Vụ chiêm năm ấy gặt về được chẳng bao nhiêu.
Lúa trổ bông giữa lúc gió Lào thổi rát, hạt lép quá nửa, gặt xong đem đóng thuế, trả nợ lãi cho nhà ông Bá Hộ, trả nốt mấy suất phu phen mà quan huyện bổ xuống, thì bồ thóc nhà nào cũng lại vơi tới đáy. Người Lò Trấu chưa kịp thở ra được một hơi cho đỡ đói thì trời đã chuyển sang mưa.
Người xưa bảo tháng bảy nước nhảy lên bờ, mà năm nay nước chẳng đợi tới tháng Bảy. Mới cuối tháng Sáu, mây đen đã kéo về đặc kín chân trời phía Bắc, rồi cứ thế mưa, mưa ngày này sang ngày khác, mưa dầm dề không dứt, cái thứ mưa không to mà không bao giờ tạnh, thấm vào vách đất, thấm vào mái rạ, thấm vào cả xương thịt con người. Mương Đen dâng lên tràn cả vào ngõ, nước đen ngòm lềnh bềnh rác rưởi với xác chuột chết trương phềnh, đi đâu cũng phải lội. Ruộng mạ vụ mùa vừa cấy xuống đã chìm nghỉm dưới một biển nước đục ngầu, chỉ còn trơ lại mấy ngọn cỏ lác vẫy vẫy như những bàn tay người chết đuối.
Cái điếm hoang của thằng Bần dột như cái rây. Nó dồn ổ rơm lên cái sạp tre cũ kê sát vách, nằm co quắp ở đó, suốt đêm nghe mưa rơi lộp độp trên mái, nghe nước nhỏ tong tỏng xuống nền đất, rồi nghe cả tiếng nước dưới chân dốc dâng lên, mỗi đêm một cao hơn, liếm dần tới bậc cửa điếm.
Đêm thứ mười chín của trận mưa, nó bị đánh thức bởi một thứ âm thanh lạ.
Không phải tiếng mưa. Mà là một tiếng ào ào trầm đục vọng về từ phía xóm Hạ, tiếng của một thứ gì đó rất nặng vừa vỡ ra. Thằng Bần ngồi bật dậy, chạy ra cửa điếm, căng mắt nhìn vào màn mưa đen đặc. Nó không thấy gì cả, nhưng nó nghe, và nó biết ngay đó là tiếng gì. Con đê cũ phía xóm Hạ, cái con đê bỏ không từ hồi sông đổi dòng, đã vỡ.
Nó quay vào, trèo lên sạp, với tay túm lấy cái dùi gỗ mục vẫn treo cạnh cái trống trên xà, rồi đánh.
Bục. Bục. Bục.
Mặt trống rách, dùi gỗ mục, cái âm thanh bật ra chỉ khô khốc như tiếng gõ cửa, tắt lịm ngay trong tiếng mưa. Nó đánh mạnh hơn, đánh tới mức cánh tay tê dại, đánh tới mức cái dùi gãy đôi trong tay, mà ngoài kia vẫn chẳng có ánh đuốc nào bật lên, chẳng có tiếng người nào gọi nhau.
Thằng Bần vứt cái dùi gãy xuống, lao ra khỏi điếm, chạy thẳng vào màn mưa.
Nó chạy dọc con đường đất đã ngập tới bắp chân, vừa chạy vừa gào, gào tới rách cả cổ họng: "Nước lên! Đê vỡ rồi! Nước lên!" Nó đập cửa từng nhà ở xóm Hạ, đập bằng cả hai bàn tay, đập tới khi trong nhà có tiếng người lớn quát tháo chửi rủa thì chạy sang nhà khác đập tiếp. Người ta lục tục thức dậy, rồi tiếng la hét bắt đầu nổi lên khắp xóm, tiếng trẻ con khóc, tiếng lợn kêu eng éc, tiếng người gọi nhau í ới trong bóng tối, đuốc bật lên chỗ này chỗ kia, và dòng người bắt đầu dắt díu nhau chạy ngược lên phía Dốc Cửa Mả, nơi cao nhất làng.
Nước tràn vào xóm Hạ trước khi trời sáng.
Sáng hôm sau, đứng trên Dốc Cửa Mả nhìn xuống, cả xóm Hạ chỉ còn là những mái rạ nhô lên giữa một biển nước vàng đục. Mấy túp lều lụp xụp nhất đã bị cuốn trôi mất tăm, chỉ còn lại mấy cái cọc tre chỏng chơ. Lợn gà chết nổi lềnh bềnh. Người ta đứng chen chúc trên bãi tha ma, giữa những ngôi mả, co ro trong mưa, nhìn xuống cơ nghiệp của mình chìm dưới nước mà không ai nói nổi một lời.
Rồi có người bắt đầu đếm. Xóm Hạ có ba mươi hai nhà, chạy lên được hai mươi chín nhà. Ba nhà còn lại ở sát chân đê nhất, nước về nhanh quá, không chạy kịp.
Mấy ngày sau, khi nước rút dần, người ta mới bàn tán với nhau xem đêm ấy ai là người đi đập cửa gọi cả xóm dậy. Có người bảo là thằng con trai ông trùm làng, bởi nhà ông trùm ở gần đấy nhất. Có người bảo là ông tuần đinh đi canh đêm. Thằng con ông trùm nghe vậy thì cũng chẳng cãi, cứ nhận là mình, được mấy nhà xóm Hạ mang sang biếu mỗi nhà một con cá rô bắt được sau lũ.
Chẳng ai nhắc tới thằng Bần. Mà thằng Bần cũng chẳng nói gì. Người ta đâu có tin một thằng như nó lại đi làm cái việc ấy, mà nói ra thì người ta lại bảo nó nhận vơ, rồi lại có chuyện. Một điều nhịn chín điều lành. Nó ngồi ở cửa điếm, vắt khô cái bao tải ướt sũng, nhìn cái dùi trống gãy đôi nằm dưới đất, rồi nhặt lên, lấy sợi dây chuối buộc hai nửa lại với nhau, treo về chỗ cũ trên xà.
---
Nước rút đi để lại bùn, và bùn để lại dịch.
Chỉ nửa tháng sau lũ, xóm Hạ bắt đầu có người chết. Đầu tiên là một ông cụ, sáng thức dậy nôn thốc nôn tháo, đi ngoài ra toàn nước, tới chiều thì người đã khô quắt lại như con tôm nướng, mắt trũng sâu hoắm, đêm ấy thì đi. Hôm sau là hai đứa trẻ con nhà bên cạnh. Hôm sau nữa là bốn người. Rồi dịch lan lên xóm Trung, xóm Thượng. Người ta gọi nó là bệnh thổ tả, gọi thì gọi vậy thôi chứ chẳng ai biết chữa, chỉ biết thắp hương khấn vái, dán bùa lên cửa, rồi đóng cửa lại trốn trong nhà.
Ông lang xóm Trung thì không trốn. Ông đi từ nhà này sang nhà khác, điếu cày kẹp nách, đi tới đâu khói thuốc lào khét lẹt ám tới đó. Ông bắt người ta đun sôi nước rồi mới được uống, bắt đốt hết quần áo chiếu chăn của người chết, và dặn lý trưởng một câu mà sau này cả làng nhắc lại mãi: người chết phải chôn cho nhanh, chôn cho sâu, chôn cho xa giếng.
Nhưng chôn thì phải có người đào. Mà giữa lúc dịch đang hoành hành, chẳng ai dám động vào xác người chết thổ tả. Người ta sợ cái dịch bám vào mình, sợ cả cái hồn người chết đói chết bệnh còn quanh quẩn đâu đó chờ bắt người thế mạng. Lý trưởng đứng giữa sân đình hô mãi chẳng ai chịu nhận. Rồi có ai đó sực nhớ ra, hồi tháng Ba, cái thằng ranh ngủ ở điếm hoang đã một mình đào huyệt cho mụ Tám bán bánh đúc.
Thế là lý trưởng sai người xuống điếm gọi thằng Bần lên.
"Đào mỗi cái huyệt, tao cho mày một bát cháo." Lý trưởng nói, đứng cách xa nó đến mấy bước, tay bịt mũi bằng vạt áo. "Cháo ngô hẳn hoi, không phải cháo cám. Làm không?"
"Dạ, con làm ạ."
Thằng Bần đáp ngay, chẳng kịp nghĩ ngợi gì, bởi một bát cháo ngô giữa mùa này thì với nó còn quý hơn cả một nén bạc.
---
Từ hôm ấy, ngày nào thằng Bần cũng ở trên Dốc Cửa Mả.
Sáng nó vác mai lên từ lúc sương còn chưa tan, chiều tối mới vác xuống. Có ngày nó đào hai cái huyệt, có ngày ba cái, có ngày năm cái, hai bàn tay phồng rộp rồi chai lại, chai rồi lại nứt, nứt ra thì nó lấy bùn đắp vào cho đỡ xót rồi cầm mai đào tiếp. Lão mõ với mấy người phu khiêng xác cứ chiều chiều lại khiêng lên những cái bó chiếu mới, bó to bó nhỏ, có bó nhỏ tới mức một người cắp nách cũng đi được. Người ta thả xuống huyệt, lấp đất, cắm cọc, rồi quay về thật nhanh, chẳng ai muốn nán lại cái bãi tha ma đang mỗi ngày một đông thêm ấy lâu hơn một khắc.
Chỉ có thằng Bần là ở lại.
Nó ngồi bệt giữa những ngôi mả mới đắp, đất còn đỏ tươi, còn ướt, mùi đất mới trộn với mùi tro chiếu cháy, và húp bát cháo ngô lý trưởng sai người mang lên. Cháo loãng, ngô lổn nhổn, nguội ngắt từ lúc nào, mà với nó thì ngon hơn bất cứ thứ gì nó từng được ăn trong năm nay. Nhưng bao giờ cũng vậy, trước khi húp ngụm đầu tiên, nó lại lấy cái thìa gỗ múc một thìa đổ xuống cái mả mới nhất, cái mả nó vừa lấp xong.
Nó chẳng biết cúng thế có đúng phép hay không. Nó chỉ nghĩ, người nằm dưới ấy chắc cũng đói như nó, có khi đói tới chết. Giờ nằm xuống rồi mà vẫn đói thì tội quá.
Có một buổi chiều, một nhà ở xóm Trung khiêng bà mẹ già lên chôn. Bà cụ chết không phải vì thổ tả, mà vì con dâu bỏ đói từ đầu mùa lũ, cả xóm ai cũng biết. Thế mà lúc hạ huyệt, cô con dâu lại lăn ra giữa bãi tha ma mà khóc lóc thảm thiết, khóc tới ngất lên ngất xuống, rồi bày ra một mâm cúng có cả trứng luộc với chè đường, đốt một đống vàng mã to tướng khói bay mù mịt cả góc dốc. Lão mõ đứng chống mai bên cạnh thằng Bần, nhổ toẹt một bãi nước bã trầu xuống đất, lẩm bẩm bảo sống thì chẳng cho ăn, chết thì làm văn tế ruồi. Thằng Bần không hiểu văn tế ruồi là gì, nhưng nó hiểu cái ý của lão, và nó nhìn quả trứng luộc trắng muốt trên mâm cúng mà nghĩ, giá bà cụ được ăn quả trứng ấy lúc còn sống thì có lẽ bà đã chẳng phải lên đây.
---
Người cuối cùng nó chôn trong mùa dịch năm ấy là chồng chị Mận ở xóm Hạ.
Người chồng ấy vốn là một trong những người khiêng xác lên dốc hồi đầu mùa dịch, khiêng được mười hôm thì chính mình ngã xuống. Chị Mận tự tay bó xác chồng bằng manh chiếu duy nhất trong nhà, cõng thằng con hai tuổi đang ốm sau lưng, đi theo phu khiêng xác lên dốc. Chị không khóc thành tiếng, chỉ đứng nhìn thằng Bần lấp từng xẻng đất xuống, hai mắt đỏ quạch.
Lấp xong, chị lần trong vạt áo lấy ra một cái túi vải nhỏ, dúi vào tay nó.
"Cầm lấy, con." Giọng chị khàn đặc. "Nắm ngô rang. Chị chẳng còn gì khác."
Thằng Bần giật tay lại như bị bỏng. Nó lùi ra sau mấy bước, giấu biến hai bàn tay ra sau lưng, rồi nhe răng cười hềnh hệch như mọi khi.
"Dạ thôi ạ, con no rồi ạ. Lý trưởng cho con cháo rồi. Chị để phần cho em bé ạ."
Đúng lúc ấy, cái bụng lép kẹp của nó réo lên một tràng dài, to tới mức chị Mận cũng nghe thấy.
Chị ngẩn người nhìn nó, tay vẫn chìa cái túi vải ra. Thằng Bần đỏ bừng mặt, cúi đầu vái chị một cái thật sâu, rồi quay lưng chạy biến vào bụi tre đầu dốc, chạy như bị ma đuổi, để lại chị Mận đứng một mình giữa bãi tha ma với cái túi ngô rang trong tay.
---
Nó không nhận, bởi nó còn nhớ bà vú.
Ba năm trước, hồi nó mới lên năm, nhà ông Bá Hộ có thuê một bà vú nuôi để cho thằng cháu đích tôn bú. Bà vú là người làng bên, người đẫy đà, má đỏ, lúc nào cũng cười, mà đám trẻ con trong làng gọi là u Hai. Mỗi lần bế thằng cháu nhà ông Bá Hộ ra cổng hóng gió, u Hai lại thấy thằng Bần gầy nhom ngồi lê la ở gốc rơm bên kia đường, và lần nào u cũng nhìn nó rất lâu, cái nhìn mà sau này nó mới hiểu là thương.
Một hôm nhà ông Bá Hộ làm giỗ. Tối ấy, khi khách khứa đã về hết, u Hai lẻn ra cổng sau, dúi vào tay nó một nắm xôi gói trong lá chuối, xôi còn ấm, thơm mùi gạo nếp mới với mùi đỗ xanh.
"Ăn đi con. Ăn nhanh lên, kẻo người ta thấy."
Thằng Bần ngồi xổm sau đống rơm mà ăn, ăn vội tới mức nghẹn, vừa ăn vừa khóc mà chẳng biết mình khóc vì sao. Đó là lần đầu tiên trong đời nó biết thế nào là no.
Sáng hôm sau, cả làng nghe tiếng roi quất vun vút vọng ra từ sân nhà ông Bá Hộ.
Bà Bá Hộ đếm lại đĩa xôi trên ban thờ, thấy vơi mất một góc, lại có đứa ở mách là tối qua thấy u Hai lén ra cổng sau. Thế là u Hai bị lôi ra giữa sân, bắt quỳ trên nền gạch, bà Bá Hộ cầm cái roi mây quất tới tấp vào lưng, vừa quất vừa chửi, chửi tới mức cả xóm Thượng đứng ngoài cổng nghe thấy.
"Đồ ăn cắp! Ăn cắp cả đồ cúng tổ tiên nhà tao! Ăn một miếng, tiếng một đời, mày có biết không?"
Thằng Bần nấp sau đống rơm bên kia đường, nhìn qua khe cổng. Nó thấy u Hai quỳ im, không kêu một tiếng, hai tay ôm lấy thằng cháu đích tôn nhà ông Bá Hộ đang khóc thét trong lòng, còn lưng áo u thì rách toạc từng vệt, rớm máu đỏ lòm.
Nó muốn chạy ra. Nó muốn chạy ra mà nói rằng nắm xôi là con ăn, u không ăn, u chỉ cho con thôi. Hai chân nó đã nhổm lên rồi.
Nhưng rồi nó dừng lại.
Bởi cái đầu nó, cái đầu mà cả làng bảo là đần, đã kịp nghĩ ra rằng nếu nó chạy ra lúc này, bà Bá Hộ sẽ biết u Hai ăn cắp đồ cúng đem cho một thằng ăn mày, mà ăn cắp cho người ngoài thì tội còn nặng hơn ăn cắp cho mình. Rồi người ta sẽ đánh u nặng hơn. Rồi người ta sẽ đánh cả nó. Chạy ra chẳng cứu được ai, chỉ thêm một người bị đánh.
Thế là thằng bé năm tuổi ấy ngồi im sau đống rơm, cắn chặt vào cánh tay mình cho khỏi bật ra tiếng khóc, cắn tới khi rớm máu, và nhìn cho tới roi cuối cùng.
U Hai bị cúp một tháng tiền công, rồi mấy hôm sau thì bị đuổi về làng bên. Hôm u đi, thằng Bần đứng nấp ở bụi tre đầu làng, nhìn u khoác cái tay nải nhỏ, lưng còng xuống, bước chậm chạp trên con đường đất. Nó không dám ra chào. Nó sợ u nhìn thấy nó.
Từ hôm ấy, nó không bao giờ gặp lại u Hai nữa.
Và từ hôm ấy, nó hiểu câu ăn một miếng tiếng một đời theo một nghĩa mà bà Bá Hộ không hề nghĩ tới. Miếng là nó ăn, còn cái tiếng thì người cho nó phải mang. Cho nên người ta có thương nó thì cũng đừng cho nó cái gì cả. Nó làm lụng thì nó nhận công, sòng phẳng như cái nồi cháy của mụ Tám, như bát cháo ngô của lý trưởng. Còn thứ gì cho không, dù là một nắm ngô rang, thì nó không nhận. Nó không muốn có thêm ai bị lôi ra giữa sân vì nó nữa.
Luật thứ hai của thằng Bần là như thế: đừng nhận ơn ai.
---
Mùa dịch lui dần vào cuối tháng Bảy. Bãi tha ma trên Dốc Cửa Mả đông thêm bốn mươi mốt ngôi mả mới, ngôi nào cũng do một tay thằng Bần đào.
Một đêm cuối tháng, trời lại đổ mưa.
Thằng Bần nằm co trong ổ rơm, nghe mưa rơi trên mái rạ, nghe gió rít qua những lỗ thủng trên vách. Rồi trong tiếng mưa, nó nghe thấy một thứ âm thanh khác.
Cộc. Cộc. Cộc.
Tiếng gỗ gõ xuống mặt đường đất, chậm rãi, đều đều, lẫn với tiếng bước chân lép nhép trong bùn, một bước nặng, một bước nhẹ. Âm thanh ấy đi dọc con đường dưới chân dốc, tới trước cửa điếm thì dừng lại.
Thằng Bần nín thở.
Nó nằm im, không dám cựa quậy, mắt mở trừng trừng nhìn về phía cửa điếm tối om. Ngoài kia chẳng có ánh đuốc, chẳng có tiếng người, chỉ có tiếng mưa. Cái âm thanh ấy đứng lại đó rất lâu, lâu tới mức thằng Bần tưởng mình đã nghe nhầm.
Rồi tiếng gỗ gõ lại vang lên. Cộc. Cộc. Cộc. Chậm rãi đi ngược lên dốc, về phía bãi tha ma, xa dần, xa dần, rồi tắt hẳn trong tiếng mưa.
Sáng hôm sau, thằng Bần ra cửa điếm nhìn xuống mặt đường. Trên lớp bùn nhão còn in một hàng dấu vết kỳ lạ: một dấu bàn chân trần to bè, rồi một cái lỗ tròn nhỏ bằng đầu ngón tay cái, rồi lại một dấu bàn chân, rồi lại một cái lỗ tròn. Hàng dấu ấy dừng lại ngay trước bậc cửa điếm, rồi quay đầu đi thẳng lên dốc.
Nó đem chuyện ấy kể với lão mõ. Lão mõ nghe xong thì mặt tái đi, bảo đấy là con ma què ở Dốc Cửa Mả, người già trong làng đồn từ lâu rồi, đêm mưa hay đi lang thang tìm người thế mạng, mày còn ngủ ở cái điếm ấy thì có ngày nó bắt mày đi.
Thằng Bần gãi đầu, nhe răng cười, bảo con gầy thế này ma nó cũng chê.
Nhưng đêm hôm ấy, lần đầu tiên sau bao nhiêu năm ngủ ở cái điếm hoang, nó lấy thêm mấy bó rơm chèn kín cái cửa lại.