#
Cuối tháng Năm, cánh đồng Lò Trấu chín vàng.
Lúa chiêm trĩu bông, gục đầu xuống như những bà cụ lưng còng, cả một vùng mênh mông từ chân Dốc Cửa Mả ra tới tận bãi sông vàng ươm một màu, gió nồm thổi qua là dập dờn thành từng lớp sóng, lá lúa cọ vào nhau rì rào xào xạc suốt từ sáng tới tối. Người Lò Trấu ra đồng từ lúc gà gáy canh tư. Đàn ông cắt, đàn bà bó, trẻ con gánh, tiếng liềm hái xoèn xoẹt vang khắp các bờ thửa, lúa đổ xuống từng lượt từng lượt như người ta cúi rạp đầu chào nhau. Trên sân gạch nhà xóm Thượng, trên sân đất nện nhà xóm Trung, tiếng đập lúa thình thịch nối nhau không dứt, thóc phơi lấp lánh dưới nắng, rơm rạ chất thành từng đống cao ngất như những túp lều vàng. Có mấy người đàn bà vừa gặt vừa hát, giọng hát kéo dài, lanh lảnh, bay vút lên trên những ngọn lúa:
*Ai ơi bưng bát cơm đầy,Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.*
Xuống tới xóm Hạ với Mương Đen thì chẳng có lúa mà đập. Người ở đấy đi gặt thuê cho xóm Thượng, công trả bằng thóc, đong bằng cái đấu mà ai cũng biết là đấu non. Gặt xong, cả nhà lại lội xuống những thửa ruộng vừa trơ gốc rạ mà mót, mót từng bông lúa rơi, từng hạt thóc vãi, lưng cúi lom khom dưới nắng như một đàn chim sẻ, nhặt nhạnh tới tối mịt mới lầm lũi kéo nhau về.
Mùa gặt thì nhà ông lang đông người hơn mọi mùa. Người thì đứt tay vì lưỡi liềm, người thì bị đỉa bám chảy máu ròng ròng ở bắp chân, người thì cảm nắng ngã vật giữa ruộng, mặt đỏ gay như quả gấc chín. Ông lang bốc thuốc từ sáng tới tối, sổ nợ của người làng dày thêm từng trang, và cái danh sách ông đọc cho thằng Bần mỗi chiều cũng dài thêm mỗi ngày một ít. Lá bòng bong để cầm máu. Lá tre, rễ cỏ tranh để giải nóng. Rau má để nấu nước cho người say nắng. Ngải cứu để đắp những cái lưng đau vì cúi suốt mấy ngày liền.
Thằng Bần vẫn hái kịp. Chỗ nào có thứ gì thì nó thuộc như thuộc mấy cái kẽ tay mình. Hái xong, nó ôm rổ xuống Dốc Cửa Mả, như mọi chiều.
---
Thấm thoắt đã hơn tháng rưỡi kể từ cái chiều nó cầm cành ổi lần đầu.
Việc ở điếm hoang thì chẳng ai ghi sổ. Lão ăn mày không gạch cũng chẳng vạch cho nó vạch nào. Chỉ có cây gậy tre là ghi, ghi lên khuỷu tay, lên đầu gối, lên bả vai, lên bắp chân nó, ghi bằng những vệt lằn đỏ rồi tím rồi vàng, lặn chỗ này thì nổi chỗ kia, chẳng mấy khi trên người nó có một khoảng da nào lành lặn trọn vẹn. Về nhà, ông lang nhìn những vệt ấy, nhìn một cái rồi thôi. Từ cái hôm hỏi nó ngã vào đâu, ông không hỏi thêm lần nào nữa.
Lão bắt nó đứng tấn. Lão ra miếu Thần Nông nhổ mấy nén hương người ta cắm dở, bảo ông Thần Nông hưởng khói thế là đủ rồi, mang về cắm một nén vào kẽ bậc cửa điếm, châm lửa. Hương chưa tàn thì chưa được đứng lên. Lão đặt thêm lên mỗi bên đùi nó một cái bát sành đầy nước tới miệng, sánh ra giọt nào thì cây gậy vụt vào bắp chân giọt ấy. Mấy buổi đầu, nén hương mới cháy được một đốt ngón tay mà hai bắp đùi nó đã run lẩy bẩy, nước trong bát sóng sánh tràn ra ướt đẫm hai ống quần, và lần nào cũng kết thúc bằng cảnh nó ngã ngồi phịch xuống đất, hai cái bát lăn lông lốc. Sang tháng Sáu thì nó đứng được nửa nén. Cuối tháng Sáu, có một chiều nó đứng trọn một nén, đứng tới lúc tàn hương rụng xuống bậc cửa, hai bát nước vẫn còn đầy nguyên. Lão ăn mày liếc qua, chẳng nói chẳng rằng, hôm sau ra miếu nhổ về một nén dài hơn.
Lão bắt nó chạy. Lão ném cho nó hai hòn đá cuội to bằng cái bát ăn cơm, bảo ôm lấy mà chạy lên đỉnh dốc, vòng qua cây gạo già đứng trơ trọi giữa bãi tha ma, rồi chạy xuống, mười lượt. Đường lên dốc là đất đỏ, nắng thì bụi mù mịt, mưa thì trơn tuột như bôi mỡ, nó ngã không biết bao nhiêu lần, lăn cả người lẫn đá xuống lưng chừng dốc. Mấy buổi đầu, tới lượt thứ tư nó đã thở hồng hộc như con chó chạy theo xe bò, tới lượt thứ sáu thì hai chân nhũn ra như bún. Lão ăn mày ngồi dưới chân dốc tu rượu mà nhắc, thở bằng bụng, không phải bằng ngực, cái bể ấy đầy thì chân mới đi. Nó cứ thế mà thở, hít một hơi thật sâu xuống dưới rốn, thở ra thật chậm qua đằng miệng, phì phò như cái ống bễ lò rèn. Dần dà, tới lượt thứ mười nó vẫn còn chạy được, dù chạy lảo đảo như người say.
Lão bắt nó né. Lão ngồi trên sạp, nhặt quả bàng rụng, quả ổi xanh, hòn đất vón, cái gì trong tầm tay cũng nhặt, ném thẳng vào mặt nó.
"Không được nhắm mắt."
Mà con mắt người thì có phải của mình đâu. Thấy cái gì bay tới là nó tự nhắm lại, nhắm trước cả khi mình kịp nghĩ. Thằng Bần nhắm, và quả bàng đập bốp vào giữa trán. Nó nhắm, và hòn đất vỡ tung tóe trên má.
"Nhắm mắt là mày tự móc mắt mày ra đưa cho thằng kia." Lão nói. "Đừng nhìn cái tay. Cái tay nó biết lừa. Nhìn cái vai. Vai có nhúc nhích thì tay mới đi được."
Nó nhìn cái vai lão. Có hôm vai lão chẳng hề nhúc nhích mà quả ổi vẫn bay vèo tới, nhưng cũng có hôm nó thấy vai lão khẽ động, liền nghiêng đầu sang một bên, và quả ổi sượt qua mang tai nó, rơi tõm xuống vũng nước sau lưng.
Lão bắt nó ngã. Lão đẩy nó từ trên bậc cửa điếm xuống sân, đẩy bất thình lình, lúc thì đẩy từ đằng trước, lúc thì đẩy từ sau lưng.
"Ngã như quả bưởi lăn. Đừng ngã như cái chum vỡ."
Cúi cằm xuống ngực. Thu hai tay vào. Để cái vai chạm đất trước, rồi lăn theo cái đà ấy, lăn một vòng thì đứng dậy luôn. Thằng Bần ngã như chum vỡ mất gần nửa tháng, đập đầu, đập khuỷu, có lần trẹo cả cổ tay, sưng vù lên như cái bánh giò. Rồi một chiều lão đẩy, nó lăn, và tới lúc nó biết mình đang lăn thì nó đã đứng dậy rồi, đứng vững trên hai chân, mặt vẫn hướng về phía lão.
"Ừ." Lão nói. Chỉ thế.
Còn cành ổi thì ngày nào nó cũng chém. Chém một trăm nhát vào khoảng không, chém từ trên xuống, chém xiên sang trái, chém xiên sang phải, chém tới lúc hai bả vai mỏi rời rã. Rồi một hôm lão ra sau điếm chặt một cây chuối, lột bớt mấy lớp bẹ ngoài, dựng đứng giữa sân, bảo chém vào đấy.
Thằng Bần chém. Cành ổi đập vào thân chuối đánh bộp một cái, nảy bật trở lại, thân chuối chỉ hằn một vệt dập, rỉ ra thứ nhựa trắng đục.
"Chém cây chuối là tập chém người." Lão nói, giọng đều đều như người ta bảo hôm nay trời nắng. "Người thì cũng chẳng cứng hơn cây chuối là bao."
Thằng Bần đứng sững, cành ổi còn giơ lưng chừng.
Lão ăn mày không để ý. Hoặc có để ý mà chẳng buồn nói. Lão đã quay vào trong điếm tìm bầu rượu.
Hai cái bọng nước ở kẽ tay trái nó vỡ ra rồi lại phồng lên, phồng lên rồi lại vỡ, tới cuối tháng Sáu thì chai lại thành một lớp cứng, sờ vào sần sật như vỏ cây ổi. Còn tấm bảng gỗ nứt góc thì mỗi sáng lại thêm một chữ ông lang cho, chữ nhớ chữ quên, nhưng những chữ đã nhớ thì nó nhớ chắc, chắc như nhớ chỗ mọc của từng bụi ngải.
Hơn tháng rưỡi ấy, lão ăn mày dạy nó đứng, dạy nó thở, dạy nó chạy, dạy nó né, dạy nó ngã, dạy nó chém. Nhưng chưa một lần nào lão bảo nó đánh vào ai.
---
Mùa gặt thì lớp học của ông lang nghỉ mất mấy buổi, bởi trẻ con nhà nào cũng phải ra đồng đỡ đần bố mẹ, đứa gánh lúa, đứa trông em, đứa cầm sào đuổi gà khỏi sân phơi. Gần cuối tháng Sáu, lúa đã vào bồ, lớp mới học lại.
Hôm ấy là buổi học đầu tiên sau mùa gặt, và cũng là buổi có chuyện.
Trong lớp có thằng Bống, con nhà phó cả thợ mộc ở xóm Trung, bé nhất lớp, mới lên bảy, đầu cạo trọc chừa một cái chỏm trên đỉnh như cái núm vung. Sáng ấy u nó dúi cho nó một nắm xôi gói trong lá dong, xôi nấu bằng nếp vừa gặt, hạt còn trong veo, thơm ngào ngạt, nó để dành tới giờ nghỉ mới giở ra ăn. Giờ nghỉ, ông lang vào gian trong rít điếu thuốc lào. Thằng Bống vừa mở lớp lá dong ra thì thằng Quý đã đứng sừng sững ngay trước mặt.
Thằng Quý chẳng nói chẳng rằng, giật lấy nắm xôi, cắn một miếng to tướng, nhai nhồm nhoàm, rồi giơ nắm xôi lên quá đầu mà cười, giơ cao tới chỗ thằng Bống nhảy mãi chẳng với tới. Cả lớp cười rộ lên. Thằng Bống nhảy, nhảy, rồi chẳng hiểu sao nó thôi nhảy, đứng im, hai con mắt đỏ hoe. Rồi nó chồm tới, túm lấy cổ tay thằng Quý, há miệng cắn phập vào.
Thằng Quý rú lên như lợn bị chọc tiết. Nắm xôi rơi xuống chiếu. Nó vung tay mấy lượt mà thằng Bống vẫn không nhả, cái đầu chỏm lắc qua lắc lại như con chó con ngoạm được khúc xương. Tới lúc hai đứa lớn xúm vào gỡ ra được thì trên cổ tay thằng Quý đã hằn một vòng răng rớm máu.
Ông lang bước ra.
Ông không hỏi đứa nào trước. Ông nhìn nắm xôi nằm trên chiếu, nhìn cái cổ tay rớm máu, nhìn cái mặt đỏ gay nước mắt nước mũi tèm lem của thằng Bống, rồi nhìn thằng Quý, và thế là ông biết hết, như ông vẫn biết hết mọi chuyện mà chẳng cần ai kể.
"Quý. Chìa tay ra."
Thằng Quý mếu máo chìa bàn tay ra. Cái thước tre quất xuống lòng bàn tay nó năm cái, đen đét, đen đét, cái sau đều như cái trước.
"Bống. Chìa tay ra."
Cả lớp im phăng phắc. Thằng Bống ngẩng lên, trố mắt nhìn ông lang như không tin nổi vào tai mình.
"Anh... anh ấy giật của con trước ạ!"
"Nó giật trước thì nó ăn phần của nó rồi." Ông lang nói. "Mày cắn sau thì mày ăn phần của mày. Chìa tay ra."
Thằng Bống chìa tay ra, khóc nấc lên từng chặp. Năm thước. Không nhẹ hơn thằng Quý một cái nào.
Rồi ông lang cầm mẩu than, quay lên tấm bảng lớn treo trên vách, viết một hàng chữ, viết thong thả từng nét một.
**己所不欲,勿施於人**
"Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân." Ông đọc, rồi gõ que thước vào từng chữ mà giảng. "Cái gì mình không muốn, thì đừng làm cho người. Mày không muốn bị giật, thì đừng giật của ai. Mày không muốn bị cắn, thì đừng cắn ai. Thánh hiền nói câu ấy từ hơn hai nghìn năm trước, tới bây giờ thiên hạ vẫn chưa có mấy người làm cho trọn."
Ông đặt que thước xuống.
"Trong lớp này, đứa nào bị giật, bị đánh, thì lên bảo tao. Tao phân xử. Không đứa nào được tự phân xử bằng răng."
Thằng Bần ngồi ở cuối chiếu, nhìn hàng chữ trên bảng. Tám chữ. Nó mới biết mặt có mỗi chữ cuối cùng, chữ nhân, cái người đang dang chân ra mà đi. Mấy chữ kia thì chữ nào cũng lạ hoắc. Nhưng cái câu ông lang giảng thì nó nghe rõ từng tiếng một, và cả buổi chiều hôm ấy, lúc đang ngắt từng lá bòng bong trên sườn đồi, cái câu ấy vẫn cứ văng vẳng bên tai nó, văng vẳng theo đúng cái giọng khàn khàn của ông.
---
Nó nhớ cái mặt thằng Bống lúc chìa tay ra chịu thước.
Cái mặt ấy không phải mặt một đứa biết mình sai. Đó là cái mặt của một đứa bị giật mất nắm xôi u nó dúi cho từ sáng, bị cả lớp cười vào mặt, rồi tới lúc tưởng được người lớn bênh thì lại bị đánh ngang bằng với chính cái đứa đã giật của nó. Thằng Bần biết cái mặt ấy. Chín năm nay nó đã mang cái mặt ấy không biết bao nhiêu lần, chỉ có điều nó giấu đi dưới cái cười hềnh hệch.
Thế mà thầy bảo thằng Bống sai.
Nó ngồi xổm giữa vạt bòng bong, hai tay ngừng hái, và nó nghĩ. Nó nghĩ theo cái lối của nó, lần từng đốt một như bà cụ lần tràng hạt ở chùa, qua được hạt này mới tới được hạt kia.
Thằng Quý giật nắm xôi. Giật là sai. Cái đấy thì ai cũng biết.
Thằng Bống cắn thằng Quý. Thầy bảo cắn cũng sai. Vì thằng Bống không muốn bị cắn, thì nó cũng không được cắn ai. Cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người.
Thế còn nó?
Nó không muốn bị đánh. Chín năm nay chưa có ngày nào nó muốn bị đánh cả. Vậy thì theo đúng cái câu thầy vừa viết lên bảng, nó cũng không được đánh ai.
Mà hơn tháng rưỡi nay, chiều nào nó cũng xuống điếm hoang để học cái gì?
Nó nhìn xuống bàn tay trái. Lớp chai ở kẽ ngón cái với ngón trỏ đã dày cộm lên. Cái tay ấy đã chém không biết bao nhiêu nghìn nhát vào khoảng không, chém mấy trăm nhát vào thân chuối. Chém cây chuối là tập chém người, lão ăn mày bảo thế. Người nào thì nó chưa bao giờ dám hỏi thành lời, nhưng nó biết. Người ấy có hai cánh tay đỏ au vì dội nước sôi ở lò mổ, có một bên vai xệ xuống, và đấm bằng tay trái.
Thằng Hợi đánh nó là sai. Cả làng biết, trời biết, có khi chính thằng Hợi cũng biết.
Nhưng nếu nó đánh lại thằng Hợi, thì theo đúng lời thầy dạy, nó cũng sai.
Nó nghĩ tới quyển sổ nợ của ông lang, cái trang giấy bản chi chít vạch mực. Nó đã quen tính mọi thứ theo cái sổ ấy rồi, cái gì vào sổ thì mới thành thật, thành chắc. Thằng Hợi đánh nó, ấy là một vạch trong sổ của thằng Hợi, cái sổ mà nó chẳng biết ai giữ, có lẽ là trời. Nó đánh lại thằng Hợi, ấy là một vạch trong sổ của nó. Vạch của thằng Hợi có vì thế mà gạch đi được đâu. Chẳng ai được gạch vạch nào. Chỉ có hai cái sổ cùng dài thêm.
Một việc sai đem trả bằng một việc sai, thì chẳng thành ra một việc đúng. Thì thành hai việc sai.
Chẳng lẽ nó lại đi làm một việc sai để trả cho một việc sai?
Nó ngồi im giữa vạt bòng bong một lúc lâu. Một con châu chấu nhảy lên đậu trên mu bàn tay nó, rung rung hai cái râu rồi lại nhảy đi, mà nó cũng chẳng buồn đuổi.
Nhưng cái làm nó lạnh gáy nhất lại không phải là câu thầy viết trên bảng.
Cái làm nó lạnh gáy nhất là một chuyện nó chưa kể với ai. Mấy hôm trước, lúc chém cây chuối, có một nhát nó đã nghĩ tới cái mặt thằng Hợi. Chỉ thoáng qua thôi, cái mặt nhếch mép với hơi thở phả ra mùi mỡ lợn, cái gót chân giẫm lên cái rổ đánh rắc. Và nhát chém ấy là nhát mạnh nhất nó từng chém. Cành ổi ngập sâu vào thân chuối tới nửa đốt tay, rút ra còn nghe đánh sựt, nhựa chuối bắn lấm tấm lên mặt nó. Nó đứng thở hổn hển, và trong ngực nó lúc ấy có một thứ gì đó nóng ran, ngọt lịm, cái thứ mà chín năm nay nó chưa từng biết mùi.
Nó sợ cái thứ ấy. Nó sợ còn hơn sợ thằng Hợi.
Nó ôm rổ đứng dậy, hái nốt cho đủ, rồi xuống dốc.
---
Chiều hôm ấy nó chém cây chuối mà chẳng nhát nào ra hồn.
Cành ổi đập vào thân chuối lụp bụp, lụp bụp, yếu xìu như đứa trẻ gõ vào thành nồi. Lão ăn mày ngồi trên sạp nhìn một lúc, rồi vớ cây gậy gõ vào vách đánh cộc một tiếng.
"Chém cho cây chuối nó gãi ngứa à?"
Thằng Bần hạ cành ổi xuống.
"Thưa chú, cháu hỏi chú một câu được không ạ?"
"Hỏi thì hỏi. Tay vẫn chém."
Thằng Bần lại giơ cành ổi lên. Nó chém một nhát, rồi hỏi, giọng lúng búng như ngậm hột thị.
"Người ta đánh cháu, là người ta sai, phải không ạ?"
"Ừ."
Nó chém thêm một nhát.
"Thế... cháu đánh lại người ta, thì cháu có sai không ạ?"
Cái bầu rượu đang đưa lên miệng lão ăn mày khựng lại giữa chừng.
Thằng Bần không nhìn lão. Nó nhìn cây chuối, và nó kể, kể chậm rãi, lúng túng, cái lối kể của đứa sợ nói sai, kể chuyện thằng Quý giật xôi, chuyện thằng Bống cắn, chuyện ông lang phạt cả hai đứa năm thước ngang nhau, chuyện tám chữ trên bảng. Nó nhắc lại câu ông lang giảng, nhắc gần như nguyên văn từng tiếng.
"Cháu không muốn bị đánh, chú ạ. Anh Hợi chắc cũng không muốn bị đánh." Cành ổi trong tay nó dừng lại. "Thế thì cháu đánh anh ấy là cháu sai. Anh ấy làm một việc sai với cháu, cháu lại trả anh ấy một việc sai. Chẳng lẽ... chẳng lẽ cháu lại làm một việc sai để trả cho một việc sai hả chú?"
Nó ngừng một nhịp, rồi nói nốt cái điều nó đã tính suốt buổi chiều.
"Cháu tính rồi. Như thế thì sổ của anh ấy dài thêm một vạch, sổ của cháu cũng dài thêm một vạch. Chẳng ai được gạch đi vạch nào cả."
Lão ăn mày nhìn nó rất lâu.
Rồi lão hạ cái bầu rượu xuống đùi, không uống nữa.
"Lão lang dạy mày câu ấy à?"
"Dạ."
"Câu ấy của thánh hiền." Lão khịt mũi. "Đúng. Thánh hiền nói câu gì mà chẳng đúng. Chỉ có điều thánh hiền chưa phải đi qua ngõ Mương Đen bao giờ."
Thằng Bần không biết nên cười hay không, nên nó im.
"Thế trong lớp lão lang, thằng Quý giật xôi xong thì ai đánh thằng Quý?"
"Dạ, thầy cháu ạ."
"Ừ. Trong lớp ấy có lão lang cầm thước đứng đấy. Đứa nào giật thì có lão ấy đánh đứa ấy. Lão ấy chặn." Lão hất hàm ra phía cửa điếm, về phía con đường đất đỏ ngoằn ngoèo dẫn ra ngõ Mương Đen. "Thế ngoài kia thì ai cầm thước cho mày?"
Thằng Bần nghĩ tới cái chiều ở ngõ Mương Đen, tiếng huýt sáo của nó bay đi mà chẳng ai huýt trả, nghĩ tới những người đàn bà giặt giũ ở bến ao đình hôm nó bị dìm xuống nước.
"Dạ... không có ai ạ."
"Đéo có ai." Lão gật gù. "Nhớ lấy."
Lão chống gậy nhổm người lên một chút, rồi lại ngồi xuống, như người vừa định đứng dậy thì đổi ý.
"Cái hôm ngồi sau miếu, tao hỏi mày cái gì?"
Thằng Bần nhớ ngay. Cái câu ấy nó chẳng thể nào quên được.
"Dạ, chú hỏi cháu có muốn chúng nó thôi đánh cháu không ạ."
"Tao có hỏi mày có muốn đánh lại chúng nó không?"
Thằng Bần ngẩn ra.
"Dạ... không ạ."
"Thế thì đấy."
Nó vẫn ngẩn ra. Lão ăn mày thở dài đánh thượt, cái tiếng thở dài của người bán hàng gặp phải đứa mua hàng chậm hiểu, rồi vẫy nó lại gần.
"Mày tính sổ giỏi lắm cơ mà. Tính lại cho tao xem." Lão giơ nắm tay trái lên, cái nắm tay to bè, đen đúa, chai sạn. "Đây là tay thằng Hợi. Nó giơ lên thế này, định đấm vào mặt mày. Cái nắm đấm này chưa rơi xuống, thì thằng Hợi đã có tội gì chưa?"
Thằng Bần nhìn cái nắm tay lơ lửng trước mặt, nghĩ một lúc.
"Dạ... chưa ạ? Anh ấy mới giơ lên thôi ạ."
"Ừ. Giờ mày lấy tay gạt cái nắm đấm này đi, gạt cho nó không rơi xuống mặt mày được. Sổ của thằng Hợi có dài thêm vạch nào không?"
"Dạ... không ạ. Vì anh ấy chưa đánh được cháu."
"Thế sổ của mày có dài thêm không?"
Thằng Bần mở miệng, rồi lại ngậm lại. Tay nó gạt tay thằng Hợi, thì tay nó cũng đã động vào người thằng Hợi.
"Dạ... cháu không biết ạ. Cháu gạt tay anh ấy, thì cũng là cháu động vào anh ấy ạ."
"Mày gạt cho cái đòn khỏi rơi xuống đầu mày, chứ có phải gạt cho nó đau đâu." Lão buông nắm tay xuống. "Cùng một bàn tay, cùng một cái gạt, mà hai cái bụng khác nhau thì khác nhau một trời một vực."
Lão nhấp một ngụm rượu, rồi nói tiếp, thong thả như người đếm từng hạt thóc.
"Còn cái việc nó đánh mày xong rồi, mày lồm cồm bò dậy, phủi đít, chờ hôm khác đi tìm nó mà đánh lại cho bõ, đánh cho nó đau bằng mày, đau hơn mày, thì đấy mới là cái việc sai thứ hai. Đấy mới gọi là ăn miếng trả miếng. Cái đấy thì lão lang nói đúng, sổ đứa nào cũng dài ra, chẳng đứa nào được gạch vạch nào." Lão gõ đầu gậy xuống nền đất. Cộc. "Còn làm cho nó không đánh được mày nữa, thì gọi là chặn. Chặn thì không phải trả."
Thằng Bần đứng im, cái đầu nó chầm chậm xếp lại từng điều lão nói, như xếp lại mấy hòn sỏi giấu dưới ổ rơm. Cái đòn chưa rơi. Gạt đi. Không ai phải nợ ai. Nó thấy trong ngực nhẹ đi được một chút.
Nhưng chỉ một chút thôi. Bởi còn một chuyện nữa.
Nó ngập ngừng mãi, rồi nói, nói khẽ tới nỗi lão ăn mày phải nghiêng đầu mới nghe rõ.
"Thưa chú... hôm trước lúc chém cây chuối, có một nhát cháu nghĩ tới mặt anh Hợi ạ."
Lão ăn mày không nói gì.
"Nhát ấy cháu chém mạnh nhất." Thằng Bần nhìn xuống cành ổi trong tay mình. "Mà lúc ấy... lúc ấy trong bụng cháu thấy... cháu thấy sướng ạ."
Điếm hoang lặng đi.
Cây chuối dựng giữa sân đứng im trong nắng chiều, trên thân hằn những vết dập loang lổ như những vết bầm trên da người. Mấy con ruồi vo ve quanh chỗ nhựa chuối rỉ ra. Xa xa phía cánh đồng, tiếng đập lúa muộn của nhà ai vọng lại thình thịch, thình thịch, đều đều như tiếng tim đập.
Lão ăn mày đặt cái bầu rượu xuống sạp. Đặt thật chậm.
Lần đầu tiên từ ngày quen lão, thằng Bần thấy lão ngồi thẳng lưng lên, thẳng như một cây cọc, không dựa vách, không chống gậy. Cái vẻ lè nhè say sưa trên mặt lão rơi đâu mất, chỉ còn lại đôi mắt dưới cặp lông mày rậm, nhìn nó không chớp.
"Mày biết thế là tốt." Lão nói. Giọng lão khàn đặc, trầm hẳn xuống. "Có mấy thằng biết đâu."
Lão chìa ngón tay chỉ vào ngực nó, ngay chỗ trái tim đang đập thình thịch.
"Cái lúc mày chém mạnh nhất ấy, là lúc mày chém cho hả. Nhớ lấy cái mùi của nó. Chặn thì chỉ cần vừa đủ. Như cầm con cá rô, nhớ chưa? Vừa đủ cho nó khỏi tuột, thế thôi. Còn hả thì bao nhiêu cũng không đủ. Hả một lần thì lần sau phải hả hơn. Lần sau nữa lại phải hơn nữa."
Cái ngón tay chỉ vào ngực nó khẽ run. Thằng Bần nhìn thấy, và nó nhớ tới cái chiều đầu tháng Năm, cây gậy tre giơ lên giữa không trung, cánh tay lão run bần bật như đang giằng co với một người khác mà nó không nhìn thấy.
Lão rụt tay về, nắm lại, đặt lên đầu gối.
"Ra đòn thì con chó cũng biết cắn." Lão nói. "Cái khó nhất không phải là ra đòn. Cái khó nhất là dừng."
Thằng Bần nuốt nước bọt.
"Thế... lúc đánh nhau, làm thế nào cháu biết được cái bụng cháu đang muốn chặn hay đang muốn hả ạ?"
Lão ăn mày nhìn nó, rồi bật ra một tiếng cười khẽ, không phải cái cười giễu cợt như mọi khi.
"Thằng Bống cắn thằng Quý. Nó cắn để lấy lại nắm xôi, hay nó cắn cho thằng Quý đau?"
Thằng Bần nghĩ tới cái đầu chỏm lắc qua lắc lại, tới cái hàm răng mãi không chịu nhả ra dù nắm xôi đã rơi xuống chiếu từ lâu.
"Dạ... cháu không biết ạ."
"Có khi chính nó cũng không biết." Lão lại cầm cái bầu rượu lên, lắc lắc bên tai nghe xem còn bao nhiêu. "Cái bụng người như cái giếng sâu. Đứng trên miệng giếng mà nhìn xuống thì chỉ thấy cái mặt mình."
"Thế thì cháu phải làm thế nào ạ?"
"Không biết thì đừng đánh." Lão tu một ngụm. "Chạy."
"Chạy ạ?"
"Ừ. Chạy." Lão trợn mắt. "Mày tưởng mày học được cái đéo gì rồi à? Hơn tháng rưỡi cầm cành ổi, chém cây chuối còn chưa đứt, đứng tấn được một nén hương đã tưởng mình là tướng. Thằng Hợi mười hai tuổi, ngày nào cũng khuân lợn, nó đấm một cái là mày bay xuống mương. Gặp chúng nó thì chạy."
"Dạ..."
"Tao bắt mày ôm đá chạy lên chạy xuống cái dốc kia để làm gì?"
"Dạ... cháu tưởng để cho chân khỏe ạ."
"Chân khỏe thì để làm gì?"
Thằng Bần nghĩ một lúc.
"Dạ... để chạy ạ."
"Thế đấy." Lão gật gù, hài lòng như vừa giảng xong một bài. "Chạy cũng là một thế. Chạy mà giữ được cả cái mạng lẫn cái bụng, thì hơn đánh mà mất cả hai."
Lão ngừng lại, đưa mắt nhìn ra cây chuối giữa sân.
"Tao dạy mày cầm gươm," lão nói, giọng nhỏ dần đi, "không phải để mày thành..."
Lão bỏ lửng. Cái bầu rượu đưa lên miệng, tu một hơi dài, lâu lắm.
"Thành cái giống như thằng Hợi."
Rồi lão quệt ngang miệng, lại lè nhè như cũ.
"Còn đứng đấy làm gì? Chém. Một trăm nhát. Nhát nào cũng vừa đủ thôi, đéo cần mạnh."
Chiều hôm ấy thằng Bần chém một trăm nhát, nhát nào cũng vừa đủ. Cây chuối chẳng đứt, chẳng ngập, chỉ dập thêm một vệt. Lão ăn mày ngồi xem từ đầu tới cuối, không gõ gậy lần nào.
---
Tối ấy thằng Cò về sớm, trong vạt áo lủng củng mấy củ khoai lang luộc còn âm ấm.
"Chia đôi."
Nó bẻ củ to nhất làm hai, đưa cho thằng Bần một nửa, rồi ngồi xếp bằng bên bếp, vừa thổi phù phù vừa ăn.
"Dạo này mày đi đường nào?"
"Đường bãi tha ma."
"Liệu mà đi." Thằng Cò nhồm nhoàm. "Thằng em út nhà thằng Hợi giờ cả Mương Đen gọi là thằng Đái. Nó đi đến đâu là có đứa hét theo đến đấy. Nó rêu rao khắp nơi là tại mày, tại mày dắt ma què về. Thằng Hợi bảo gặp mày ở đâu là đánh mày ở đấy."
Thằng Bần cầm nửa củ khoai, không ăn.
"Tao có làm gì đâu."
"Mày không làm gì thì mới bị đánh chứ." Thằng Cò liếm mấy ngón tay dính khoai, nhe cái răng khểnh ra. "Mày mà làm gì thì chúng nó còn phải nghĩ."
Nó phủi tay vào vạt áo, ngả lưng xuống ổ rơm, gác chân lên vách.
"Đi một mình thì chạy cho nhanh vào."
Thằng Bần ngồi im bên bếp. Trong một ngày, có hai người bảo nó chạy. Một người dạy nó cầm gươm. Một người chẳng biết gì về cái gươm ấy cả.
Nó nằm xuống ổ rơm, nằm ngửa, đặt bàn tay lên bụng, ngay dưới rốn chừng một đốt tay. Nó hít vào thật chậm, thấy cái bụng phồng lên dưới lòng bàn tay, rồi thở ra, thấy nó xẹp xuống. Cái bể chứa hơi thì nó biết ở đâu rồi, biết từ cái chiều đầu tiên. Người làng vẫn bảo người này tốt bụng, người kia xấu bụng, người nọ bụng dạ khó lường, cứ như cái bụng ai cũng là một cái hũ, mở nắp ra là thấy trong ấy đựng những gì. Vậy mà cái bụng của chính nó, nó sờ tay lên được, thở vào được, thì lại chẳng biết trong ấy đựng những gì.
Ngoài sân, tiếng dế kêu ri ri dưới chân giàn phơi thuốc. Trong ổ rơm bên cạnh, thằng Cò đã ngáy đều.
Cái bể chứa hơi thì nó tìm thấy rồi. Còn cái giếng sâu kia, nó cúi xuống nhìn mãi, vẫn chỉ thấy mặt mình.