Chương 10: Tay Trái

# Chiều hôm sau, thằng Bần hái thuốc nhanh như chưa bao giờ nhanh thế. Nó chẳng cần ông lang đọc tên tới lần thứ hai. Ông đọc tới đâu, trong đầu nó đã hiện ra tới đấy, không phải cái tên mà là cái chỗ: bụi ngải cứu mọc dưới chân tảng đá có vệt rêu hình con cá, đám mã đề chen nhau bên vết bánh xe bò cũ, vạt cỏ nhọ nồi lúc nào cũng ẩm vì nằm ngay dưới chỗ khe suối rỉ nước ra. Nó đi một mạch, không ngơi chân, không dừng lại ngửi lá như mọi khi, bởi lá nào ở chỗ nào thì nó thuộc cả rồi. Mặt trời mới ngả khỏi đỉnh đầu được một quãng mà cái rổ đã đầy có ngọn. Nó ôm rổ đi xuống Dốc Cửa Mả. Buổi trưa trời vừa đổ một trận mưa rào, cái thứ mưa đầu hạ ào xuống rồi tạnh ngay, để lại mặt đường đất đỏ nhão nhoét, bốc hơi nồng nồng dưới nắng. Tới trước cái điếm hoang, thằng Bần dừng lại. Trên mặt bùn trước cửa điếm có một hàng dấu vết. Một dấu bàn chân trần to bè. Một cái lỗ tròn nhỏ bằng đầu ngón tay cái. Rồi lại một dấu bàn chân. Rồi lại một cái lỗ tròn. Hàng dấu ấy đi từ phía ngõ Mương Đen tới, dừng lại trước bậc cửa một lúc, rồi đi thẳng vào trong. Lần này thì nó không quay đầu lên dốc. Thằng Bần đứng nhìn hàng dấu chân ấy một lúc lâu. Rồi nó đặt cái rổ xuống bên bậc cửa, ngắt mấy tàu lá khoai dại đậy lên cho khỏi nắng, bước vào. Lão ăn mày ngồi trên cái sạp tre kê sát vách, đúng cái chỗ ngày trước là ổ rơm của nó. Cái bầu rượu đặt bên cạnh. Cây gậy dựng vào vách. Trên xà, cái dùi trống gãy buộc dây chuối vẫn treo lủng lẳng. "Chậm như rùa." Lão nói. Thằng Bần chắp tay chào, rồi đứng ngẩn ra. Lão ngồi trên cái chỗ ngày xưa của nó mà thoải mái như ngồi trong nhà lão. "Thưa chú..." Nó ngập ngừng. "Cái đêm mưa tháng Bảy năm ngoái..." "Mày ngủ ngáy to thật." Thằng Bần đỏ mặt. "Thế... thế sao chú lại đứng ngoài cửa ạ?" "Trú mưa." Thằng Bần ngước lên nhìn cái mái rạ thủng lỗ chỗ, những lỗ to bằng cái nong, mà ngày trước hễ mưa xuống là dột như cái rây. Nó nhớ đêm ấy tiếng gậy dừng lại ngoài cửa rất lâu, rồi quay đầu đi thẳng lên dốc, chứ chẳng hề bước vào. Nó mở miệng định hỏi, rồi lại thôi, bởi lão ăn mày đã cúi xuống nhặt từ gầm sạp lên một vật gì đó, ném về phía nó. "Cầm lấy." Thằng Bần chụp lấy. Đó là một cành ổi, dài chừng cánh tay nó, to bằng cổ tay nó, vỏ đã tước sạch, lõi gỗ trắng ngà, cong nhẹ về một phía như cái lưng con tôm. Một đầu gọt tù. Đầu kia quấn mấy vòng giẻ làm chuôi, quấn chặt, gọn ghẽ. Nó cầm lên, và cái chuôi giẻ nằm vừa khít trong lòng bàn tay nó, vừa khít tới lạ, như thể có người đã ướm tay nó từ trước rồi mới gọt. "Coi như gươm." Lão nói. Thằng Bần mới thấy gươm thật có một lần, hồi quan huyện về làng đọc trát, mấy người lính theo hầu đeo bên hông, vỏ gỗ sơn đen, chuôi quấn dây gai. Nó nhìn cái cành ổi trong tay, rồi nhìn lão ăn mày, rồi lại nhìn cái cành ổi, và trong ngực nó có cái gì đó đập thình thịch. --- "Giơ lên. Chĩa ra trước mặt." Thằng Bần giơ cành ổi lên, chĩa về phía lão. Lão ăn mày nhìn cái tay nó, rồi thở dài đánh thượt một cái, thở dài như người vừa mua phải con gà toi. "Tổ sư. Lại thằng thuận tay trái." Thằng Bần nhìn xuống. Cái tay đang cầm cành ổi là tay trái. Nó chẳng hề nghĩ, cái tay ấy tự vươn ra mà nắm, như nó vẫn tự vươn ra mà ném khúc xương cho lũ chó nhà ông Bá Hộ, mà vốc nắm gạo trong kho, mà túm lấy con cua dưới bùn. "Người ta bảo tay trái bóp dái đéo đau." Lão nói. "Mày biết vì sao không?" "Dạ... cháu không biết ạ." "Vì tay trái là tay vụng. Bóp cái gì cũng lỏng." Lão hất hàm. "Đổi tay xem." Thằng Bần vội chuyển cành ổi sang tay phải. Cái tay phải của nó cầm cành ổi cứng đờ như cầm một khúc củi, mấy ngón tay túm lấy cái chuôi giẻ theo đúng cái lối túm mẩu than mà viết chữ, ngón trỏ chìa ra, cổ tay gập vào, mũi cành ổi chúc xuống đất. Nó cố giơ lên cho thẳng, thì cổ tay lại run. Lão ăn mày nhìn một lúc, mặt nhăn lại như vừa cắn phải quả sấu xanh. "Mày cầm gươm hay cầm bút đấy?" "Dạ..." Thằng Bần đỏ mặt. "Thầy cháu bắt cháu cầm tay phải ạ. Thầy bảo chữ viết từ trái sang phải, cầm tay trái thì tay quệt vào nét vừa viết, nhòe hết. Với lại hồi bé ông mõ cũng bảo tay trái là tay ngược, đứa nào ăn bằng tay trái thì cả đời đi ngược với người ta." Lão ăn mày nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống nền đất. "Thầy mày dạy chữ. Chữ thì viết từ trái sang phải, thế nên cầm tay phải." Lão nói. "Còn đập vỡ sọ thằng khác thì đéo có chiều nào cả. Đổi lại." Thằng Bần chuyển cành ổi về tay trái. Cái chuôi giẻ nằm trong lòng bàn tay trái nó yên như con cá nằm trong nước. Mấy ngón tay tự khép lại vừa đủ chặt, cổ tay tự thẳng ra, mũi cành ổi tự ngóc lên, chĩa thẳng về phía trước, không run. Lão ăn mày gật gù. Rồi lão hỏi một câu tưởng chẳng đâu vào đâu. "Chiều hôm nọ, thằng Hợi đấm mày bằng tay nào?" Thằng Bần ngẩn ra, rồi đưa tay lên sờ vào mạng sườn bên phải, chỗ vết bầm giờ chỉ còn một vệt vàng nhạt như lá úa. Nó nhớ lại. Thằng Hợi từ hôm ăn nửa hòn gạch của thằng Cò thì cái tay phải chẳng giơ lên được nữa. "Dạ... tay trái ạ." "Có đau không?" "Dạ... đau lắm ạ." "Thế đấy." Lão ăn mày cười khẩy. "Thằng nào bảo tay trái bóp dái đéo đau, là thằng chưa bị tay trái bóp bao giờ." Thằng Bần phì cười, cười rồi mới giật mình đưa tay lên che miệng. Lão ăn mày cũng chẳng buồn mắng. "Mười thằng thì chín thằng thuận tay phải." Lão nói, giọng chậm lại, không còn lè nhè nữa. "Thằng nào học đánh cũng học đỡ đòn tay phải, đỡ mãi thành quen. Mày đánh tay trái, đòn đi tới từ phía nó không quen, nó quen tay mà đỡ hụt. Thằng Hợi mới tập đấm tay trái có mấy tháng mà còn làm mày đau thế. Mày thì thuận tay trái từ trong bụng mẹ." Lão gõ đầu gậy xuống đất. Cộc. "Cái mà thiên hạ chê là ngược, có khi lại là cái giữ mạng cho mày." --- Rồi lão bắt nó cầm lại cho đúng. "Mày bắt cá rô bao giờ chưa?" "Dạ rồi ạ. Cháu bắt nhiều lắm ạ." "Bóp chặt quá thì sao?" "Dạ, nó giãy, vây lưng nó đâm vào tay chảy máu ạ." "Lỏng quá thì sao?" "Dạ, nó tuột mất ạ." "Thế đấy. Cầm gươm cũng như cầm cá rô." Lão chĩa đầu gậy vào bàn tay nó. "Chặt quá thì cứng, cứng thì chậm, mà chậm thì chết. Lỏng quá thì người ta gạt một cái là văng. Cầm vừa đủ để nó không tuột, thế thôi." Thằng Bần nới tay ra một chút, rồi siết lại một chút, rồi lại nới, cho tới khi cái chuôi giẻ nằm trong tay nó như con cá rô nằm im trong lòng bàn tay người đi bắt cá lâu năm. "Đứng tấn." Lão nói tiếp. "Hai chân dạng ra bằng vai. Chùng gối xuống." Thằng Bần dạng chân, chùng gối. "Chùng xuống nữa. Không phải ngồi ỉa. Lưng thẳng lên." Nó chùng xuống nữa, thẳng lưng lên, hai bắp đùi run bần bật. Lão ăn mày lấy đầu gậy chọc vào bụng nó, ngay dưới rốn chừng một đốt tay. "Thở bằng đây. Không phải bằng ngực. Thở bằng ngực thì mới chạy được mười bước đã hộc ra như chó. Chỗ này là cái bể chứa hơi. Bể đầy thì chân mới vững, tay mới nhanh." Rồi lão bắt nó chém. Chém từ trên xuống, chém xiên từ trái sang, chém xiên từ phải sang. Nhát nào chém sai, cái đầu gậy tre lại quất khẽ một cái vào khuỷu tay, vào đầu gối, vào bả vai nó, khẽ thôi mà rát như bị ong đốt. Lão bảo chém bằng cái tay thì cái tay gãy trước cái đầu thằng kia, phải chém bằng cả người, bằng hai bàn chân bám xuống đất, bằng cái eo xoay đi, cái vai xoay theo, rồi mới tới cái tay. Thằng Bần chẳng hiểu hết, nhưng nó cứ chém, chém tới lúc mồ hôi chảy vào mắt cay xè, hai cánh tay mỏi nhừ, cái cành ổi nặng dần lên như một khúc gỗ lim. --- Mặt trời ngả dần về phía rặng tre. Lão ăn mày chống gậy đứng dậy, lê cái chân quấn giẻ ra giữa khoảng sân đất trước cửa điếm. Lão đứng lại, đặt bàn chân lành xuống nền đất nhão, rồi lấy đầu gậy vạch một vòng tròn quanh bàn chân ấy, cái vòng tròn không to hơn cái mẹt. "Tao đứng trong vòng này." Lão nói. "Mày làm tao bước ra khỏi vòng là mày thắng." Thằng Bần nhìn lão, nhìn cái chân quấn giẻ co lên lơ lửng, nhìn cây gậy tre lão cầm hờ trong một tay, không chống xuống đất. Lão đứng bằng một chân, không tựa vào đâu cả, vậy mà vững như một cây cọc tre đóng sâu xuống bùn. "Cháu... cháu đánh chú ạ?" "Không đánh thì mày định làm gì? Đứng đấy mà chào tao à?" "Nhưng chú..." Thằng Bần ngập ngừng, liếc xuống cái chân quấn giẻ. "Chú què ạ." "Què thì sao?" Lão trợn mắt. "Thằng nào què thì mày tha à? Mai kia có thằng què cầm dao đâm mày một nhát, mày có chết không?" "Dạ... có ạ." "Thế thì đánh." Thằng Bần nắm chặt cành ổi, rồi nhớ lời lão, nới tay ra một chút. Nó hít một hơi xuống bụng, chùng gối, rồi lao tới, chém. Nó không nhìn thấy cây gậy tre động đậy. Nó chỉ nghe một tiếng cạch khô khốc, thấy cổ tay mình tê dại đi, và cái cành ổi đã bay vèo ra khỏi tay, cắm xuống bùn cách đấy ba bước. "Nhặt lên." Nó nhặt lên. Nó lại lao tới. Lần này nó chém xiên từ trái sang, cái đòn mà lão bảo mười thằng thì chín thằng quen tay đỡ hụt. Đầu gậy tre gõ một cái vào đầu gối nó. Chân nó khuỵu xuống, cả người đổ úp mặt vào bùn. "Đứng dậy." Nó đứng dậy. Lần thứ ba, cây gậy quất vào sau bắp chân. Lần thứ tư, gõ vào khuỷu tay. Lần thứ năm, lão chẳng buồn đánh, chỉ khẽ gạt đầu gậy vào mũi cành ổi, thằng Bần lao hụt qua, tự vấp vào chân mình mà ngã sóng soài. Lần thứ sáu, lần thứ bảy, lần thứ mười. Bùn đỏ trát lên người nó từ đầu tới chân, vào mồm, vào mũi, vào mắt. Nó ngã sấp, ngã ngửa, ngã chổng vó như con cua bị lật mai. Cái vòng tròn quanh chân lão vẫn nguyên, chẳng sứt một nét. Bàn chân lành của lão vẫn đặt yên chính giữa, không nhích lấy nửa đốt tay, và từ đầu tới giờ, trừ cánh tay cầm gậy, cả người lão chưa hề động đậy. Tới lần thứ hai mươi mấy, thằng Bần ngã xuống, và nó không đứng dậy nữa. Nó nằm ngửa trên bùn, ngực phập phồng như cái bễ, hai cánh tay đau nhừ, hai đầu gối bầm dập, cành ổi vẫn nắm trong tay trái. Trên đầu nó, trời chiều đỏ ối, mấy con cò trắng bay chấp chới về phía bãi tha ma. "Cháu..." Nó thở hổn hển. "Cháu không đứng dậy được nữa ạ. Chân cháu run lắm ạ." Lão ăn mày đứng trong vòng tròn, nhìn xuống nó. "Ngã xuống thì đứng dậy." Lão nói. "Không có lý do thứ hai." Câu ấy lão nói không to, không gằn giọng, chẳng có gì đặc biệt cả. Lão nói như người ta bảo trời sắp tối, như người ta bảo nồi nước sôi rồi. Vậy mà nhiều năm về sau, Trần Minh Luân còn nghe lại câu ấy trong đầu mình không biết bao nhiêu lần, ở những nơi cách xa cái điếm hoang dưới chân Dốc Cửa Mả hơn nhiều, những nơi mà thứ nhão nhoét dưới chân ông không còn là bùn. Thằng Bần chống cành ổi xuống đất, đứng dậy. --- Lần này nó không lao tới ngay. Nó đứng thở, và nó nhìn. Cái nghĩ chậm chạp của nó, bị đánh cho tơi tả suốt nửa buổi chiều, giờ mới bắt đầu bò. Nó nhìn cái chân lành của lão đặt giữa vòng tròn. Nó nhìn cây gậy tre, lần nào cũng đánh ra từ phía bên phải lão, đánh tới đâu trúng tới đấy, như có mắt. Nó nhìn cái chân quấn giẻ co lên lơ lửng bên kia, cái chân mà đêm qua chính tay nó vừa tháo giẻ, rửa mủ, đắp lá, quấn lại. Rồi nó hiểu ra. Như mọi lần, nó hiểu ra chậm, nhưng lần này thì chưa muộn. Cả người lão chỗ nào cũng là cây gậy. Chỉ có một chỗ không phải. Thằng Bần thấy trong bụng có cái gì cồn lên, khó chịu, như người sắp làm một việc không nên làm. Nhưng lão đã bảo thằng nào què thì mày tha à. Nó chùng gối thật thấp, thấp hơn cả lúc đứng tấn, rồi lao tới. Cây gậy tre lại vụt ra từ phía bên phải, nhắm vào đầu nó. Thằng Bần không đỡ, không lùi. Nó rạp cả người xuống sát mặt bùn mà trườn tới, nhanh và trơn như con chạch lủi xuống bùn ruộng lúc bị tay người chộp hụt, cái lối lủi mà suốt mấy năm mò cua bắt chạch ngoài cánh đồng Lò Trấu, nó đã thấy con chạch làm với nó không biết bao nhiêu lần. Cây gậy vụt qua trên đầu, sượt qua mấy sợi tóc. Và từ dưới đất, cành ổi trong tay trái nó chọc lên, khẽ thôi, chạm vào lớp giẻ quấn cái chân què. Chỉ một cái chạm. Rồi trời đất đảo lộn. Thằng Bần không nhìn thấy gì cả. Nó chỉ biết có một thứ gì đó giáng xuống bả vai trái nó, nặng như một cành cây gãy từ ngọn đa rơi xuống, và cả người nó bị hất văng đi như một cái giẻ rách, lăn ba bốn vòng trên bùn rồi đập lưng vào bậc cửa điếm. Cánh tay trái nó tê dại, tê từ vai xuống tận đầu ngón tay, cành ổi văng đi đâu mất. Cái đau đến chậm hơn một nhịp, rồi bùng lên, trắng xóa cả hai mắt. Nó nằm ngửa, há miệng ra mà không thở được. Khi mắt nó nhìn lại được, thì lão ăn mày đang đứng ngay trên đầu nó. Cây gậy tre giơ lên, dừng lại giữa không trung. Cánh tay cầm gậy của lão run lên bần bật, run như cánh tay của một người đang giằng co với một người khác mà thằng Bần không nhìn thấy. Còn hai con mắt lão, dưới cặp lông mày rậm như chổi xể, không còn đục nữa. Chúng sáng lên một thứ ánh mà thằng Bần chưa từng thấy trong mắt người bao giờ. Nó chỉ từng thấy thứ ánh ấy một lần, hồi lên bốn, trong mắt con chó nhà ông trùm làng, cái khoảnh khắc ngay trước khi con chó ấy chồm lên ngoạm rách toạc bắp chân nó. Lão ăn mày đứng như thế, gậy giơ lên, một nhịp, hai nhịp, ba nhịp. Rồi lão cắm phập đầu gậy xuống bùn, quay phắt người đi. Lão lê cái chân què vào trong điếm, lê nhanh, loạng choạng, vấp cả vào bậc cửa, vơ lấy cái bầu rượu trên sạp mà rút nút, ngửa cổ tu, tu một hơi dài như người chết khát giữa trưa hè, tu tới lúc rượu tràn ra hai bên mép, chảy xuống ướt đẫm bộ râu. Cái lưng lão quay ra ngoài, rung lên từng chặp. Thằng Bần nằm trên bùn nhìn cái lưng ấy, và nó chẳng biết lão đang giận hay đang làm sao. Lâu lắm. Mặt trời đã chìm quá nửa sau rặng tre. "Lần sau." Cuối cùng lão nói, không quay lại, giọng khàn đặc. "Lần sau mày mà đánh vào cái chân ấy, tao không dừng tay được đâu." "Dạ." Thằng Bần nằm im thêm một lúc, rồi chống tay phải xuống bùn mà ngồi dậy. Cái vai trái đau như có ai đóng đinh vào, cánh tay trái vẫn còn tê, giơ lên không nổi. Nó quay đầu nhìn ra khoảng sân. Cái vòng tròn lão vạch quanh bàn chân lành vẫn còn in trên mặt bùn đỏ. Nhưng dấu chân lão thì nằm ngoài vòng, cách những hai bước. "Chú ơi." Nó nói, cái giọng vẫn còn run. "Chú bước ra khỏi vòng rồi ạ." Lão ăn mày quay đầu lại. Lão nhìn cái vòng tròn, nhìn dấu chân mình nằm ngoài vòng, nhìn cái thằng bé bùn đất bê bết đang ngồi ôm vai dưới bậc cửa mà vẫn còn nhớ tới cái luật lão đặt ra từ đầu buổi. Rồi lão bật cười. Cái cười ấy khác những lần trước, không khùng khục, không sằng sặc, chỉ là một tiếng khẽ bật ra khỏi cổ họng, nghe khô và mỏi. "Ừ." Lão nói. "Mày thắng." Lão ngồi phịch xuống sạp tre. "Cái lối mày luồn xuống lúc nãy ấy." Lão hất hàm. "Gọi là thế Chạch Lủi." "Chạch Lủi ạ?" "Ừ. Trò này không có trong sách của bọn con quan. Nhưng nó giữ được cái mạng cho mày khi mày yếu hơn thằng đối diện." Lão tu thêm một ngụm rượu. "Mà mày thì lúc nào chả yếu hơn." --- Thằng Bần về tới nhà thì trời đã nhá nhem. Cái rổ thuốc thì vẫn đầy, lá khoai đậy bên trên đã héo rũ mà lá thuốc bên dưới vẫn còn tươi. Nhưng người nó thì bết bùn đỏ từ đầu tới chân, cái áo rách toạc thêm một đường ở vai trái, và dưới chỗ áo rách ấy là một vết lằn tím bầm, sưng vều lên, chạy chéo từ bả vai xuống tận bắp tay. Nó đã ra khe suối kỳ cọ cho trôi bớt bùn, nhưng vết lằn thì kỳ cọ không trôi. Ông lang đang ngồi thái thuốc ngoài hiên. Con dao cầu dừng lại khi nó bước vào sân. "Sao về muộn?" Thằng Bần đặt cái rổ xuống trước mặt ông, lùi lại một bước, đứng thẳng lưng. Nó đã nghĩ sẵn câu này suốt từ lúc rời cái điếm hoang, nghĩ đi nghĩ lại, nghĩ tới mức thuộc làu như thuộc một câu Tam Thiên Tự. "Dạ, con trèo lên mỏm đá sau khe suối tìm rễ cỏ tranh cho to, trượt chân ngã ạ." Ông lang không nói gì. Ông đặt con dao cầu xuống, đưa tay kéo vạt áo rách trên vai nó sang một bên. Mấy ngón tay gân guốc ấn nhẹ lên vết lằn, lần theo nó từ đầu này tới đầu kia, chậm rãi, cái lối ông vẫn lần mạch cho người ốm. Thằng Bần cắn răng cho khỏi rên. Vết lằn thẳng băng, dài chừng một gang tay, hai mép đều nhau tăm tắp như có ai kẻ bằng thước. "Ngã vào đâu?" "Dạ... vào một cái rễ cây ạ." Ông lang rút tay về. Ông nhìn nó. Nó cũng nhìn lại ông, nhìn thẳng, không cúi mặt, đúng như ông vẫn bắt nó nhìn khi thưa gửi. Cái nhìn của ông lang dừng lại trên mặt nó lâu lắm, lâu hơn cả cái đêm ông nhìn cái rổ gãy. Rồi ông cúi xuống, cầm con dao cầu lên. "Rửa chân rồi vào thổi cơm." "Dạ." Cạch. Con dao cầu lại đưa xuống, gọn, đều, như chưa từng dừng lại. Thằng Bần đi ra giếng. Hai chân nó run lên, mà nó không biết là vì cái vai đau hay vì cái gì khác. Buổi sáng tháng Tư ấy, nó nói dối ông vì nó muốn một thứ. Còn chiều nay, nó nói dối ông vì nó đã có một thứ, và nó không muốn ai lấy mất. --- Đêm ấy thằng Cò về sớm. Nó nằm gác chân lên vách trong gian bếp, nghiêng đầu nhìn thằng Bần rón rén nằm xuống ổ rơm, nằm nghiêng hẳn sang bên phải, cái vai trái để hở ra, không dám đè lên. "Mày lại ngã à?" "Ừ." "Dạo này mày ngã nhiều thế." Thằng Cò nói, giọng tưng tửng. "Hôm nọ ngã xuống mương. Hôm nay ngã vào rễ cây. Mai ngã vào đâu?" Thằng Bần không đáp. Thằng Cò nhìn nó thêm một lúc, cái nhìn nheo nheo của đứa nhanh trí nhất Lò Trấu, đứa mà chuyện gì người ta chưa kịp nói thì nó đã hiểu. Rồi nó quay mặt vào vách, không hỏi thêm câu nào nữa. Đó là lần đầu tiên, kể từ cái hôm ở ao đình, thằng Bần có một chuyện không chia đôi với thằng Cò. Nó nằm trong bóng tối, giơ hai bàn tay lên trước mặt. Bàn tay phải còn vương mấy vệt than đen ở đầu ngón trỏ, ngón cái, chỗ cầm mẩu than viết chữ nghĩa, chữ gia, mỗi tối ba mươi lần. Bàn tay trái thì rát bỏng. Nó đưa lên sát mặt mà nhìn, nhờ chút ánh than hồng còn sót dưới bếp, và nó thấy hai cái bọng nước căng mọng mới phồng lên, nằm ngay ở cái kẽ giữa ngón cái với ngón trỏ. Đúng cái chỗ mà nó từng thấy chai sạn cứng như sừng trâu trên bàn tay lão ăn mày. --- Sáng hôm sau, lúc bày bảng ra chiếu học chữ của ngày, ông lang không nhìn tới cái vai nó lấy một lần. Ông cầm mẩu than vạch lên tấm bảng một chữ. Chữ ấy có hai phần. Phần bên trái mảnh, chỉ hai nét, trông như một người đang đứng nghiêng. Phần bên phải thì nhiều nét hơn, chồng lên nhau như mấy lớp ngói. **信** "Chữ này đọc là tín." Ông gõ que thước xuống bảng. "Bên trái là chữ nhân, người. Bên phải là chữ ngôn, lời nói. Người đứng cạnh lời nói của mình, thế gọi là tín." Thằng Bần nhìn cái phần bên trái, và nó nhận ra. Hồi đầu xuân, Ánh Dương đã chìa cái bảng gỗ ra ngoài cửa sổ chỉ cho nó chữ nhân, bảo cậu nhìn kỹ đi, nó giống cái người đang dang chân ra mà đi. Bây giờ cái người ấy không đi nữa. Cái người ấy đứng lại, đứng ngay cạnh một đống lời nói. "Sách thánh hiền dạy, người mà không có tín thì chẳng biết làm nên được cái gì." Ông lang nói tiếp, giọng khàn khàn đều đều, cái giọng ông vẫn dùng để giảng mọi con chữ khác. "Như cái xe không có chốt. Bánh vẫn còn, càng vẫn còn, trâu vẫn kéo. Nhưng không có chốt thì đi được một quãng là rời ra từng mảnh." Ông đặt que thước nằm ngang trên đùi. "Viết đi. Ba mươi lần." "Dạ." Thằng Bần cúi xuống, cầm mẩu than lên bằng tay phải, như thầy dạy. Nó viết. Nét bên trái, rồi nét bên phải. Người, rồi lời nói. Cái vai trái nhói lên mỗi lần nó cúi thấp, nhưng nó không dám nhúc nhích. Nó viết tới lần thứ ba mươi thì mẩu than đã mòn tới sát đầu ngón tay, và không có nét nào sai. Ông lang ngồi xem, rít hết một điếu thuốc lào, chẳng khen, chẳng chê. Còn bàn tay trái của thằng Bần thì đặt trên đùi, nằm im dưới vạt áo suốt cả buổi học. Nó nắm chặt lại, nắm quanh hai cái bọng nước còn rát, như đang nắm một cái chuôi gươm không có thật.
Chương trước Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ