Chương 3: Hòn Gạch

# Chương 3: Hòn Gạch Người ta bảo đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, ngày tháng mười chưa cười đã tối. Thằng Bần chẳng biết câu ấy ai nghĩ ra, nhưng sang tới tháng Mười thì nó thấy đúng thật. Mặt trời mới ngả khỏi rặng tre đầu làng một chút là bóng tối đã từ dưới mương bò lên, từ bãi tha ma tràn xuống, chưa kịp làm xong việc gì cho ra hồn thì trời đã tối sập, gió bấc đầu mùa lại bắt đầu lùa qua những lỗ thủng trên vách điếm, lạnh tới mức nó phải nhét rơm trở lại từng lỗ một. Vụ mùa năm ấy cấy lại sau lũ nên muộn và thưa, lúa trổ không đều, chỗ vàng chỗ xanh loang lổ như cái áo vá. Nhưng dẫu sao thì cũng là mùa gặt, và mùa gặt thì bao giờ cũng có chuột. Cánh đồng Lò Trấu trơ gốc rạ tới đâu, thằng Bần lần theo bờ ruộng tới đấy. Nó chẳng có chó săn, chẳng có cuốc, chỉ có mười đầu ngón tay khẳng khiu với cái đầu mà cả làng bảo là đần. Nó đi dọc những bờ ruộng gồ ghề, nheo mắt nhìn từng cái hang, hang nào có đất đùn mới là hang có chuột, hang nào đất cũ đã khô thì bỏ qua. Nó lấy bùn ướt trét kín các lỗ ngách, chỉ chừa lại đúng một lỗ chính, rồi gom cỏ khô đốt lửa hun khói cho ngạt. Khói vừa xộc vào là lũ chuột béo núc ních chạy xộc ra, mà vừa thò cái mõm lên khỏi miệng hang là đã bị bàn tay đầy sẹo của nó tóm gọn, vặn gáy đánh rắc một tiếng. Có những con chuột cống to bằng bắp chân chó phản kháng dữ dội, nhe hai cái răng vàng khè cắn phập vào đốt ngón tay nó sâu tới tận xương. Thế mà nó vẫn cứ nhe răng cười, giơ ngón tay đầm đìa máu lên quệt bừa vào vạt bao tải rồi lại cúi xuống đào tiếp, bởi nó biết thừa thứ máu loãng của một thằng mồ côi ngõ Mương Đen thì chẳng đáng giá gì với ông trời. Ở cái thời buổi người ta còn ăn thịt lẫn nhau để sống này, máu nó còn chẳng bằng một giọt nước mưa. Tới quá trưa thì nó đã có một xâu mười hai con chuột, đem nướng rơm ngay trên bờ ruộng cho vàng ươm, mỡ tươm ra thơm lừng, rồi xách lên quán mụ Tú. --- Tám năm sống ở cái làng này, thằng Bần đã tự rút ra cho mình ba cái luật. Luật thứ nhất là nhịn thì sống. Luật thứ hai là đừng nhận ơn ai. Còn luật thứ ba thì nó học được từ lũ con nhà lão đồ tể, học bằng không biết bao nhiêu trận đòn: bị đánh thì cười. Nó để ý thấy thế này. Đứa nào bị đánh mà khóc, mà kêu, mà van xin, thì bọn kia lại càng đánh hăng, bởi cái tiếng khóc ấy làm chúng nó sướng, làm chúng nó thấy mình to lớn. Còn nếu mình không khóc, cứ nhe răng ra mà cười, cười ngây ngô như thằng đần, thì đánh mãi cũng chẳng thấy vui, chẳng mấy chốc mà chán, rồi bỏ đi. Cái cười của nó chẳng phải là cười. Đó là một cái khiên. Nó giơ cái khiên ấy lên suốt ba năm nay, và ba năm nay nó vẫn còn nguyên răng, nguyên mắt. Người ta vẫn bảo chó cắn áo rách, cái gì xui xẻo trên đời cũng đổ lên đầu đứa khốn khổ nhất. Thằng Bần thì chẳng than. Áo nó rách thật, nhưng nó có cái khiên. --- Hôm ấy nó đi tắt qua bờ ao đình để lên quán mụ Tú cho nhanh. Ao đình là cái ao to nhất làng, nước xanh đục, bèo tây phủ kín một nửa mặt ao, dưới đáy bùn sâu ngập tới thắt lưng người lớn. Trên bến ao lát đá, mấy người đàn bà đang ngồi giặt giũ, vo gạo, đập quần áo xuống mặt đá bình bịch. Thằng Bần đi men theo bờ ao, xâu chuột nướng cầm trên tay, đang nhẩm tính xem hôm nay mụ Tú sẽ ăn chặn của mình mấy phần thì chợt nghe sau lưng có tiếng huýt gió. Nó quay lại. Thằng Hợi đứng chắn giữa bờ ao, hai tay chống nạnh, sau lưng là hai thằng em nó với hai đứa nữa đi theo. Mới mấy tháng mà thằng Hợi đã cao hẳn lên, vai u thịt bắp như con nghé, mặt đỏ gay, và bên má trái có một vết lằn tím bầm chạy dài từ mang tai xuống tận cằm, cái vết lằn của một chiếc roi da trâu. Thằng Bần biết cái vết ấy từ đâu ra. Sáng nay cả xóm Mương Đen nghe lão đồ tể gào thét, bảo thằng con cả chăn lợn thế nào để lạc mất một con lợn nái sắp đẻ, rồi tiếng roi quất vun vút vọng ra từ sau lò mổ. Người lớn bị đòn thì đi uống rượu. Trẻ con bị đòn thì đi tìm đứa yếu hơn mình mà đánh. Cái lẽ ấy thằng Bần biết rõ lắm, nhưng biết rồi cũng chẳng làm gì được. "Chuột nướng à?" Thằng Hợi nhếch mép, bước tới một bước. "Đưa đây." Thằng Bần chìa xâu chuột ra ngay, nhe răng cười hềnh hệch. "Dạ anh cầm lấy ạ. Chuột đồng béo lắm anh ạ, con vừa nướng xong, còn nóng." Thằng Hợi giật phắt xâu chuột, cắn một miếng, nhai rồm rộp. Rồi nó dừng nhai. Nó nhìn cái mặt đang cười hềnh hệch của thằng Bần, nhìn mãi, và cái nhìn ấy mỗi lúc một tối lại. "Mày cười cái gì?" "Dạ... con có cười gì đâu ạ." "Mày cười cái gì?" Thằng Hợi vứt xâu chuột xuống đất, dẫm lên, rồi túm lấy cổ áo bao tải của nó mà giật mạnh. "Mày thấy tao bị bố tao đánh thì mày sướng lắm à? Mày cười vào mặt tao à?" Thằng Bần hiểu ra, muộn mất một nhịp. Cái khiên của nó đã quay ngược lại đâm vào chính nó. Hôm nay thằng Hợi không muốn nhìn thấy ai cười. Mà nó thì chẳng biết làm gì khác ngoài cười. "Dạ con không dám ạ, anh Hợi, con không..." Chưa nói dứt câu thì nó đã bị ném xuống ao. --- Nước ao lạnh buốt, đục ngầu, xộc thẳng vào mũi vào miệng nó. Nó ngoi lên được một nhịp, vừa kịp hớp một ngụm khí thì đã bị một bàn tay to bè ấn đầu dìm xuống. Rồi thêm một bàn tay nữa túm lấy tóc nó. Thằng Hợi với hai thằng em đã lội xuống ao, nước ngập tới ngực chúng nó mà chỉ ngang cổ thằng Bần, và chúng nó thay nhau dìm, dìm xuống rồi kéo lên, kéo lên được nửa nhịp thở lại dìm xuống, vừa dìm vừa cười hô hố. "Cười nữa đi! Cười nữa đi xem nào!" "Uống nước bùn cho no đi, thằng ăn mày!" Trên bến ao, mấy người đàn bà đã thôi đập quần áo. Có một bà đứng hẳn lên, định nói gì đó, thì bà ngồi cạnh đã kéo tay áo lại, thì thào bảo đánh chó phải ngó chủ, con nhà lão đồ tể đấy, cả xóm nợ tiền thịt nhà lão, bà muốn nhà bà ăn cháo cám tới Tết hay sao. Thế là bà kia lại ngồi xuống, quay mặt đi, cầm cái chày đập quần áo tiếp, đập mạnh hơn trước, như thể tiếng chày át được đi cái tiếng nước bì bõm ở giữa ao. Dưới nước, thằng Bần không nghe thấy gì nữa. Chỉ có một màu xanh đục ngầu, lạnh lẽo, rễ bèo tây quấn lấy mặt nó như những ngón tay ướt nhẹp. Nó vùng vẫy, rồi vùng vẫy yếu dần, rồi thôi. Ngực nó như có ai đè lên một tảng đá. Và trong cái khoảnh khắc lạ lùng ấy, nó lại nghĩ tới những chuyện chẳng đâu vào đâu: nghĩ tới lớp cháy dưới đáy nồi bánh đúc của mụ Tám, nghĩ tới cái ngôi mả không người thăm nó nhổ cỏ hôm Thanh minh, nghĩ tới bát cháo ngô nó đổ xuống từng ngôi mả mới hồi mùa dịch. Nó nghĩ, chết đuối chắc cũng chẳng đau hơn bị đói là mấy. Mà chết rồi thì chắc là không đói nữa. Cái cười của nó, lần đầu tiên, chẳng cứu được nó. Rồi bỗng có một tiếng thét vỡ toang trên mặt nước, và những bàn tay đang ấn trên đầu nó đột ngột buông ra. --- "TỔ SƯ CHÚNG MÀY!" Một cái bóng gầy nhẳng lao từ trên bờ xuống, trên tay giơ cao nửa hòn gạch vồ nhặt được ở chân bức tường đình sạt lở, và đập thẳng vào bả vai thằng Hợi. Thằng Hợi rú lên một tiếng như lợn bị chọc tiết, loạng choạng ngã ngửa ra sau, nước bắn tung toé. Là cái thằng bé cao nhồng đội nón mê. Cái nón đã văng mất đâu, để lộ ra khuôn mặt đen bóng, đôi mắt hẹp dài đang long lên sòng sọc, và cái răng khểnh nhọn hoắt nhe ra như răng chó dại. Hai thằng em thằng Hợi với hai đứa đi theo chỉ khựng lại có một nhịp, rồi cả bọn cùng xông vào. Năm đánh một. Chúng nó đè thằng bé xuống nước, đấm, đá, túm tóc, cào cấu. Thằng bé chẳng đỡ, chẳng né, cứ nhắm vào đứa nào gần nhất mà cắn, mà đấm, mà húc đầu vào, đánh như một con chó hoang bị dồn vào góc chuồng. Rồi thằng Hợi, bả vai còn đang rũ xuống một bên, nhặt được hòn gạch rơi dưới nước, vung lên mà nện một cái. Cạnh gạch sắc lẹm phạt trúng trán thằng bé, sứt đi một mảng. Máu tuôn ra ngay tức khắc, đỏ lòm, xối xả, trùm kín cả một nửa khuôn mặt, chảy xuống cằm, xuống ngực, nhỏ tong tỏng xuống mặt nước ao xanh đục. Thế mà thằng bé vẫn đứng dậy. Nó lấy mu bàn tay quệt ngang mặt, quệt tới đâu máu nhoe nhoét tới đó, rồi nhe cái răng khểnh dính máu ra mà cười, mà chửi, chửi to tới mức cả bến ao, cả sân đình phía trên đều nghe thấy. "Mẹ kiếp! Đánh nữa đi! Thằng cha mày có giỏi thì đánh chết tao đi! Tao chưa chết đâu! Đứa nào ngon thì vào đây!" Bọn con nhà đồ tể đứng sững lại giữa ao. Chúng nó đánh người thì quen rồi, nhưng chưa từng thấy đứa nào máu me đầm đìa như thế mà vẫn cười, vẫn chửi. Trên bến ao, mấy người đàn bà lúc nãy giờ mới ré lên chết người rồi, chết người rồi, và cái tiếng ấy làm lũ trẻ tái mặt. Đánh nhau thì chẳng sao, chứ lỡ đánh chết người thì lý trưởng cũng chẳng che cho được. Thằng Hợi ôm bả vai, lùi dần vào bờ, vừa lùi vừa hằm hằm chỉ tay vào mặt hai đứa, rồi cả bọn cắm đầu chạy mất. --- Thằng Bần bám theo rễ bèo mà bò lên được bờ, nằm sấp trên đất nôn ra một bụng nước bùn. Nó ho sặc sụa tới mức tưởng lộn cả ruột gan ra ngoài, rồi mới gượng ngẩng lên được. Thằng bé đội nón mê đang ngồi bệt ở mép nước, một tay ôm trán, máu vẫn rỉ qua kẽ ngón tay. Thằng Bần bò tới, kéo tay nó đứng dậy, dìu nó lên cái giếng đình ở đầu sân. Nó thả gầu xuống múc nước, lấy nước giếng trong vắt dội lên trán thằng bé cho trôi bớt máu với bùn, rồi xé một mảnh bao tải ở vạt áo mình, gấp lại, ấn chặt lên vết thương như nó vẫn thấy người lớn làm. Nó chẳng biết thuốc thang gì cả. Nó chỉ biết ấn thật chặt, và cầu cho máu đừng chảy nữa. Máu thấm qua mảnh bao tải, đỏ lên từng chút một dưới bàn tay nó. Và thằng Bần khóc. Nó khóc không thành tiếng, nước mắt cứ thế chảy ròng ròng xuống hai gò má lấm bùn. Tám năm nay nó bị đánh chẳng biết bao nhiêu trận mà chưa từng khóc lấy một lần, bởi khóc thì đòn đau hơn. Vậy mà giờ đây, khi chẳng còn ai đánh nó nữa, nó lại khóc. Nó khóc vì có người vừa chảy máu thay cho nó, mà cả đời nó chưa từng có ai làm thế. "Khóc cái gì." Thằng bé nhăn mặt, đẩy tay nó ra. "Mày khóc như con gái ấy." "Sao... sao mày lại xông vào?" Thằng Bần nấc lên. "Chúng nó năm đứa cơ mà." Thằng bé im lặng một lúc, mắt nhìn đi chỗ khác. "Mày đào mả cho u tao." Cuối cùng nó nói. "Giờ thì hết nợ." "Tao có bắt mày trả đâu." "Tao đã bảo rồi. Tao không thích nợ ai." Thằng Bần quệt nước mắt, sụt sịt một hồi, rồi nói lí nhí, giọng thật thà như đang nói một chuyện hệ trọng. "Nhưng giờ... giờ thì tao lại nợ mày." Thằng bé quay sang nhìn nó, trố mắt, như thể không tin nổi có đứa lại ngu tới mức ấy. Rồi nó phá ra cười, cười tới mức phải ôm trán vì đau, cái răng khểnh nhe ra còn dính máu. "Thằng này đần thật." Nó lắc đầu. "Thế thì thôi. Từ giờ chẳng đứa nào nợ đứa nào nữa. Có gì chia đôi." Nó chìa bàn tay đầy máu với bùn ra. "Tao tên Hạc. Nhưng cả làng gọi tao là Cò. Mày gọi thế cũng được." "Tao..." Thằng Bần ngập ngừng. "Người ta gọi tao là thằng Bần." "Biết rồi. Tên gì mà xấu thế." Thằng Cò nắm lấy tay nó, bóp mạnh một cái. "Từ giờ đứa nào đụng vào mày là đụng vào tao." Rồi nó đút hai ngón tay vào miệng, huýt một hồi sáo chói tai. Ba tiếng ngắn. Một tiếng dài. "Nghe thấy tiếng này là tao. Có chuyện gì thì ra miếu Thần Nông đầu ngõ mà chờ." --- Túp lều của mụ Tám ở cuối xóm Hạ đã bị người nhà ông Bá Hộ dỡ đi từ sau mùa lũ, bởi nó dựng nhờ trên đất nhà ông, mà người chết thì chẳng còn ai trả tiền thuê đất. Thằng Cò chẳng còn chỗ nào để về. Thế là chiều hôm ấy, nó theo thằng Bần về cái điếm hoang dưới chân Dốc Cửa Mả. Ngày tháng mười chưa cười đã tối. Hai đứa mới ngồi xuống ổ rơm được một lúc thì bóng tối đã tràn vào đầy điếm. Thằng Cò lần trong cạp khố lôi ra một củ khoai lang, chẳng biết chôm được ở đâu, bẻ đôi, đưa cho thằng Bần một nửa. Thằng Bần nhìn nửa củ khoai, rồi rụt tay lại, theo thói quen. "Chia đôi." Thằng Cò dúi củ khoai vào tay nó. "Không phải cho. Tao đã bảo rồi, có gì chia đôi." Thằng Bần cầm lấy. Nó cắn một miếng, nhai chậm rãi, và nó thấy củ khoai ấy ngọt hơn bất cứ củ khoai nào mụ Tú từng ném cho nó. Thằng Cò ăn xong thì ngả lưng ra ổ rơm, gác chân lên vách, liếc thấy mấy bó rơm chèn kín cửa điếm. "Mày chèn cửa làm gì thế? Sợ ma à?" "Ma què." Thằng Bần kể lại chuyện đêm mưa, chuyện tiếng gậy gõ cộc cộc, chuyện hàng dấu chân với những cái lỗ tròn trên mặt bùn. Thằng Cò nghe xong thì cười khẩy, bảo ma thì tao đập bằng gạch, rồi vớ lấy cái dùi trống gãy buộc dây chuối trên xà, gõ một cái vào mặt trống rách. Bục. Cái âm thanh khô khốc ấy vang lên trong điếm, và hai đứa nhìn nhau, rồi chẳng hiểu vì sao cùng phá ra cười, cười rũ rượi, cười tới chảy cả nước mắt. Cười chán, thằng Cò mới ngồi dậy, nghiêng đầu nhìn qua khe vách lên phía đỉnh dốc tối om. "U tao nằm trên kia à?" "Ừ." Thằng Bần gật đầu. "Ngay cạnh cái mả không người thăm. Hôm Thanh minh tao nhổ cỏ cho nó rồi." Thằng Cò im lặng một lúc lâu, rồi lẩm bẩm, giọng nhỏ hẳn đi. "Thế thì u tao có bạn." Nó lại nằm xuống, gác tay lên trán, chỗ mảnh bao tải đã khô cứng lại vì máu. Được một lúc, nó hỏi, mắt vẫn nhìn lên mái rạ. "Sao mày không đánh lại chúng nó?" "Đánh lại thì chúng nó đánh đau hơn." "Ngu." Thằng Cò chép miệng. "Mày không đánh lại thì chúng nó tưởng mày không biết đau. Mà đã tưởng mày không biết đau thì chúng nó đánh mãi. Mày cứ cắn cho chúng nó một miếng xem, lần sau chúng nó nghĩ lại ngay." Thằng Bần không đáp. Nó chưa từng nghĩ theo cái lối ấy bao giờ. Đêm ấy, nằm trong ổ rơm, nghe tiếng thở đều đều của thằng Cò bên cạnh, thằng Bần mở mắt nhìn lên mái rạ thủng lỗ chỗ mà nghĩ ngợi rất lâu. Người ta bảo con giun xéo lắm cũng quằn. Vậy mà nó bị người ta xéo lên cả đời, chưa quằn lấy một lần. Lần đầu tiên có người quằn lên, lại là quằn thay cho nó. Ba cái luật của nó, hôm ấy gãy mất một. Nhưng nó có thêm một thằng bạn. Từ hôm ấy, thằng Bần theo thằng Cò như bóng theo hình.
Chương trước Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ