#
Tháng Bảy năm ấy mưa ngâu dầm dề.
Mưa từ mùng một tới mùng mười chưa ngớt ngày nào. Không to, không ào ào như mưa rào đầu hạ, mà cứ lâm thâm, rả rích, lúc dày lúc thưa, như có ai ngồi trên trời mà sàng nước xuống. Mái rạ nhà nào cũng sũng nước, nước nhỏ giọt tong tỏng xuống những cái chum kê dưới hiên, rêu xanh bò lên chân tường, đường làng lầy lội tới mắt cá, đi một bước thì bùn bám lấy chân kêu nhóp nhép, rút lên không được. Người Lò Trấu bảo đấy là nước mắt ông Ngâu bà Ngâu, một năm mới được gặp nhau một lần trên cầu Ô Thước, gặp nhau thì khóc, chia tay thì lại khóc, khóc suốt cả tháng Bảy không thôi. Trẻ con nghe kể thì thương ông Ngâu bà Ngâu. Người lớn thì chẳng còn bụng dạ nào mà thương ai, chỉ ngồi nhìn trời mà lo.
Lo vì năm ngoái.
Năm ngoái cũng mưa tháng Bảy, rồi một đêm con đê cũ phía xóm Hạ vỡ, nước nhảy lên bờ, rồi nửa tháng sau lũ thì dịch thổ tả kéo tới. Năm nay mưa ngâu chưa dứt, đầu tháng đã có người thấy kiến tha trứng bò thành từng hàng dài, bò lên gốc tre, bò lên cả vách nhà, đen sì như ai kẻ mực. Mấy cụ già ngồi đầu đình nhìn đàn kiến mà lắc đầu, lẩm nhẩm cái câu các cụ đời trước truyền lại, tháng Bảy kiến đàn, đại hàn hồng thủy, con kiến nó biết trước con người. Lý trưởng bắt mỗi nhà một suất đi đắp lại con đê cũ, đắp vội đắp vàng, đất sũng nước, đắp tới đâu lún tới đấy.
Tháng Bảy lại là tháng cô hồn. Tháng Bảy ngày rằm xá tội vong nhân, cửa ngục dưới âm phủ mở toang, những vong hồn đói khát không nơi nương tựa được thả lên dương gian, lang thang khắp các ngõ ngách tìm cái ăn. Người Lò Trấu dặn con cái chạng vạng thì phải về nhà, đêm hôm không được la cà ngoài đường, không được phơi quần áo qua đêm kẻo ma mượn mặc, không được huýt sáo kẻo ma tưởng gọi mà tìm tới.
"Thế thì tốt." Thằng Cò nằm vắt chân chữ ngũ trong ổ rơm, nghe thằng Bần kể lại lời bà hàng nước thì cười khẩy. "Hôm nào bị đánh mày cứ huýt. Tao không tới thì ma tới."
---
Năm nay rằm tháng Bảy lại trùng với giỗ đầu của những người chết dịch năm ngoái.
Người chết rải rác từ trung tuần tới cuối tháng Bảy, giỗ đầu nhà nào cũng rơi vào quãng ấy. Lý trưởng với các cụ trong làng bàn nhau, năm ngoái chết nhiều quá, chết bất đắc kỳ tử, lại chết giữa mùa dịch, chôn vội chôn vàng, chẳng nhà nào kịp làm ma cho tử tế, e vong hồn còn vất vưởng. Thế là làng góp tiền, mời sư cụ chùa làng, rằm tháng Bảy lập đàn cầu siêu ngay dưới gốc cây gạo giữa bãi tha ma, cúng chung cho cả bốn mươi mốt người, cúng luôn cho các vong cô hồn không nơi nương tựa.
Sáng rằm, lý trưởng lại cho người sang tìm thằng Bần.
Người nhà các vong lên dốc từ sáng sớm để đắp lại mả, thắp hương, mà lên tới nơi thì chẳng mấy nhà tìm ra mả nhà mình. Một năm mưa gió, những ngôi mả đắp vội hồi mùa dịch đã lún xuống gần bằng mặt đất, cỏ gà cỏ may mọc trùm lên kín mít, cọc tre cắm đánh dấu thì mục gãy, trôi mất, có cái bị trâu bò húc đổ từ đời nào. Cả sườn dốc bây giờ chỉ còn là một vạt cỏ lổn nhổn những ụ đất thấp lè tè, ụ nào cũng giống ụ nào. Có nhà đã quỳ xuống thắp hương cho một cái ụ đất, thắp xong mới có người bảo hình như không phải, cái ấy là mả ông Cả Tý chứ không phải mả bà nhà anh. Người ta cãi nhau ỏm tỏi, đàn bà bắt đầu khóc. Rồi có ai đó sực nhớ ra, cả bốn mươi mốt cái huyệt năm ngoái đều do một tay thằng ranh ở điếm hoang đào.
Ông lang nghe người của lý trưởng nói xong thì chẳng hỏi han gì, chỉ bảo nó quét nốt cái sân, gánh đầy hai chum nước, rồi hẵng đi.
"Người ta cho gì thì là của mày."
"Dạ."
---
Đàn cầu siêu dựng dưới gốc gạo từ lúc trời còn lây rây mưa.
Cây gạo ấy già lắm rồi, già tới mức chẳng cụ nào trong làng nhớ ai trồng nó. Thân cây sần sùi, to tới ba người ôm không xuể, gốc nổi lên những cái rễ bạnh ra như những tấm vách, cành trơ trụi vươn ra tứ phía như những cánh tay khẳng khiu. Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề, trẻ con Lò Trấu thuộc câu ấy từ lúc mới bập bẹ biết nói, nên chẳng đứa nào dám đứng dưới gốc gạo lúc trời chạng vạng.
Sư cụ chùa làng đã già, râu tóc bạc phơ, mặc áo nâu sồng, lưng hơi còng. Chú tiểu đứng bên cạnh gõ mõ cốc cốc, thỉnh chuông boong boong, tiếng chuông ngân dài lan ra khắp sườn dốc rồi tan vào màn mưa bụi. Trên cái bàn kê tạm bằng mấy tấm ván, khói hương nghi ngút, lẫn với mùi vàng mã, mùi xôi, mùi chuối chín. Dưới đất trải một tấm chiếu, trên chiếu bày một hàng dài những cái phễu gấp bằng lá đa, mỗi cái đựng một thìa cháo trắng loãng, thứ cháo lá đa người ta vẫn nấu cho các vong không ai thờ cúng. Cạnh đấy là một rổ gạo trộn muối, đợi cúng xong thì vãi ra bốn phương.
Người nhà các vong đứng chật quanh gốc gạo, người nào cũng khăn tang vấn đầu, áo nâu bạc phếch. Thằng Bần thì đứng tít ở ngoài rìa, dưới một bụi cây găng, chỗ nó vẫn quen đứng. Cái mai nó vác theo từ nhà dựng bên cạnh.
Trước lúc hành lễ, chị Mận lách qua đám đông, tới bên sư cụ, chắp tay lại.
Chị vẫn gầy rộc như hồi tháng Giêng, hai má hóp, hai mắt trũng sâu hoắm, nhưng chị không khóc. Cả buổi sáng thằng Bần chưa thấy chị khóc lần nào.
"Bạch sư cụ, sư cụ đọc thêm cho con một người nữa ạ." Giọng chị vẫn khàn như có cát trong cổ. "Cháu nhà con. Cháu mất hồi rằm tháng Giêng, không phải mất vì dịch, nhưng con muốn cháu được đi cùng bố cháu."
Sư cụ gật đầu, cầm bút lên.
"Cháu tên là gì?"
Chị Mận ngập ngừng.
"Dạ... cháu chưa có tên ạ. Nhà con định đợi cháu lên ba mới đặt, đặt sớm sợ ma quỷ nó biết tên mà bắt đi. Ở nhà vẫn gọi là thằng Cu thôi ạ."
Sư cụ lặng đi một thoáng. Rồi ông cụ cúi xuống tờ sớ, viết thêm mấy chữ vào cuối hàng.
"Thế thì sư ghi là vong nhi, con trai anh Nguyễn Văn Khoan với chị Đặng Thị Mận." Sư cụ nói, giọng trầm trầm. "Tên thì cháu chưa có. Nhưng cháu có bố có mẹ, ghi tên bố mẹ vào thì các ngài dưới ấy vẫn biết cháu là con nhà ai."
Chị Mận cúi đầu lạy sư cụ ba lạy, rồi lùi về đứng lẫn vào đám đông.
Thằng Bần đứng dưới bụi găng, nhìn theo cái lưng gầy rộc ấy.
Rồi sư cụ bắt đầu đọc.
Tờ sớ viết trên một tờ giấy hồng điều dài, chữ Nho đen nhánh xếp thành từng hàng dọc, và sư cụ đọc từng cái tên một, đọc chậm, ngân nga, cứ mỗi cái tên lại dừng một nhịp cho chú tiểu gõ một tiếng mõ.
"Hương linh Đỗ Văn Tý..."
Cốc.
"Hương linh Nguyễn Thị Nhỡ..."
Cốc.
Thằng Bần nghe. Và cứ mỗi cái tên sư cụ đọc lên, trước mắt nó lại hiện ra một cái huyệt.
Nó chưa bao giờ biết tên những người nó chôn. Mùa dịch năm ngoái, người ta khiêng xác tới mép huyệt, có khi bó trong manh chiếu, có khi bọc trong tấm vải màn, có khi chỉ có cái xác trần, rồi vứt đấy mà chạy. Chẳng ai dừng lại mà bảo nó đây là ông này bà nọ. Nó nhớ họ theo cách của nó. Cái xác đàn ông to béo, nặng tới nỗi nó phải lăn chứ không kéo nổi. Bà cụ nhẹ như bó rơm, tóc trắng như cước. Người đàn bà có cái bớt tím ở cổ. Đứa con gái đeo cái vòng bạc ở cổ chân mà chẳng ai nhớ tháo ra. Bây giờ nghe sư cụ đọc, nhìn người nhà nào khóc lên ở cái tên nào, nó mới lần lượt gắn được từng cái tên vào từng cái huyệt, như người ta gắn từng cái cán vào từng lưỡi cuốc.
Ông Cả Tý là cái xác to béo. Bà Nhỡ là bà cụ nhẹ như bó rơm.
Tên nào cũng có chữ văn, chữ thị. Văn Tý, Thị Nhỡ, Văn Khoan, Thị Sen. Xóm Hạ nhà nào cũng đặt tên con như thế.
Sư cụ đọc tới cái tên thứ ba mươi tám, thứ ba mươi chín, thêm vong nhi con anh Khoan chị Mận, rồi ngừng lại, lật tờ sớ, đọc tiếp một câu dài hơn hẳn những câu trước.
"Cùng chư vị hương linh vô danh, không nơi nương tựa, không người hương khói..."
Cốc. Boong.
Thằng Bần chờ. Nó chờ sư cụ đọc thêm. Nhưng sư cụ đã gấp tờ sớ lại, châm vào ngọn nến, rồi thả vào cái chậu đồng cho cháy.
Có hai cái xác sư cụ không đọc tên.
Một là ông già buôn nồi đất từ phủ khác tới, gánh nồi đi bán qua làng thì phát dịch, nằm chết queo ở hiên đình. Nó nhớ hai bàn chân ông ấy, chai sạn nứt nẻ như mặt ruộng hạn, nhớ đôi quang gánh còn quàng trên vai lúc người ta khiêng tới. Hai là mụ Dở, cái mụ điên quanh năm lang thang ngoài chợ, vừa đi vừa hát những câu chẳng ai hiểu, trẻ con ném đất vào người thì cười. Mụ chết ở gầm cầu chợ, ba ngày sau người ta mới ngửi thấy.
Cả làng gọi mụ là mụ Dở. Chẳng ai biết mụ tên gì. Mụ Dở thì có phải là tên đâu, cũng như cả làng gọi con chó nhà ông trùm là con Vện, có ai viết con Vện vào sớ bao giờ.
Thằng Bần đứng dưới bụi găng, nhìn cái tờ sớ hồng điều cong queo lại trong chậu lửa, những hàng chữ đen đỏ rực lên một thoáng rồi hóa thành tro, bay lả tả lên như những con bướm đen.
Thằng cu nhà chị Mận chưa có tên. Nhưng nó còn có tên bố, tên mẹ để mà treo vào.
Còn nó thì có cái gì?
---
Cúng xong, người ta vãi gạo muối ra bốn phương, rồi tỏa ra khắp sườn dốc. Thằng Bần vác mai đi theo từng nhà.
"Mả nhà bác nằm bên trái cây gạo, cách ba mả, ngay dưới cái rễ nổi ạ. Cháu đào sâu nhất, vì ông nhà bác to người nhất ạ."
"Mả bà nhà anh ở chỗ đất trũng gần bụi tre. Hôm ấy mưa, cháu phải tát nước ra mới hạ được ạ."
"Mả em gái chị ở hàng thứ hai, cạnh mả chị Sen, hai cái sát nhau ạ. Lúc chôn, cổ chân em ấy còn đeo cái vòng bạc."
Người đàn bà vừa nghe tới cái vòng bạc thì khuỵu xuống, ôm lấy cái ụ đất mà khóc rống lên.
Nó chỉ cho từng nhà, rồi đắp lại mả cho từng nhà, xúc đất đỏ đắp lên cho cao, vỗ mặt mai cho chặt. Có nhà dúi cho nó một nắm xôi gói lá chuối, có nhà một quả chuối tiêu, có bà cụ nhét vào tay nó một quả trứng luộc còn âm ấm, nắm chặt lấy tay nó một lúc lâu mới buông. Cũng có nhà chẳng cho gì, bởi nhà ấy ở xóm Hạ, có gì thì đã đặt lên mả hết cả rồi. Cũng có người đưa quả chuối cho nó mà không chạm vào tay nó, chìa ra bằng hai đầu ngón tay, như sợ cái mùi xác người năm ngoái còn bám trên tay nó chưa rửa sạch. Thằng Bần nhận hết, cúi đầu cảm ơn hết, cẩn thận xếp tất cả vào một cái bọc lá chuối, định bụng mang về chia đôi với thằng Cò.
Chị Mận thì không cần ai chỉ. Chị ngồi giữa hai cái mả, một cái to, một cái bé xíu, cỏ trên cả hai cái đều đã được nhổ sạch từ lâu. Thấy thằng Bần vác mai đi ngang, chị ngẩng lên nhìn nó, gật đầu một cái. Chỉ thế thôi. Nó cũng cúi đầu chào lại chị.
Tới quá trưa thì mưa tạnh. Nắng xuyên qua mây, loang lổ trên sườn dốc. Người ta thắp hương xong, hóa vàng xong, lần lượt kéo nhau xuống dốc. Đồ cúng thì nhà nào cũng để lại một ít trên mả, nắm xôi, quả chuối, mấy cái oản, cho người dưới ấy ăn nốt.
Tới xế chiều, trên sườn dốc chỉ còn mình thằng Bần.
Nó đi một vòng, đếm. Trong bốn mươi mốt cái mả, ba mươi tư cái đã được đắp cao, nhổ cỏ, cắm cọc mới, chân cọc còn cắm mấy chân hương cháy dở. Cái mả bé xíu của thằng cu nhà chị Mận thì cỏ đã được nhổ sạch từ lâu.
Còn bảy cái thì không ai tới.
Nó biết từng cái một. Ba cái nằm sát nhau là nhà ông Lềnh, chết cả ba bố mẹ con chỉ trong hai ngày, hàng xóm khiêng tới bỏ đấy rồi chạy. Một cái là bà cụ Thìn, góa bụa không con không cháu. Một cái là anh Sẻ, vợ con anh ấy bỏ làng đi đâu từ đầu năm, chẳng ai biết. Những cái tên ấy thì sư cụ có đọc. Có tên mà không ai thắp cho một nén hương.
Còn hai cái nữa là ông già buôn nồi đất, với mụ Dở.
Cỏ trùm kín cả bảy cái mả. Cọc tre chẳng còn cái nào. Nếu nó không nhớ, thì chẳng ai trên đời này còn biết dưới những đám cỏ gà ấy có người nằm.
Thằng Bần đứng nhìn một lúc.
Rồi nó đặt cái bọc lá chuối vào một hốc rễ gạo, vén tay áo lên, nhổ cỏ.
---
Nó nhổ cỏ cho cả bảy cái mả, nhổ sạch từng gốc cỏ gà bám rễ sâu hoắm. Nó xúc đất đỏ đắp lên cho cao, đắp tròn trịa, vỗ mặt mai cho chặt, chặt như đắp cho mả nhà người ta. Rồi nó xuống bụi tre ở mép bãi tha ma, rút con dao quắm ông lang vẫn cho mang theo đi đào rễ, chặt bảy khúc tre, vót nhọn một đầu, cắm xuống đầu mỗi mả một khúc.
Cắm xong cái cọc cuối cùng, nó đứng nhìn bảy cái cọc tre xanh mới vót, và nó thấy vẫn còn thiếu một thứ gì.
Mả của người ta, cọc nào cũng có người nhà buộc một mẩu vải, hay lấy than viết mấy chữ lên, để năm sau lên còn biết đâu mà tìm. Bảy cái cọc này thì trơn lán.
Nó biết mặt được vài chục con chữ. Nhưng tên của những người nằm dưới này, nó chẳng biết viết chữ nào. Mà hai người trong số ấy thì cả làng này, cả sư cụ, cũng chẳng ai biết tên.
Nó ngồi xổm trước cái mả của ông già buôn nồi, nghĩ mãi.
Rồi nó cầm con dao quắm, dí mũi dao vào thân cọc tre, chậm chạp khắc từng nét. Một nét phẩy xiên sang trái. Một nét mác xiên sang phải. Hai nét chụm đầu lại với nhau ở trên, dang chân ra ở dưới, như một người đang đi.
Chữ nhân. Người.
Nó chẳng biết tên ông ấy. Nhưng ông ấy là người. Cái đấy thì nó biết. Nó khắc chữ nhân lên đấy, để ai đi qua cũng biết dưới cái ụ đất này là một con người, chứ không phải một đống đất.
Nó khắc lên cái cọc thứ hai, mả mụ Dở. Rồi cái thứ ba, thứ tư, cả mả bà cụ Thìn, mả anh Sẻ, mả nhà ông Lềnh, những người có tên mà nó không biết viết. Mũi dao quắm trơn tuột trên thân tre còn ướt, mấy lần trượt đi cứa vào ngón tay cái nó, máu rỉ ra đỏ lòm, thấm cả vào nét chữ. Nó chùi vào vạt áo rồi khắc tiếp.
Bảy cái cọc. Bảy chữ nhân. Chữ nào cũng xiêu vẹo, cũng xấu, cái chân dài cái chân ngắn, như bảy người đi khập khiễng.
Nó đứng thẳng lưng, chắp tay vái bảy cái vái.
---
"Ơ kìa. Thằng đào mả lại lên thăm họ hàng."
Thằng Bần quay lại.
Năm đứa đang từ phía dưới dốc đi lên, đứa nào tay cũng ôm một ôm đồ cúng vơ vét được trên các mả, xôi, chuối, oản, có đứa miệng còn đang nhai. Thằng Hợi đi đầu, nắm xôi trong tay trái, cái vai phải vẫn xệ xuống. Sau nó là thằng em thứ hai, rồi thằng em út, rồi hai đứa đi theo nịnh.
Thằng em út vừa trông thấy thằng Bần thì khựng lại, mặt tái đi một thoáng, rồi lại đỏ lên. Từ hôm ở ngõ Mương Đen tới giờ, cả xóm gọi nó là thằng Đái. Nó đi đến đâu, trẻ con hét theo đến đấy.
"Nó viết chữ lên cọc mả kìa anh!" Thằng em thứ hai chỉ tay. "Thằng đào mả biết chữ cơ đấy!"
Cả bọn phá ra cười. Thằng Hợi đi tới, cúi xuống nhìn cái chữ nhân xiêu vẹo trên cọc tre, rồi nhổ phắt cái cọc lên, giơ ra trước mặt cả bọn như giơ một con chuột chết.
"Chữ gì đây? Chữ đào mả à?"
"Anh Hợi..." Thằng Bần bước lên một bước, giọng nhỏ nhẹ. "Anh trả em cái cọc ạ. Mả ấy không có ai thờ..."
"Không có ai thờ thì mày thờ à?" Thằng Hợi ném cái cọc xuống đất, lấy gót chân di lên, di tới lúc thân tre nứt toác. "Thằng không cha không mẹ đi thờ con ma không tên. Xứng đôi đấy."
Cả bọn lại cười. Thằng em út cười to nhất, cười như sợ cả bọn không nghe thấy mình cười. Rồi nó đảo mắt nhìn quanh, nhìn bảy cái mả mới đắp, nhìn thằng Bần, nhìn anh nó, và thằng Bần thấy trong đôi mắt ấy có một thứ gì vừa nảy ra.
"Hôm nọ tao đái vì lão què." Nó nói, giọng lanh lảnh, the thé, cố cho thật to. "Hôm nay tao đái cho con ma của mày xem."
Nó bước tới cái mả của ông già buôn nồi đất, cái mả đầu tiên thằng Bần khắc chữ, vạch quần ra.
Tiếng nước chảy xuống mặt đất đỏ mới đắp nghe tồ tồ. Nước tiểu bắn lên cái cọc tre, chảy xuống theo nét chữ nhân vừa khắc, thấm vào lớp đất vừa vỗ chặt. Cả bọn cười rũ rượi, thằng em thứ hai ôm bụng lăn ra cỏ, thằng Hợi vỗ đùi đánh đét. Thằng em út đái xong, lắc lắc người mấy cái cho ráo, rồi quay lưng về phía thằng Bần, cúi xuống lúi húi buộc lại cạp quần, vừa buộc vừa ngoái đầu lại nhìn cả bọn mà cười, cái cười của đứa vừa lấy lại được một thứ bị mất.
Thằng Bần đứng cách nó chưa tới hai bước chân.
Cái gáy thằng em út phơi ra ngay trước mặt nó, gầy nhẳng, trắng hếu dưới cái đầu cạo trọc lởm chởm.
Thằng Bần nhìn cái gáy ấy.
Nó không biết hai chân nó đã tự chùng xuống từ lúc nào. Chùng xuống đúng như lão dạy, hai bàn chân bám lấy mặt đất, hai gối hơi khuỵu, cái eo xoay sẵn một nửa. Tay trái nó nắm lại, nắm vừa đủ, như nắm con cá rô. Trong ngực nó có một thứ gì đang bốc lên, nóng ran, ngọt lịm, bốc lên cổ, lên mặt, lên tận hai mang tai, cái thứ mà cái chiều chém cây chuối nó mới chỉ nếm qua một lần. Lần này thì nó không nếm. Lần này nó ngập trong ấy.
Một bước. Chỉ một bước thôi, rồi xoay eo, xoay vai, dồn cả người vào nắm tay trái, cái nắm tay mà thằng em út chẳng bao giờ ngờ tới, vì nó chẳng ngờ tới cái gì cả. Thằng bé sẽ đổ sấp mặt xuống đúng cái chỗ nó vừa đái. Thằng Bần nhìn thấy rõ cái cảnh ấy, rõ mồn một như đã xảy ra rồi.
Và nó muốn. Nó muốn cái cảnh ấy như chín năm nay nó chưa từng muốn một thứ gì.
Nhớ lấy cái mùi của nó.
Cái giọng khàn đặc của lão ăn mày vang lên trong đầu nó, không to, không gằn, như một hòn sỏi rơi tõm xuống lòng giếng.
Nó hít vào. Cái mùi ấy đây rồi. Ngọt lịm, nóng ran. Nó nhận ra ngay, như nhận ra mùi lá bòng bong giữa đêm tối.
Cái đòn chưa rơi thì gạt. Mà thằng em út đã đái xong rồi. Cái mả đã bẩn rồi. Chẳng còn cái đòn nào đang rơi xuống để mà gạt, chẳng còn cái gì để mà chặn. Nó đánh bây giờ, thì cái mả chẳng sạch lại được, ông già buôn nồi chẳng có thêm được cái tên, cái cọc tre bị thằng Hợi di nát chẳng tự lành lại được. Nó đánh bây giờ, thì chỉ có một thứ được no. Là cái thứ ngọt lịm đang dâng lên trong ngực nó.
Hả một lần thì lần sau phải hả hơn.
Nắm tay trái của nó từ từ mở ra. Mấy ngón tay run lẩy bẩy, như vừa buông một vật gì nặng lắm.
"Mày nhìn cái gì?"
Thằng Hợi đã thôi cười. Nó nhìn hai cái đầu gối chùng xuống của thằng Bần, nhìn cái bàn tay trái vừa mở ra còn đang run, và mặt nó sa sầm lại.
"Mày định đánh em tao à?"
"Dạ không ạ..."
"Mày dám à?"
Thằng Hợi ném nắm xôi xuống cỏ, lừ lừ bước tới.
Thằng Bần nhìn cái vai nó. Không phải cái vai phải xệ xuống, cái vai ấy chẳng làm được gì nữa. Cái vai trái. Vai trái thằng Hợi khẽ giật về sau một cái, và thằng Bần nghiêng đầu.
Nắm đấm vụt qua mang tai nó, gió rít vù một tiếng, sượt qua mấy sợi tóc.
Thằng Hợi trố mắt. Cả bọn cũng trố mắt.
Đấy là lần đầu tiên trong đời thằng Bần né được một cú đấm của thằng Hợi. Và cũng chỉ được có lần ấy.
Thằng Hợi gầm lên, vồ tới, túm lấy ngực áo nó bằng tay trái. Thằng em thứ hai từ đằng sau lao tới đạp vào khoeo chân nó. Thằng Bần rạp người xuống, vặn mình, cái áo rách toạc ra một mảng trong tay thằng Hợi, nhưng chân nó đã khuỵu, đế bàn chân trượt trên lớp đất đỏ ướt nhẹp, cả người nó đổ nhào về phía trước.
Cúi cằm xuống ngực. Thu tay vào. Để vai chạm đất trước.
Nó lăn. Lăn một vòng trên sườn dốc trơn tuột, và khi nó biết mình đang lăn thì nó đã đứng dậy rồi.
Rồi nó chạy.
Hơn hai tháng cầm cành ổi, đứng tấn, ôm đá lên dốc xuống dốc, ngã rồi đứng dậy, để rồi rốt cuộc nó vẫn chạy, chạy y như những năm còn ngủ ở điếm hoang, cắm đầu cắm cổ mà chạy, không ngoái lại. Có khác chăng là hai cái chân bây giờ dai hơn một chút, hơi thở dài hơn một chút, và trong đầu nó, lần đầu tiên, có một cái lý do để chạy, chứ không chỉ có mỗi cái sợ.
Nó chạy lên. Chạy vào giữa bãi tha ma.
Nó chạy giữa những ngôi mả mà nó thuộc từng cái như thuộc đường chỉ tay mình, mả mới mả cũ trùng trùng điệp điệp nối nhau lên tới tận đỉnh dốc, mả có bia đá, mả cắm cọc, mả chỉ còn là một ụ cỏ. Nó biết chỗ nào đất lún, chỗ nào có hố, chỗ nào có rễ gạo nổi lên chỉ chực ngáng chân người lạ. Sau lưng nó, tiếng chân bọn thằng Hợi huỳnh huỵch, tiếng chửi bới ỏm tỏi, có đứa vấp phải cái rễ mà ngã sóng soài, rú lên ầm ĩ.
Trời đã chạng vạng. Mây lại kéo tới, đen kịt, mưa bắt đầu lấm tấm rơi. Cây gạo già sừng sững trước mặt, những cành trơ trụi vươn ra đen sì trên nền trời xám ngắt như những cánh tay ai đang giơ lên. Dưới gốc gạo, chỗ ban sáng lập đàn, tro vàng mã còn âm ỉ, gió thổi qua là lại bùng lên mấy đốm lửa đỏ lập lòe.
Sau lưng nó, tiếng chân chậm dần lại.
Thằng Bần nấp sau một cái bia đá đổ, ngoái nhìn lại. Cả bọn đứng túm tụm ở mép bãi tha ma, cách chỗ nó mấy chục bước, đứa nọ nấp sau lưng đứa kia, không đứa nào chịu bước lên trước. Đúng lúc ấy, giữa mấy ngôi mả cũ lún sụp gần gốc gạo, một đốm lửa xanh lè từ đâu bốc lên, lơ lửng ngang tầm người, chập chờn như con đom đóm lạc đàn, rồi lại thêm một đốm nữa.
"Ma trơi!" Một đứa đi theo nịnh rú lên. "Ma trơi anh Hợi ơi!"
"Rằm tháng Bảy đấy..." Thằng em thứ hai lùi lại một bước, giọng run bắn. "Thần cây đa, ma cây gạo..."
Chẳng đợi ai bảo, hai đứa đi theo nịnh đã quay đầu chạy. Thằng em út chạy theo, vừa chạy vừa khóc thút thít. Thằng em thứ hai túm lấy vạt áo anh nó mà lôi.
Thằng Hợi giằng tay ra. Nó đứng lại một mình ở mép bãi tha ma, hai nắm tay siết chặt, ngực phập phồng, rồi gào lên, gào mỗi lúc một to, như cố gào cho át đi một cái gì.
"Thằng Bần! Mày ở luôn trên ấy với ma đi! Thằng không cha không mẹ! Mày cũng là ma!"
Tiếng gào vỡ ra ở cuối câu, the thé như tiếng gà trống tơ tập gáy. Nó vốc một hòn đất ném về phía cây gạo, ném bằng tay trái, hòn đất rơi bộp xuống cách chỗ thằng Bần nấp cả chục bước. Rồi nó quay lưng bước nhanh xuống dốc, bước mỗi lúc một nhanh, tới lưng chừng dốc thì cắm đầu mà chạy.
Thằng Bần ngồi sau cái bia đá đổ, thở hổn hển.
Nó chẳng sợ ma. Chưa bao giờ sợ. Ma thì có đánh ai bao giờ.
---
Nó đợi cho tới lúc tiếng chân đã tắt hẳn dưới chân dốc, mới lần xuống chỗ bảy cái mả.
Cái cọc bị thằng Hợi di nát nằm vương vãi trên cỏ, tre đã nứt toác làm mấy mảnh. Mấy cái cọc khác cũng bị đá đổ nghiêng ngả. Còn cái mả của ông già buôn nồi đất thì bốc lên một mùi khai nồng.
Thằng Bần quỳ xuống bên cái mả ấy.
Nó lấy hai tay bới lớp đất bị đái lên, bới hết, bới sâu xuống quá lớp đất ướt, vốc ra ném vào bụi găng. Rồi nó lấy mai xúc đất khô ở chỗ khác đổ vào, đắp lại, vỗ lại, vỗ tới lúc cái mả lại tròn trịa như cũ. Nó chặt khúc tre khác, vót lại cái cọc khác, rồi khắc lại chữ nhân. Trời tối, nó chẳng nhìn thấy nét chữ, chỉ dò bằng mũi dao với mấy đầu ngón tay. Mũi dao lại trượt, lại cứa vào tay. Nó cũng mặc.
Xong thì trời đã tối hẳn.
Mưa lại tạnh. Mây rách ra từng mảng, và từ sau rặng tre phía đông, mặt trăng rằm tháng Bảy nhô lên, tròn vành vạnh, vàng úa như cái đĩa đồng lâu ngày không đánh. Ánh trăng rọi xuống sườn dốc, rọi lên những ngôi mả trùng điệp, những cọc tre, những chân hương cháy dở, những nắm xôi người ta để lại. Nước mưa trên sườn dốc còn chảy róc rách theo những rãnh đất nhỏ, tìm đường xuống ruộng.
Thằng Bần ngồi bệt xuống giữa bảy cái mả, lưng dựa vào cái cọc của mụ Dở.
Người làng vẫn hay bảo nhau, trâu chết để da, người ta chết để tiếng. Nó nghe câu ấy từ hồi còn bé tí, nghe mãi thành quen, mà chưa bao giờ nghĩ xem cái tiếng ấy là cái gì. Bây giờ thì nó hiểu. Cái tiếng ấy, trước hết, là cái tên. Là cái thứ mà sư cụ đọc lên trong tờ sớ, cái thứ mà người đàn bà nghe thấy thì khuỵu xuống khóc. Ông Cả Tý chết, để lại cái tên Đỗ Văn Tý. Bà Nhỡ chết, để lại cái tên Nguyễn Thị Nhỡ. Thằng cu nhà chị Mận chết chưa kịp có tên, thì còn có tên bố tên mẹ.
Còn ông già buôn nồi đất, còn mụ Dở, thì chết chẳng để lại cái gì. Chư vị vô danh. Một câu thôi, cho tất cả.
Nó nghĩ tới cái mùa dịch năm ngoái. Nếu hồi ấy người nằm xuống là nó, thì ai đào huyệt cho nó? Có lẽ chẳng ai, hoặc có ai thì người ta cũng vứt nó đấy mà chạy, như người ta vẫn làm. Rồi năm nay, rằm tháng Bảy, sư cụ đứng dưới gốc gạo đọc sớ, đọc hết lượt tên này tới lượt tên khác, thì cũng chẳng có tên nó. Thằng Bần thì có phải tên đâu. Cả làng gọi nó là thằng Bần như gọi con chó nhà ông trùm là con Vện. Nó sẽ nằm lẫn vào cái câu chư vị vô danh ấy, cùng với ông già buôn nồi đất, cùng với mụ Dở.
Không tên. Không họ. Không bố không mẹ để mà treo vào.
Sống cái nhà, thác cái mồ. Sống thì phải có cái nhà mà ở, chết thì phải có cái mồ mà nằm. Nó sống chín năm rồi mà chưa có cái nhà nào. Cái điếm hoang không phải nhà nó. Cái ổ rơm trong gian bếp ông lang cũng không phải nhà nó. Còn cái mồ thì chắc rồi cũng có, bởi đất ở Dốc Cửa Mả thì chẳng thiếu. Nhưng là một cái mồ không tên, cỏ gà trùm kín, cọc tre mục gãy, một năm là chẳng còn ai biết dưới ấy có người.
Nó nhớ tới cái hồi còn bé, bé lắm, hồi u Hai còn bế thằng cháu đích tôn nhà ông Bá Hộ ra cổng hóng gió. Hồi ấy nó hay ngồi ở gốc rơm bên kia đường, nhìn sang cái nhà ngói bên trong cổng mà đếm gian. Năm gian hai chái, mái ngói đỏ au, cột lim đen bóng, gian nào cũng rộng thênh thang. Nó đếm đi đếm lại mãi không chán. Rồi có một dạo, đêm nào nằm trong ổ rơm ở điếm hoang, nó cũng tự dựng cho mình một cái nhà như thế trong đầu, dựng mãi, dựng tới lúc ngủ thiếp đi. Một gian cho nó. Một gian cho u Hai, nếu có ngày nó tìm được u. Bây giờ thì thêm một gian cho thằng Cò. Còn một gian nữa, gian giữa, gian to nhất, để làm gian thờ, như nhà người ta.
Nó chẳng có ông bà nào mà thờ. Nhưng nó có mụ Tám, có thằng cu nhà chị Mận, có bốn mươi mốt người chết dịch, có mấy người chết rét hồi tháng Chạp, có bao nhiêu người nữa mà nó đã lấp đất lên bằng chính hai bàn tay này.
Mà bài vị thì phải có tên. Nó sẽ viết gì lên bài vị cho ông già buôn nồi, cho mụ Dở?
Nó nhìn cái cọc tre bên cạnh, cái chữ nhân xiêu vẹo nó vừa khắc lại, nhờ ánh trăng mà giờ mới trông rõ. Một người đang đi. Hai cái chân dang ra, khập khiễng.
Chắc là chỉ viết được chữ ấy thôi.
---
Nó cắp cái bọc lá chuối, vác mai xuống dốc.
Tới chân dốc, trong cái điếm hoang tối om có tiếng người hát.
Cái giọng ấy khàn đặc, lè nhè, đứt quãng, lúc cao lúc thấp, cái giọng của người đã say mềm. Vẫn là cái câu hát lạ tai hôm Tết Đoan Ngọ. Ngoài mấy tiếng cờ, tiếng ngựa, tiếng ải như hôm ấy, đêm nay thằng Bần nghe ra được trọn một câu, câu mà lão ăn mày hát đi hát lại mãi, như cái cối xay bị mắc, cứ quay tới chỗ ấy là vấp:
*Bao nhiêu người đi,Bấy nhiêu người không về...*
Thằng Bần dừng lại trước cửa điếm.
Tiếng hát tắt ngang.
"Thằng ranh." Giọng lão ăn mày vọng ra từ trong bóng tối, chẳng biết từ góc nào. "Còn lang thang ngoài này làm gì?"
"Dạ, cháu về đây ạ."
Im lặng một lúc. Có tiếng bầu rượu lắc lóc bóc.
"Lúc chiều, thằng em út nó đứng quay lưng về phía mày."
Thằng Bần đứng sững. Nó ngước nhìn lên sườn dốc. Dưới ánh trăng, từ cửa điếm này nhìn lên, trông rõ cả cây gạo, cả những ngôi mả lưng chừng dốc.
"Dạ."
"Mày có chỗ đánh."
"Dạ."
"Sao không đánh?"
Thằng Bần nghĩ một lúc. Nó muốn nói cho đúng.
"Dạ... nó đái xong rồi ạ. Cháu có đánh thì cái mả cũng chẳng sạch lại được. Cháu đánh thì chỉ để cho cháu hả thôi ạ."
Trong bóng tối không có tiếng đáp. Ngoài đồng, ếch nhái kêu ồm ộp. Trên sườn dốc, mấy đốm ma trơi lại lập lòe bay lên, xanh lè, rồi tắt.
Mãi sau, thằng Bần mới nghe trong điếm có tiếng thở ra, một hơi dài và chậm, như tiếng người vừa đặt được một gánh nặng xuống đất.
"Thế là được."
Rồi lão lại hát. Vẫn cái câu ấy. Bao nhiêu người đi, bấy nhiêu người không về.
"Về đi."
---
Tới đầu ngõ nhà ông lang thì thằng Bần dừng lại.
Trước cổng, cũng như trước cổng mọi nhà trong làng đêm nay, có trải một manh chiếu nhỏ, trên chiếu bày một mâm cúng cô hồn: mấy cái phễu lá đa đựng cháo trắng, một đĩa gạo muối, mấy củ khoai luộc, mấy cái bánh đa, ba nén hương cắm trong cái bát đất đã cháy gần tàn.
Ông lang ngồi xổm cạnh mâm cúng, quay lưng ra ngõ.
Trước mặt ông có một đống lửa nhỏ. Ông đang đốt giấy. Không phải vàng mã. Là giấy bản, thứ giấy bản trắng ngà ông vẫn dùng để kê đơn, để ghi sổ, tờ nào cũng kín đặc những chữ, những hàng chữ Nho xếp thẳng tăm tắp từ trên xuống dưới. Ông cầm từng tờ một, nhìn một lúc, rồi thả vào lửa. Tờ giấy cong lại, những hàng chữ đen rực lên đỏ ối, rồi hóa thành tro, bay lả tả lên trời như những con bướm đen, bay lên trên mái lá cọ, lẫn vào ánh trăng.
Thằng Bần chẳng đọc được chữ nào. Nó chỉ đứng ở đầu ngõ, trong bóng tối, cái bọc lá chuối ôm trong tay, mà nhìn.
Ông lang đốt tờ này sang tờ khác, tờ nào cũng cầm lên nhìn một lúc rồi mới thả. Ánh lửa hắt lên khuôn mặt nhăn nheo của ông, lên cái hàm râu lún phún bạc, lên hai con mắt đỏ kè vì khói. Ông không khấn. Môi ông không mấp máy. Ông chỉ nhìn, rồi đốt.
Tới tờ cuối cùng, ông cầm lâu hơn cả.
Rồi ông thả nó vào lửa, nói, không quay đầu lại.
"Vào đi. Đêm nay ngoài ngõ đông lắm."