểu vì sao mình lại muốn khóc trong khi đáng lẽ phải mừng.
"Nhanh lên!" Tiếng thằng Cò rít lên sau lưng kéo nó về. "Vác một bao rồi chuồn, đừng có tham!"
Hai đứa hì hục lôi hai cái bao xuống. Bao gạo nặng hơn cả thằng Bần, nó phải ghì cả người xuống mới vác lên được vai, hai đầu gối run lẩy bẩy như que tre gặp gió mà vẫn gượng đứng dậy được, cái lưng gầy còng xuống như con tôm luộc.
Rồi cả hai lết ra cửa.
---
Chúng nó chỉ đi được ba bước.
Ánh đuốc bùng lên chói lòa từ cả hai phía đầu hồi, và chỉ trong một cái chớp mắt, cả khoảnh vườn sau đã sáng trưng như giữa ban ngày.
Không phải ba bốn người. Là cả một hàng dài gia đinh, đứa cầm gậy gộc, đứa cầm đuốc, đứa cầm dây thừng, đứng vây kín lấy lối ra, đứng im không nói một lời, cái kiểu đứng của những kẻ đã chờ sẵn ở đó từ lâu lắm rồi. Hơi rượu phả ra từ chúng nó nồng nặc, nhưng không đứa nào say tới mức đứng không vững.
Và giữa hàng người ấy, một lão già mặc áo bông dày, đội khăn xếp, tay chắp sau lưng, thong thả bước ra.
Lão Bá Hộ.
Lão không giận dữ, cũng không quát tháo. Lão chỉ nhìn hai cái bao gạo, rồi nhìn hai thằng bé đang đứng chôn chân, rồi khóe miệng lão giãn ra thành một nụ cười rất mỏng, mỏng như lưỡi dao cạo.
"Cái chìa khoá ấy," lão nói, giọng khề khà như đang hỏi chuyện thời tiết, "thằng quản gia nhà tao nó để rơi ở chợ từ hồi nào thế nhỉ?"
Thằng Bần hiểu ra cái điều lấn cấn ban nãy là gì. Nó hiểu ra, như mọi lần, muộn mất một nhịp.
Bao gạo trên vai nó tuột xuống, đổ oạch xuống nền đất, miệng bao bục ra, gạo trắng chảy tràn lênh láng dưới hai bàn chân trần nứt nẻ của nó.
Bên cạnh, thằng Cò đã quay phắt đầu định chạy.
Nhưng phía sau lưng chúng nó, cánh cửa kho đã bị hai gã gia đinh khép lại tự lúc nào.