Chương 1: Tháng Ba Ngày Tám

QUYỂN MỘT: ĐẠI XUÂN BIÊN NIÊN SỬ ARC 1: Phong Khởi Sương Reo Trời hành một cõi Đại Xuân Ngoài biên khói lửa, trong dân đói lòng Vua ngồi ngai mục hư không, Quyền nghiêng tay khác, dân trong vũng lầy. Mương Đen có một thằng gầy Không tên không họ, tháng ngày lang thang Bùn đen nuôi lớn thân hoang Mai sau trời hỏi, ta mang tên gì? **Tháng Ba năm Đinh Dậu.** Dân làng Lò Trấu có câu "tháng ba ngày tám", nói ra thì nhẹ tênh như người ta than trời mưa trời nắng, nhưng ai đã sống qua một mùa giáp hạt ở cái xó biên ải này thì đều hiểu bốn chữ ấy nặng tới nhường nào. Lúa chiêm ngoài đồng mới đứng cái, lá còn xanh non như mạ, phải đợi hơn một tháng nữa mới trổ bông, mà thóc năm cũ thì đã vét sạch từ trước Tết, bồ nhà nào cũng trống hoác, dưới đáy chỉ còn một lớp bụi cám với mấy con mọt già bò lổm ngổm. Thế là người ta ăn độn. Độn khoai, độn sắn, rồi khoai sắn cũng cạn thì độn củ chuối, củ ráy, rau má, rau dền dại mọc ven bờ mương; nhà nào khá thì nấu cháo loãng, loãng tới mức cúi xuống soi được cả mặt mình trong bát, còn nhà nào kiệt hẳn thì đem cám lợn ra nấu, ăn xong ngồi ợ lên cái mùi chua loét của thứ vốn dành cho lợn. Cả làng cùng đói, nhưng đói cũng có thứ bậc của nó. Nhà ông Bá Hộ ở xóm Thượng vẫn thổi cơm gạo tám ngày hai bữa, khói bếp bay thơm cả một khúc đường cái. Nhà ông trùm làng ăn cơm độn ngô. Nhà lão đồ tể thì chẳng bao giờ thiếu mỡ, bởi lợn có thể đói chứ người mổ lợn thì không. Còn xuống tới cái Ngõ Mương Đen ở rìa làng thì đói không còn là chuyện bữa ăn nữa, mà là chuyện sống hay chết. Người già trong làng hay bảo trời hành cõi Đại Xuân, nói xong thì thở dài một hơi, như thể đổ được hết tội lên đầu ông trời thì trong lòng cũng nhẹ đi một chút. Mà trời hành thật. Ngoài Bắc, bên kia bức tường thành đá đã sạt quá nửa là đất Hạo Nguyên, kỵ binh Hoang Nguyên cứ năm dăm tháng lại vượt biên một lần, đốt vài cái làng rồi rút đi gọn ghẽ như người ta đi gặt lúa nhà mình. Trong Nam, bên kia sông Gianh, Lĩnh Nam nằm im đã mấy chục năm mà chẳng ai tin là nó nằm im thật. Còn ở giữa, tại Thành Phượng Thê, vua Lê vẫn ngồi trên ngai, người ta bảo thế, chứ việc nước thì nghe đâu nằm cả trong phủ ông Thượng Phụ họ Trịnh, cho nên dân gian mới có câu vua ở trong cung, quyền ở trong phủ. Ông Thái Úy họ Đặng giữ binh quyền thì lại chẳng ưa gì ông Thượng Phụ, mà hai ông trên triều cứ mỗi lần cãi nhau là dưới này thuế lại nặng thêm một bậc, lính lại bắt thêm mấy suất. Dân Lò Trấu chẳng ai hiểu hai ông cãi nhau chuyện gì, chỉ biết đếm xem nhà mình còn mấy đấu thóc để nộp. Mấy năm nay lại thêm cái chuyện yêu ma. Chưa ai ở Lò Trấu tận mắt thấy con nào, nhưng tin đồn thì năm sau dày hơn năm trước: làng này mất trâu, làng kia có người đi rừng không về, bên kia biên có đêm trời nứt ra một đường sáng xanh lè rồi từ trong ấy có thứ gì bò xuống. Người lớn kể cho nhau nghe bên nồi cháo cám, kể xong thì liếc ra bóng tối ngoài cửa, rồi cài then sớm hơn mọi hôm. Nhưng tất cả những chuyện lở trời long đất ấy chẳng bao giờ lọt nổi vào cái Ngõ Mương Đen, bởi ở đây người ta còn đang bận đói. --- Ngõ Mương Đen nằm vắt ở rìa làng, men theo một con mương nước tù đen kịt quanh năm, lềnh bềnh bèo tấm với rác rưởi của cả xóm trên đổ xuống. Cuối ngõ là Dốc Cửa Mả, một con dốc đất đỏ thoai thoải chạy lên bãi tha ma của cả làng, nơi mả mới đắp chồng lên mả cũ, mả có bia đá chen chúc với mả chỉ cắm một cái cọc tre, còn những mả vô chủ thì cỏ gà cỏ may mọc trùm lên kín mít, mưa xuống thì lún dần, lâu ngày chẳng ai còn nhận ra dưới ấy từng có người nằm. Người ta vẫn bảo đây là xứ chó ăn đá gà ăn sỏi, nói cho vui thôi, chứ chó ở đây gầy trơ xương lấy đâu ra sức mà nhai đá, còn gà thì đã bị vặt lông luộc sạch từ đời thuở nào. Cái nghèo ở Mương Đen nghèo tới mức bốc lên thành mùi, thứ mùi ngai ngái của rơm rạ mục trộn với nước đái trâu ngấm xuống đất và mồ hôi lưu cữu trên những tấm áo tơi chẳng ai buồn giặt, bởi giặt rồi thì cũng thế. Ở cái đáy cùng của cái xó ấy có một thằng nhóc không cha không mẹ. Người ta không biết nó họ gì, gốc gác từ đâu, chỉ biết vào một sớm mùa đông buốt ruột năm nó chừng hai tuổi, lão mõ làng đi thả lưới sớm thì vớt được nó trong một cái thúng rách trôi vật vờ bên bờ sông sình lầy, người tím ngắt mà vẫn còn thở. Làng Lò Trấu nuôi nó bằng nước cơm thừa với canh cặn, theo đúng cái lối người ta nuôi một con chó hoang lạc vào sân, chẳng ai đuổi mà cũng chẳng ai nhận. Nó cứ thế lớn lên dai dẳng như một thứ cỏ dại mọc ở chỗ không ai buồn nhổ, đen nhẻm, gầy tới mức xương sườn nhô ra thành từng dẻ như cái mạn thuyền rách, và làng gọi nó là thằng Bần. Năm nay thằng Bần lên tám. Thằng Bần không có nhà. Chỗ nó ngủ là cái điếm canh bỏ hoang dưới chân Dốc Cửa Mả, ngay chỗ con đường đất rẽ lên bãi tha ma. Ngày trước điếm ấy là điếm canh đê, mùa nước người trong làng thay phiên nhau ra ngồi gác, trên xà treo một cái trống cái, hễ nước lên là đánh trống báo cho cả làng biết mà chạy. Nhưng từ hồi con sông đổi dòng, đê bỏ không, người canh cũng bỏ, cái điếm cứ thế mục dần theo năm tháng. Mái rạ thủng mấy chỗ to bằng cái nong, trời mưa là dột như cái rây; vách đất trộn rơm lở từng mảng, nắng chiều rọi qua thành những vệt sáng xiên xiên nằm vắt trên nền đất; còn cái trống thì vẫn treo trên xà, mặt da trâu rách toạc một đường, gõ vào chỉ ra một tiếng bục khô khốc như gõ vào cánh cửa mục. Không ai trong làng dám ngủ ở đấy, vì nó gần bãi tha ma quá, mà người ta thì đồn đêm đêm ở Dốc Cửa Mả vẫn có ma đi lại. Thằng Bần thì chẳng sợ. Nó nghĩ ma có đói thì cũng chẳng thèm ăn thịt một thằng gầy như nó, còn người sống thì đánh đau hơn ma nhiều. Nó gom rơm rạ ngoài đồng về trải làm ổ ở góc khô nhất trong điếm, mùa đông thì nhét rơm vào các lỗ thủng trên vách cho đỡ gió lùa, mùa hè thì moi bớt ra cho thoáng. Cái ổ rơm ấy là thứ duy nhất trên đời này nó gọi được là của mình. Ở làng Lò Trấu, người lớn vẫn dạy con cái câu một điều nhịn chín điều lành. Người ta dạy thế, còn làm được hay không thì lại là chuyện khác. Chỉ có thằng Bần là coi câu ấy như lời thánh. Ai giật đồ của nó, nó nhịn. Ai chửi nó, nó nhịn. Ai sai nó làm việc rồi quỵt công, nó cũng nhịn. Nó nhịn không phải vì nó hiền, mà vì nó đã tính kỹ lắm rồi: một thằng mồ côi không cha không mẹ, không họ hàng làng xóm, cãi lại thì được gì ngoài một trận đòn, mà đòn thì đau, đau thì không đi kiếm ăn được, không kiếm ăn được thì đói, mà đói lâu thì chết. Cho nên nhịn thì sống. Cái luật ấy nó tự rút ra, chẳng ai dạy, và nó giữ luật ấy chặt hơn bất cứ người lớn nào trong làng giữ lời thề. Nhìn bề ngoài thì ai cũng chép miệng bảo nó đần, mà cũng khó trách người ta nghĩ vậy. Nó mặc một thứ chắp vá từ mấy cái bao tải gai cột túm ngang hông bằng sợi dây chuối tước xơ, mũi lúc nào cũng thò lò hai hàng, còn cái miệng thì hễ gặp ai cũng nhe ra cười hềnh hệch, cười cả khi bị giật mất củ khoai, cười cả khi bị chửi thẳng vào mặt. Thế nhưng đằng sau cái vẻ ngốc nghếch ấy lại là một thứ khác hẳn, một thứ không ai dạy nó, mà cũng chẳng ai ở Lò Trấu đủ rảnh để nhận ra. --- Đầu tháng Ba là tiết Thanh minh, và đó là mấy ngày hiếm hoi trong năm cái Dốc Cửa Mả đông người. Từ sáng sớm, nhà nhà trong làng đã vác cuốc vác liềm lên bãi tha ma sửa sang mồ mả, phát cỏ, đắp thêm đất cho mả ông bà cao lên một chút, rồi bày lễ ra cúng. Năm được mùa thì lễ cúng có xôi có gà, có oản có chuối; năm nay giáp hạt, phần nhiều chỉ có đĩa muối vừng với mấy củ khoai luộc, nhà nghèo hơn nữa thì thắp nén hương suông rồi lầm lũi quay về. Nhưng dẫu sao thì người chết vẫn được ăn trước người sống, và lũ trẻ đói ở Mương Đen hiểu điều ấy hơn ai hết. Chúng nó ngồi xổm thành từng tốp dọc bờ ruộng dưới chân dốc, mắt dán vào những mâm cúng, chờ. Người lớn khấn vái xong, hoá vàng xong, vừa quay lưng đi khỏi là lũ trẻ ùa lên như bầy quạ đen, đứa nhanh chân vồ được củ khoai, đứa chậm hơn nhặt mẩu bánh vương trên cỏ, có đứa quỳ xuống liếm cả chỗ muối vừng rơi vãi trên mặt đất. Người ta gọi đó là xin lộc, mà cái lộc ấy thì có ai cho đâu, chỉ có tranh. Thằng Bần cũng ngồi đấy, nhưng nó ngồi tận cuối hàng, và chẳng bao giờ nó là đứa chạy lên trước. Bởi đứa chạy lên trước bao giờ cũng là lũ con nhà lão đồ tể, thằng Hợi anh cả mười một tuổi to như cái cột đình cùng hai thằng em nó với mấy đứa đi theo nịnh, mà đứa nào dám tranh với chúng nó thì cuối ngày về nhà mặt mũi chẳng còn chỗ nào lành. Cho nên thằng Bần nhịn. Nó đợi lũ ấy vơ vét xong mâm nào thì mới lò dò lên mâm ấy, nhặt nhạnh những gì còn sót, có hôm được mẩu khoai vỡ, có hôm được nửa quả chuối bị giẫm bẹp, có hôm chẳng được gì. Hôm ấy nó chẳng được gì. Thằng Hợi đứng giữa bãi tha ma, hai tay ôm một nắm khoai, mồm nhai nhồm nhoàm, nhìn xuống cái thằng gầy nhom đang cúi lom khom nhặt nhạnh quanh chân mình mà cười khẩy. Nó cố ý dẫm lên mẩu khoai cuối cùng trên mặt cỏ, di di gót chân cho nát bét, rồi mới cất bước bỏ đi, lũ em lục tục chạy theo sau, vừa chạy vừa ngoái lại cười. Thằng Bần ngồi xổm nhìn cái vệt khoai nát lẫn trong đất, rồi ngẩng lên, nhe răng cười với cái lưng thằng Hợi đang xa dần. Một điều nhịn chín điều lành. Nó đã nhịn, và nó vẫn còn nguyên răng, vẫn còn nguyên hai con mắt. Thế là lành rồi. Người đã về hết, bãi tha ma vắng tanh, chỉ còn khói hương vương vất trên những ngôi mả mới phát cỏ sạch sẽ. Thằng Bần phủi đít đứng dậy định về điếm, thì chợt nhìn thấy ở góc bãi, sát bờ tre, có một ngôi mả chẳng ai đoái hoài. Cỏ gà mọc trùm kín, cao tới đầu gối nó. Không hương, không lễ, không một dấu chân người. Cái cọc tre cắm đầu mả đã mục gãy làm đôi, nửa trên đổ gục xuống đất, nửa dưới đen sì như que củi cháy dở. Thằng Bần đứng nhìn ngôi mả ấy một lúc lâu. Rồi nó ngồi xuống, dùng hai bàn tay trần nhổ cỏ, nhổ từng nắm một. Cỏ gà rễ bám sâu, nhổ không ra thì nó lấy ngón tay moi đất xung quanh, moi tới khi móng tay bật máu. Nhổ xong, nó vốc đất ở chân bờ tre đắp lên cho mả cao hơn một chút, lấy lòng bàn tay vỗ vỗ cho chặt, rồi nhặt nửa cái cọc tre gãy cắm lại cho thẳng ở đầu mả. Làm xong thì trời đã xế trưa. Nó chẳng có hương mà thắp, cũng chẳng có gì mà cúng, bèn chắp hai bàn tay lấm đất lại, cúi đầu vái ba vái. Nó không biết người nằm dưới ấy là ai, đàn ông hay đàn bà, chết già hay chết đói. Nó chỉ nghĩ, người này chắc cũng giống nó, chẳng có ai để về phát cỏ cho. Mai kia nó chết đi, có lẽ cũng nằm ở một góc nào đó của cái bãi này, và cỏ gà cũng sẽ mọc trùm lên y như thế. Vái xong, nó đứng dậy, chùi hai bàn tay vào vạt bao tải, rồi lững thững đi xuống dốc. --- Đêm xuống, thằng Bần xách cái chai sành vỡ cổ ra đồng. Trong chai nhốt mấy chục con đom đóm nó bắt từ chập tối ở bụi tre đầu dốc, cuối xuân đom đóm đã bắt đầu ra, lập loè xanh lét, vừa đủ soi một khoảng mặt nước nhỏ trước mũi chân. Đêm tháng Ba ếch nhái kêu inh ỏi khắp cánh đồng, tiếng ếch ộp oạp lẫn với tiếng nhái kêu eng éc, ồn tới mức đứng giữa ruộng muốn nói với nhau phải gào lên mới nghe thấy, mà với thằng Bần thì đó lại là thứ âm thanh dễ chịu nhất trên đời, bởi nhái kêu nhiều thì mai nó có cái đổi lấy khoai. Nó lội xuống ruộng, nước ngập tới đầu gối, bùn lún tới mắt cá, gốc rạ vụ trước còn sắc lẹm cứa vào gan bàn chân mà nó chẳng thấy đau, bởi gan bàn chân nó đã chai tới mức gai tre cũng khó đâm thủng. Nó không vồ bừa như lũ trẻ khác mà đứng im, nghiêng tai nghe. Nhái kêu ở đâu thì nó rón rén tới đó như con cò rình mồi, soi chai đom đóm xuống cho con nhái lóa mắt ngồi im, rồi úp tay chụp gọn một cái, bỏ vào cái giỏ tre đeo bên hông. Nó còn biết nhìn mặt nước. Hễ thấy một chuỗi bọt li ti nổi lên liên tục thành đường dài thì dưới lớp bùn sâu chừng hai tấc là hang cua; còn nếu bọt nổi lên to đùng, ùng ục, vỡ ra bốc mùi tanh tưởi thì phải rụt tay lại cho nhanh, bởi đó là chỗ rắn nước nằm. Mấy cái mẹo ấy chẳng có lão làng nào dạy nó, nó tự học lấy, bằng cách làm sai, và bằng cách suýt chết vài lần. Tới lúc gà gáy canh tư thì giỏ đã nặng trĩu, ước chừng ba chục con nhái với năm con cua đồng. Nó mệt, lạnh, ướt sũng từ đầu tới chân, hai hàm răng va vào nhau lập cập, nhưng vẫn nhe răng cười một mình giữa đồng, bởi trong chai sành đom đóm vẫn lập loè, còn trong giỏ thì đầy. Sáng ra, nó chưa kịp chợp mắt đã phải ra khúc sông tù cuối làng lặn ngụp vớt bèo cho bầy lợn nhà lão đồ tể, vớt xong lại chui xuống gầm bụng đàn trâu nhà ông trùm làng mà bắt đỉa. Đỉa tháng Ba đói, bám dày như vảy, nó thọc tay vào giật ra từng con, thỉnh thoảng có con tuột khỏi tay rồi bám phập vào bắp chân nó mà hút tới no căng mới chịu rụng xuống bùn. Tiền công năm nay cũng teo tóp đi theo mùa giáp hạt. Lão đồ tể không còn ném cho cục xương lợn như năm ngoái, chỉ múc cho nửa gáo cháo cám múc thẳng từ máng lợn, còn ông trùm làng thì hẹn tới mùa gặt mới trả. Thằng Bần dạ vâng, cười hì hì, rồi bưng gáo cháo cám ra bờ ao húp sạch, liếm cả vành gáo. Giỏ nhái thì nó mang lên quán rượu của mụ Tú béo cuối xóm. Giáp hạt thì giáp hạt, đàn ông trong làng vẫn cứ phải có chén rượu, mà rượu thì phải có con nhái rán nhắm kèm. Mụ Tú ngồi chễm chệ trên chõng tre, mặt trát phấn trắng lốp, ghé mắt nhìn vào giỏ rồi bĩu môi. "Ba chục con à? Gầy như xác ve thế này. Mười con đổi một củ khoai, cả giỏ tao tính hai củ thôi. Còn mấy con cua thì tao trừ vào cái bát mày đánh vỡ hôm Tết." Hôm Tết thằng Bần chẳng hề đánh vỡ cái bát nào. Nó cũng nhẩm được trong đầu rằng mười con một củ thì ba chục con phải là ba củ, lại thêm năm con cua ít ra cũng đáng nửa củ nữa, tức là mụ vừa ăn chặn của nó tròn củ rưỡi. Nhưng nó vẫn toét miệng cười, cúi gập người xuống mà vâng dạ. "Con cảm ơn bà. Bà rộng lượng quá." Bởi nếu nó cãi, mai mụ không mua nhái của nó nữa, mà thằng cháu mụ là tay anh chị có tiếng ở chợ, đánh người chẳng cần lý do. Thà ngu ngốc mà nhận hai củ khoai còn hơn khôn ngoan rồi mất cả chỗ bán lẫn cái răng cửa. Ở cái làng này, người khôn chưa chắc đã sống thọ bằng kẻ biết đóng vai thằng đần. --- Mỗi chiều, trên đường từ quán mụ Tú về, thằng Bần lại ghé qua chợ, dừng chân ở hàng bánh đúc của mụ Tám. Mụ Tám góa chồng, người gầy như que củi, ho khan suốt ngày, quanh năm ngồi một góc chợ bán bánh đúc ngô. Mụ không cho ai cái gì bao giờ, mà cũng chẳng có gì để cho. Nhưng mụ có một cái giao kèo với thằng Bần: chợ tan, nó ở lại cọ cái nồi gang to đùng cho mụ, cọ cho sạch bong, còn lớp cháy bánh đúc bám dưới đáy nồi thì là của nó. "Tao không cho không mày đâu nhé." Mụ bảo thế, lần nào cũng bảo thế. "Mày cọ nồi thì cháy là công của mày. Sòng phẳng." Thằng Bần thích cái giao kèo ấy lắm. Nó thích không phải vì lớp cháy thơm giòn, mà vì chữ sòng phẳng. Cả làng Lò Trấu này, người thì quỵt công nó, người thì ném cho nó như ném cho chó, chỉ có mụ Tám là trả công cho nó như trả công cho một con người. Nó cọ nồi kỹ tới mức mặt gang soi được cả bóng mình, rồi mới ngồi xổm dưới chân mụ, bẻ từng miếng cháy nhai rau ráu. Có hôm mụ Tám nhìn nó ăn, ho mấy tiếng, rồi lẩm bẩm như nói một mình rằng thằng con mụ cũng trạc tuổi nó, mà cả ngày chẳng thấy mặt mũi đâu, chẳng biết đi đâu mà về nhà lúc nào cũng có mấy đồng kẽm lạ trong túi. Rồi một sáng giữa tháng Ba, cái góc chợ ấy vắng tanh. Thằng Bần đứng ngẩn ra trước chỗ đất trống, nơi thường ngày kê cái nồi gang với cái mẹt tre. Có người đi ngang qua, thấy nó đứng đấy thì bảo mụ Tám chết đêm qua rồi, đừng đứng chờ nữa. Nhà mụ Tám ở cuối xóm Hạ, một túp lều lụp xụp dựng nhờ trên đất nhà ông Bá Hộ. Khi thằng Bần tới thì trước cửa đã có dăm người đứng, không ai nói to, chỉ thì thầm với nhau. Mụ Tám nằm trên cái chõng tre giữa nhà, người trùm kín bằng một manh chiếu cói rách, chỉ thò ra hai bàn chân gầy như hai que củi khô. Người ta bảo mụ nhịn ăn cả tháng nay, có bao nhiêu để dành cho con, rồi đêm qua nằm xuống là không dậy nữa. Ngồi trên bậc cửa là một thằng bé trạc tuổi thằng Bần mà cao hơn cả cái đầu, gầy như cây sậy, trên đầu chụp một cái nón mê rách kéo sụp xuống che gần hết mặt. Nó không khóc. Nó ngồi im như một khúc gỗ, hai bàn tay nắm chặt để trên đầu gối, nắm chặt tới mức các đốt ngón tay trắng bệch ra. Lát sau thì ông lang xóm Trung tới. Ông khoác cái áo bông vá mấy mảng, râu tóc lốm đốm bạc, kẹp dưới nách cái điếu cày bằng tre đã lên nước bóng. Ông vén manh chiếu, vạch mí mắt mụ Tám ra xem, nắn cổ tay một lúc, rồi đậy chiếu lại, chẳng nói năng gì. Đoạn ông ngồi xuống mép hiên, vê một nhúm thuốc lào nhét vào nõ điếu, châm mồi rơm, rồi rít một hơi dài. Tiếng điếu kêu sòng sọc vang lên giữa cái im lặng của gian nhà, khói thuốc tỏa ra khét lẹt, cuộn lên rồi tan vào nắng. "Đói." Ông nói, giọng khàn khàn, nhả ra cùng với khói. "Đói chứ bệnh tật gì." Ông ngồi rít thêm một hơi nữa, mắt nhìn ra ngoài sân. Có một thoáng ánh mắt ấy lướt qua cái thằng bé đen nhẻm đang đứng nép ở gốc cau, dừng lại ở hai bàn tay còn rớm máu vì nhổ cỏ hôm Thanh minh, rồi lại dời đi, chẳng đọng lại chút gì. Nhà mụ Tám chẳng có tiền mua quan tài, cũng chẳng có tiền làm cỗ, thành thử lý trưởng bảo cứ bó chiếu mà chôn. Nhưng chôn thì phải có người đào huyệt, mà giữa mùa giáp hạt đàn ông trong làng chẳng ai còn sức, người chết đói thì lại chẳng có cỗ bàn trả công. Người ta đứng trước cửa bảo nhau nghĩa tử là nghĩa tận, bảo xong thì lần lượt về nhà, người trước người sau, cuối cùng trước túp lều chỉ còn lại cái thằng bé đội nón mê ngồi trên bậc cửa. Thằng Bần chạy đi mượn cái mai của lão mõ, rồi một mình vác lên Dốc Cửa Mả. Nó chọn một chỗ đất cao ráo, ngay cạnh cái mả không người thăm mà hôm Thanh minh nó vừa nhổ cỏ, rồi bắt đầu đào. Đất đỏ Dốc Cửa Mả chai cứng, mỗi nhát mai bổ xuống chỉ xắn lên được một mẩu, cán mai lại to quá so với bàn tay nó, cầm chưa được nửa buổi thì lòng bàn tay đã phồng rộp, phồng rồi vỡ, vỡ rồi rỉ nước vàng lẫn máu. Nó xé một mảnh bao tải quấn lại rồi đào tiếp. Mặt trời lên đỉnh đầu rồi ngả dần về tây, và cái huyệt cứ thế sâu dần, sâu tới ngang ngực nó. Chiều muộn, lão mõ với hai người hàng xóm khiêng cái bó chiếu lên dốc, thằng bé đội nón mê lầm lũi đi sau. Người ta thả mụ Tám xuống huyệt, lấp đất, đắp thành một cái nấm nhỏ, cắm lên một cái cọc tre, thế là xong. Chẳng có kèn trống, chẳng có ai khóc thành tiếng. Lão mõ với hai người kia vác mai về trước, còn lại hai đứa trẻ đứng hai bên cái nấm mộ mới. Thằng bé đội nón mê bây giờ mới ngẩng lên nhìn thằng Bần. Đôi mắt nó hẹp và dài, đỏ hoe mà khô khốc. "Mày đào à?" "Ừ." Nó nhìn xuống hai bàn tay quấn bao tải thấm máu của thằng Bần, im lặng một lúc lâu. "Tao không có gì trả mày đâu." "Không phải trả." Thằng Bần gãi đầu, nhe răng cười. "U mày cho tao ăn cháy suốt mà." "Đấy là mày cọ nồi." "Thì... thì cũng thế." Thằng bé đội nón mê không nói gì nữa. Nó kéo cái nón xuống thật sâu, quay lưng đi thẳng xuống dốc, chẳng ngoái lại lần nào. Nhưng đi được mấy bước thì nó dừng lại, nói vọng về một câu, giọng cứng như đá. "Tao không thích nợ ai." Rồi nó đi mất. --- Đêm ấy, nằm trong ổ rơm ở cái điếm hoang, thằng Bần nghe trên đỉnh dốc có tiếng khóc. Tiếng khóc rất khẽ, đứt quãng, nghẹn lại, như khóc của người sợ bị ai nghe thấy. Nó nằm im, mở mắt nhìn lên cái mái rạ thủng lỗ chỗ mà qua đó thấy được mấy ngôi sao lạnh lẽo. Nó không trèo lên. Nó biết có những lúc người ta cần được khóc một mình, cũng như nó vẫn thường nhịn đói một mình. Tiếng khóc kéo dài tới gần sáng thì tắt. Từ hôm ấy, chợ Lò Trấu không còn hàng bánh đúc nữa. Còn cái thằng bé cao nhồng đội nón mê thì bắt đầu xuất hiện ở những chỗ người ta hay mất đồ.
Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ