Đống lửa trước cổng lụi dần, chỉ còn một nhúm than đỏ lập lòe dưới lớp tro xám.
Thằng Bần bước vào tới gần thì ông lang mới đứng dậy. Ông đứng chậm, chống một tay lên đầu gối, cái lưng còng xuống rồi mới thẳng lên được, như người vừa ngồi quá lâu một chỗ. Ông quay lại, và dưới ánh trăng rằm, ông nhìn thấy nó: cái áo rách toạc một mảng ở ngực, bùn đỏ bết từ đầu gối trở xuống, và hai bàn tay loang lổ những vệt đen sẫm, cái thứ đen sẫm mà nhìn qua ai cũng biết không phải là bùn.
"Tay làm sao?"
Thằng Bần giấu vội hai bàn tay ra sau lưng. Cái tay nó giấu trước cả khi nó kịp nghĩ, như con mắt tự nhắm lại khi thấy quả bàng bay tới.
Rồi nó nhớ ra cái chữ tín, người đứng cạnh lời nói của mình, và nó đưa hai bàn tay ra trước mặt.
"Dạ, con vót cọc tre ạ. Dao trượt ạ."
"Vót cọc làm gì?"
Thằng Bần kể. Nó kể chuyện bảy cái mả không ai tới, chuyện cỏ gà trùm kín, cọc tre mục gãy, chuyện nó nhổ cỏ, đắp lại, chặt tre vót cọc mới. Nó không kể chuyện thằng em út. Chuyện ấy thì nó chưa biết kể thế nào cho phải.
"Con khắc chữ lên cọc ạ."
"Chữ gì?"
"Dạ... chữ nhân ạ."
Ông lang đứng im một lúc lâu mới hỏi.
"Sao lại chữ nhân?"
Thằng Bần cúi xuống nhìn hai bàn tay mình. Nó nói chậm, cố tìm cho ra từng chữ.
"Dạ... vì con không biết tên người ta. Có hai người thì cả làng cũng chẳng ai biết tên, sư cụ đọc sớ cũng chỉ bảo là vô danh. Con chỉ biết mỗi chữ nhân là người. Con khắc chữ người lên, để ai đi qua cũng biết dưới ấy là người ta nằm, chứ không phải đống đất ạ."
Trên mâm cúng cô hồn, ba nén hương đã tàn hẳn, mấy sợi khói cuối cùng mảnh như sợi tóc vẫn còn lơ lửng, rồi đứt.
Ông lang không nói gì. Ông nhìn nó rất lâu, cái nhìn mà thằng Bần chẳng đọc ra được là giận hay là gì. Hai con mắt ông vẫn còn đỏ kè vì khói.
"Vào đây."
---
Trong gian giữa, ông lang khêu to ngọn đèn dầu lạc, bắt nó ngồi xuống chiếu, chìa hai tay ra.
Ông đổ nước muối vào cái bát sành, kéo từng bàn tay nó nhúng vào. Nước muối xót như xát ớt vào những vết cứa, thằng Bần rít lên một tiếng qua kẽ răng, rồi cắn chặt môi lại. Ông lang chẳng buồn để ý. Ông lấy một mẩu vải sạch chấm vào bát nước, lau từng vết một, lau cho sạch hết đất cát dính trong kẽ thịt, rồi mở cái lọ sành nhỏ nút lá chuối, cái lọ cao đen sì mà nó đã quá quen, quệt lên từng vết, rồi xé mấy dải vải quấn lại.
Mấy ngón tay gân guốc của ông làm việc thoăn thoắt, gọn ghẽ, không thừa một động tác, cái lối ông vẫn băng bó cho người làng. Chỉ có một lúc, khi ông lật bàn tay trái nó lên, ngón tay ông dừng lại trên cái lớp chai dày cộm ở kẽ ngón cái với ngón trỏ, dừng lại một nhịp, rồi lại quấn tiếp như chưa từng dừng.
"Áo làm sao?"
Thằng Bần nuốt nước bọt.
"Dạ, anh Hợi túm ạ." Nó ngập ngừng. "Con chạy ạ."
"Ừ."
Ông lang buộc nút vải cuối cùng, cắt đầu thừa, rồi đậy nút cái lọ sành lại, đặt lên kệ.
Thằng Bần ngồi đợi. Nó đợi cái tiếng một vạch, như cái sáng hôm ông gõ đũa vào mâm mà bảo lọ cao một vạch. Nó đợi mãi, mà tiếng ấy không đến.
"Người ta cho cái gì?" Ông lang hất hàm về phía cái bọc lá chuối nó đặt bên cạnh.
"Dạ, xôi, chuối, với một quả trứng ạ."
"Của mày thì mày cất." Ông quay đi. "Ngủ đi."
---
Đêm ấy thằng Cò không về. Có lẽ nó lại lên chùa giành cháo thí với bọn trẻ xóm Hạ, hoặc lang thang ở đâu đó mà chẳng ai biết, như mọi rằm mọi mùng.
Thằng Bần nằm co trong ổ rơm, hai bàn tay quấn vải đặt trên ngực. Nó mệt tới mức vừa đặt lưng xuống là mắt đã díp lại. Nhưng trước khi ngủ thiếp đi, nó còn nghe thấy từ gian giữa vọng xuống tiếng điếu cày sòng sọc, sòng sọc, rồi thôi, rồi lại sòng sọc, kéo dài mãi, dài tới tận khuya.
---
Sáng hôm sau, lúc thằng Bần trải chiếu, đặt tấm bảng gỗ nứt góc ra chờ học chữ như mọi sáng, hai con mắt ông lang vẫn còn đỏ.
Ông ngồi xếp bằng, lưng thẳng, que thước đặt ngang trên đùi, trông vẫn như mọi sáng. Chỉ có điều ông ngồi im lâu hơn mọi sáng một chút rồi mới cầm mẩu than lên.
Ông vạch lên tấm bảng một chữ.
**倫**
Thằng Bần nhìn cái chữ ấy, và nó nhận ra ngay cái phần bên trái. Cái người đứng nghiêng, hai nét, mảnh mai. Hôm dạy chữ tín, cái người ấy đứng cạnh một đống lời nói. Hôm nay cái người ấy lại đứng cạnh một thứ khác.
Nó nhìn sang cái phần bên phải. Trên cùng là một cái mái nhọn, hai mái dốc xuống hai bên như mái đình. Dưới mái là một nét ngang thẳng băng như cái xà. Rồi dưới nữa là một cái khung, trong khung dựng mấy nét sổ thẳng đứng như mấy cái cột, chia cái khung ra thành từng ô, từng ô một, lại có một nét ngang dài chạy xuyên qua tất cả mấy cái cột, thò ra hẳn hai bên như hai cái chái nhà.
Nó đếm. Một, hai, ba. Ba gian, hai chái. Một cái nhà. Một người đứng bên cạnh một cái nhà ba gian hai chái, như người ta đứng trước cửa nhà mình.
"Chữ này đọc là luân." Ông lang gõ que thước vào bảng. "Luân trong luân thường đạo lý. Bên trái là chữ nhân đứng, là người. Bên phải là chữ luân gốc. Trên là cái nắp đậy. Dưới là mấy thẻ tre. Ngày xưa chưa có giấy, người ta viết chữ lên thẻ tre, xếp thẻ nọ cạnh thẻ kia cho có thứ có lớp, rồi lấy dây buộc ngang lại thành bó. Thẻ nào nằm chỗ nấy, không được lộn." Ông gõ que thước vào cái nét ngang dài. "Người với người cũng phải thế. Cha có chỗ của cha, con có chỗ của con, vua ra vua, tôi ra tôi, thầy ra thầy, trò ra trò. Mỗi người một chỗ, không lộn, thế gọi là luân. Ba giềng năm mối, cái gốc nằm cả ở chữ này."
Thằng Bần vẫn mải đếm gian, chẳng lọt tai được chữ nào.
"Mày nhìn cái gì?"
Thằng Bần giật bắn mình. "Dạ..." Nó lúng túng, rồi buột miệng, cái lối buột miệng của đứa trẻ con chưa bao giờ biết cái gì là nên hỏi. "Thưa thầy, cái nhà này có ba gian hai chái phải không ạ?"
Ông lang nhìn nó. "Nhà nào?"
"Dạ, cái nhà này ạ." Thằng Bần rụt rè chỉ ngón tay quấn vải vào tấm bảng. "Đây là cái mái. Đây là mấy cái cột. Ba gian ạ. Với hai đầu thò ra là hai cái chái ạ. Còn cái người này thì đứng trước cửa nhà ạ."
Ông lang nhìn cái chữ trên bảng. Ông nhìn lâu, như lần đầu tiên trong đời ông thấy nó. Rồi ông nhìn lại thằng bé.
"Chữ nhà thì tao dạy mày từ hồi tháng Tư rồi. Chữ gia, cái mái che với con lợn ở dưới." Ông nói. "Đây là thẻ tre. Tao giảng thẻ tre từ nãy tới giờ, mày ngồi đếm gian nhà."
Thằng Bần cúi gằm mặt xuống, hai tai đỏ lựng.
"Dạ, con xin lỗi thầy ạ." Nó lí nhí. "Tại con trông nó giống cái nhà quá. Hồi bé con hay ngồi ở gốc rơm trước cổng nhà ông Bá Hộ, đếm gian nhà ấy ạ. Nhà ấy năm gian hai chái. Con cứ nghĩ bao giờ lớn, con cũng làm một cái nhà nhiều gian như thế."
"Làm nhà nhiều gian thì mày ở gian nào?"
"Dạ, con ở gian nào cũng được ạ." Thằng Bần nói, rồi thấy thầy không bảo nó im, nó nói tiếp. "Có một gian cho thằng Cò. Một gian cho u Hai, nếu con tìm được u. Còn gian giữa thì để làm gian thờ ạ."
"Thờ ai? Mày có ông bà nào mà thờ?"
Thằng Bần ngập ngừng một lúc.
"Dạ... thờ những người con chôn ạ. Cả mấy người không có tên nữa ạ."
Gian nhà lặng đi. Ngoài sân, trời lại lây rây mưa, những hạt mưa ngâu mảnh như sợi chỉ rơi lất phất xuống giàn phơi thuốc. Tiếng nước từ mái lá cọ nhỏ xuống cái chum dưới hiên tí tách, tí tách. Ông lang ngồi im, bàn tay đặt trên que thước, mấy ngón tay khẽ siết lại. Ông nhìn ra ngoài sân, nhìn cái đống tro đêm qua trước cổng, giờ đã bị mưa làm cho nhão ra, đen sì, rồi ông nhìn lại cái chữ trên bảng.
"Mày thích chữ này à?"
"Dạ."
"Thích thì lấy mà làm tên."
Thằng Bần ngẩng phắt lên. "Dạ?"
Ông lang không nhắc lại. Ông cầm mẩu than, vạch lên chỗ trống bên cạnh một chữ khác.
**貧**
"Đây là tên mày bây giờ. Chữ bần." Que thước gõ lên từng phần. "Trên là chữ phân, là chia. Dưới là chữ bối, là con sò. Ngày xưa người ta lấy vỏ sò làm tiền, nên chữ bối là của. Của mà đem chia mãi, chia mãi, thì còn lại cái nghèo. Cả làng này gọi mày là thằng Bần, là thằng Nghèo."
Thằng Bần nhìn cái chữ ấy. Nó chưa bao giờ biết mặt cái tên của mình. Từ ngày lão mõ vớt nó lên tới giờ, người ta gọi nó bằng cái tiếng ấy mỗi ngày, gọi khi sai nó đi, gọi khi chửi nó, gọi khi đuổi nó, mà nó chưa bao giờ nghĩ cái tiếng ấy lại có mặt mũi, lại được viết ra thành chữ. Bây giờ nhìn thấy rồi, nó thấy cái chữ ấy giống hệt như cái tên: một đống của cải bị bổ ra làm đôi, chia hết, chẳng còn lại gì.
"Cả làng gọi thế thì kệ cả làng." Ông lang nói. "Nhà tao thì không gọi thế nữa."
Ông gõ que thước vào chữ luân, lẩm nhẩm như người đang tính.
"Văn Luân." Ông khẽ lắc đầu. "Chữ văn thì nhà nghèo nào cũng lấy mà đặt cho con trai, cũng như chữ thị đặt cho con gái. Vừa bỏ được cái nghèo ở chữ bần, lại đi nhét nó vào chữ văn thì bỏ làm gì."
Rồi ông nhìn thằng Bần, nhìn từ đầu tới chân, cái nhìn soi mói của người đi chợ ngắm con gà.
"Mà trông mày tối dạ lắm." Ông nói. "Tao cho thêm chữ Minh, là sáng, đứng ở trước."
Ông vạch thêm một chữ nữa, vạch ngay phía trên chữ luân.
**明**
"Bên trái là mặt trời. Bên phải là mặt trăng. Ngày có mặt trời, đêm có mặt trăng, lúc nào cũng sáng." Ông gác que thước. "Cái đầu tối như mày thì cần cả hai."
Ông ngừng một chút, rồi nói thêm, giọng thấp xuống.
"Sáng được cái đầu hay không thì tao không dám chắc. Sáng được cái bụng là được rồi."
Thằng Bần chẳng hiểu vì sao, nó lại nhớ tới cái giếng sâu.
"Giờ mày tên là Minh Luân." Ông lang nói. "Tao gọi mày là Luân."
Ông nhắc lại hai tiếng ấy thêm một lần nữa, khẽ thôi, gần như chỉ để mình ông nghe, như người ta nhắc lại tên một chốn cũ đã lâu lắm không về.
"Minh Luân."
---
Thằng Bần ngồi im, nhìn hai cái chữ xếp chồng lên nhau trên tấm bảng.
Mặt trời với mặt trăng ở trên. Một người đứng trước cái nhà ba gian hai chái ở dưới.
Nó không khóc. Nó đã tự nhủ từ cái hôm khóc sau miếu Thần Nông rằng một ngày khóc một lần là đủ, mà từ hôm ấy tới giờ nó chưa khóc lại lần nào. Nhưng hai bàn tay quấn vải của nó đặt trên đùi thì run lên, run không sao giữ được, và cái cổ họng nó cứ nghẹn lại, nghẹn như mắc một cục cơm to, nuốt mãi không trôi.
Ở Lò Trấu, đứa trẻ nào sinh ra cũng do thầy u nó đặt tên cho.
"Thưa thầy..." Mãi nó mới nói được. "Cái nhà ấy... là của con ạ?"
"Chữ là của mày." Ông lang nói. "Nhà thì mày tự mà làm."
Thằng Bần gật đầu, gật mạnh, gật mãi.
Ông lang nhìn xuống cái áo rách toạc một mảng trước ngực nó, chỗ thằng Hợi túm hôm qua.
"Người ta bảo tốt danh hơn lành áo." Ông nói. "Áo rách thì tối nay mày tự vá. Còn cái danh thì từ nay mày giữ lấy mà giữ."
"Dạ."
"Viết đi. Viết cho tới lúc nhắm mắt cũng viết ra được thì thôi."
Ông chống tay đứng dậy, đi ra hiên, ngồi xuống cái ghế con, với lấy cái điếu cày. Thằng Bần cúi xuống tấm bảng. Mấy ngón tay phải quấn vải dày cộm, cầm mẩu than cứ lệch đi, nó phải kẹp thật chặt mới vạch được nét đầu tiên.
Nó viết chữ minh. Mặt trời trước, mặt trăng sau. Rồi nó viết chữ luân. Người đứng trước, cái nhà ba gian hai chái sau. Nét nó run, nét nó xiêu, nhưng nó viết chậm, viết kỹ, như người ta đặt từng viên gạch.
Ngoài hiên, ông lang rít một hơi thuốc lào, sòng sọc, rồi thở ra một làn khói trắng. Rồi ông cất tiếng gọi, giọng khàn khàn, chẳng khác gì mọi sáng.
"Luân. Viết xong thì ra gánh nước."
Trong gian giữa, không ai đáp. Thằng Bần vẫn cặm cụi viết, viết tới lần thứ năm, lần thứ sáu, rồi mẩu than trong tay nó khựng lại giữa chừng một nét, bởi cái tiếng ông vừa gọi ngoài hiên bây giờ mới lọt tới tai nó, lọt xuống tận trong ngực. Luân. Là nó. Thầy gọi nó.
"Dạ!"
Tiếng dạ bật ra to quá, to tới nỗi mấy con gà mái đang bới đất dưới giàn phơi thuốc giật mình kêu toáng lên, xòe cánh chạy tán loạn khắp sân. Ngoài hiên, ông lang không quay đầu lại, chỉ có một làn khói thuốc lào trắng đục bay lên, lơ lửng một lúc lâu dưới mái lá cọ rồi mới tan.
---
Cả ngày hôm ấy, thằng Bần viết tên mình lên khắp mọi chỗ.
Nó viết lên tấm bảng gỗ ba mươi lần, xóa đi rồi viết thêm ba mươi lần nữa. Nó lấy ngón tay viết lên lớp tro trong bếp lúc nhóm lửa thổi cơm. Nó lấy que viết lên mặt sân đất ướt lúc quét sân, viết xong lại tiếc, quét vòng qua chỗ ấy mà không nỡ quét vào. Chiều đi hái thuốc, nó viết lên mặt đất đỏ trên sườn đồi, viết lên thân cây chuối dựng giữa sân điếm hoang bằng mũi cành ổi.
Chiều ấy lão ăn mày không có ở điếm. Cái bầu rượu lăn lóc dưới gầm sạp, rỗng không, dốc ngược xuống cũng chẳng chảy ra được giọt nào. Thằng Bần đứng tấn một mình hết một nén hương, chém một trăm nhát vào cây chuối, nhát nào cũng vừa đủ. Trước khi về, nó ngồi xổm trước bậc cửa điếm, lấy ngón tay viết hai chữ lên mặt bùn, viết thật to, thật rõ.
Mai trời lại mưa thì hai chữ ấy sẽ trôi mất. Nó chẳng tiếc. Nó còn viết được nữa. Viết được mãi.
---
Tối ấy thằng Cò về, mặt mũi phờ phạc, trong vạt áo chẳng có gì.
Thằng Bần mở cái bọc lá chuối ra. Nắm xôi đã hơi khô, quả chuối đã lốm đốm vết thâm, quả trứng thì vẫn còn nguyên.
"Chia đôi." Nó nói.
Thằng Cò khựng lại một nhịp. Chưa bao giờ thằng Bần là đứa nói câu ấy trước. Rồi nó nhe cái răng khểnh ra, ngồi phịch xuống cạnh bếp, cầm lấy nửa nắm xôi.
"Hôm qua mày làm gì mà tay quấn vải như cái giò thế kia?"
"Tao vót cọc tre."
"Vót cọc làm gì?"
"Cắm lên mả."
Thằng Cò nhìn nó như nhìn một thằng dở hơi, rồi lắc đầu, chẳng buồn hỏi nữa. Nó bóc quả trứng, bẻ đôi, đưa cho thằng Bần một nửa.
Thằng Bần cầm nửa quả trứng, không ăn ngay. Nó ngồi xoay xoay nửa quả trứng trong tay một lúc, rồi nói, cố nói cho thật bình thường, như người ta nói hôm nay trời mưa.
"Cò này. Tao có tên rồi."
"Tên gì? Mày có tên từ khuya rồi. Thằng Bần."
"Không phải. Tên thật." Thằng Bần hít một hơi. "Thầy đặt cho tao. Minh Luân."
Thằng Cò đang nhai thì dừng lại.
"Minh Luân?"
"Ừ."
"Nghe như tên con quan."
Thằng Bần gãi đầu, cười hì hì, rồi vội thôi cười.
Thằng Cò nhai nốt miếng xôi, nuốt đánh ực, mắt nhìn vào bếp lửa chứ không nhìn nó.
"Tên tao thì u tao đặt."
Thằng Bần nhớ ra. Cái hôm vác nửa hòn gạch tới ao đình, thằng Cò đã chìa bàn tay đầy máu với bùn ra mà bảo tao tên Hạc, nhưng cả làng gọi tao là Cò. Thằng Bần nhớ, mà từ hôm ấy tới giờ nó chưa gọi cái tên ấy lần nào. Nó còn nhớ cả cái huyệt nó đào cho mụ Tám hồi tháng Ba năm ngoái, đào một mình, trong khi thằng bé đội nón mê ngồi im như khúc gỗ trên bậc cửa túp lều.
"Ừ." Nó nói khẽ. "Hạc."
"Ai cho mày gọi." Thằng Cò bĩu môi, nhưng giọng nó chẳng gắt chút nào. "U tao đặt thì u tao gọi. U tao chết rồi thì thôi."
Hai đứa im một lúc. Củi trong bếp nổ lách tách.
"Nghĩa là gì?" Thằng Cò hất hàm về phía đống lửa, như muốn hỏi sang chuyện khác cho nhanh. "Cái tên mày ấy."
"Minh là sáng. Có mặt trời với mặt trăng." Thằng Bần nhặt que củi, vạch lên nền đất cạnh bếp. "Còn luân là... thầy bảo là thẻ tre. Nhưng tao nhìn thì nó là cái nhà. Có một người đứng trước cái nhà ba gian hai chái."
Thằng Cò nghiêng đầu nhìn mấy nét chữ xiêu vẹo dưới ánh lửa, nhìn mãi mà chẳng thấy cái nhà nào.
"Nhà ba gian thì có gian nào cho tao không?"
"Có. Gian to nhất."
"Gian to nhất thì phải là gian thờ chứ, ngu thế."
Thằng Bần ngẩn ra, nghĩ một lúc, rồi gật gù.
"Ừ nhỉ. Thế thì gian to thứ hai."
Thằng Cò phá lên cười, cười sặc cả xôi, phải đấm thùm thụp vào ngực. Thằng Bần cũng cười. Hai đứa cười ngặt nghẽo bên bếp lửa, cười tới lúc ông lang ở gian giữa gõ điếu cày vào cột nhà đánh cộc một tiếng mới chịu nín.
Thằng Cò lăn ra ổ rơm, hai tay gối sau gáy.
"Tao vẫn gọi mày là thằng Bần."
"Ừ."
Bếp lửa lụi dần. Ngoài sân, mưa ngâu lại rơi, lộp độp trên tàu lá chuối sau bếp.
Thằng Bần nằm nghe mưa một hồi lâu, đã tưởng thằng Cò ngủ say rồi, thì trong bóng tối có tiếng nó khẽ gọi.
"Luân."
"Gì?"
"Không." Thằng Cò trở mình, kéo manh chiếu trùm lên tận đầu. "Tao gọi thử xem có giống không."
"Giống không?"
Im một lúc.
"Chưa giống."
---
Bảy năm trước, người ta vớt nó lên từ một cái thúng rách trôi vật vờ bên bờ sông sình lầy, và làng Lò Trấu gọi nó là thằng Bần. Người làng còn gọi nó như thế thêm nhiều năm nữa. Nhưng từ đêm ấy, trong cái ổ rơm ở gian bếp nhà ông lang cuối xóm Trung, có một thằng bé chín tuổi nằm nhẩm đi nhẩm lại một cái tên, nhẩm cho tới lúc ngủ thiếp đi, hai bàn tay quấn vải vẫn còn đặt trên ngực.
Tên nó là Luân.