Tin thuyền lương của Đại Hạo chìm dưới đáy sông, chưa tới giữa trưa đã truyền khắp kinh thành.
Không ai biết ai làm. Không ai biết làm thế nào. Người ta chỉ biết sáng nay quạ bay rợp trời ở khúc quanh phía Bắc, kỵ binh Đại Hạo phi ngựa như điên, rồi cả bên ấy đột nhiên im bặt. Trên mặt thành, binh sĩ truyền tai nhau, mỗi người thêm thắt một chút. Tới trưa, câu chuyện đã thành giám quốc điện hạ gọi được thủy thần dưới sông lên, một đêm nhấn chìm cả trăm chiếc thuyền giặc.
Trạng Quỳnh nghe xong, cười tới chảy nước mắt.
– Cứ để bọn họ đồn. – Y lau khóe mắt. – Người đói, được một câu chuyện hay, cũng đỡ đói được nửa bữa.
Lạc Thiên không cười. Hắn mới chợp mắt được một canh giờ, đầu vẫn còn nặng trĩu. Trên bàn trước mặt hắn là cuốn sổ ghi tên, trang đầu tiên chỉ có một dòng mực còn mới: Chu Tứ, người làng chài Bến Dâu.
– Tiên sinh, – hắn gập cuốn sổ lại, – chuyện cửa Đông, ngươi lần tới đâu rồi?
Nụ cười trên mặt Trạng Quỳnh thu lại.
Y liếc nhìn Phan Trung đang đứng khoanh tay bên cửa sổ, rồi lấy trong tay áo ra một cuộn giấy, trải lên bàn.
* * *
– Người chết tên là Trương Bính. – Trạng Quỳnh nói. – Hai mươi sáu tuổi, lính cửa Đông, đội cung thủ thứ ba. Không vợ không con, cha mẹ chết cả rồi, trong thành không có người thân.
– Không có ai để hỏi. – Phan Trung trầm giọng.
– Không có ai để hỏi. – Trạng Quỳnh gật đầu. – Cho nên tại hạ không hỏi về hắn. Tại hạ hỏi, ai biết chỗ hở.
Y đưa ngón tay vạch lên cuộn giấy, là một bản vẽ sơ sài đoạn tường thành từ cửa Bắc tới góc Đông Bắc.
– Chiều mùng ba, Cao lão đi dọc mặt thành phía Bắc, đặt nỏ lên từng mã diện. Lão nói to một câu: ba mươi chiếc, giữ được từ cửa Bắc tới mã diện thứ sáu, từ đó tới góc Đông Bắc không đủ nỏ. – Y ngẩng lên. – Lúc ấy, quanh Cao lão có những ai?
Lạc Thiên nhớ lại. Chiều hôm ấy hắn cũng ở đó.
– Ta. Phan tướng quân. Cao lão. – Hắn ngừng lại. – Và đám lính khiêng nỏ.
– Bốn mươi người lính cửa Đông, được điều sang khiêng nỏ, khiêng đá lên mặt thành phía Bắc. – Trạng Quỳnh nói. – Trương Bính là một trong số đó.
Phan Trung nhắm mắt lại.
– Người thòng dây ra ngoài báo tin, phải biết chỗ hở. – Trạng Quỳnh tiếp. – Biết chỗ hở, chỉ có mấy người chúng ta và bốn mươi người khiêng nỏ. Mấy người chúng ta thì không ai rảnh mà thòng dây. Vậy kẻ ấy ở trong bốn mươi người này.
– Còn đám hàng binh khiêng đá? – Lạc Thiên hỏi. – Chiều hôm ấy họ cũng ở đó.
– Hàng binh cũng nghe thấy. – Trạng Quỳnh gật đầu. – Nhưng người chết mặc giáp cửa Đông, bên hông quấn dây thừng của kho cửa Đông, chết vì mũi tên của cửa Đông. Hàng binh không có giáp, không lĩnh được dây, càng không có cung.
– Là Trương Bính.
– Có thể là Trương Bính. – Trạng Quỳnh không gật cũng không lắc. – Nhưng Trương Bính chết vì một mũi tên bắn từ trên mặt thành xuống. Kẻ bắn hắn, là ai?
Y lấy ra mũi tên đã rút khỏi ngực Trương Bính sáng mùng bốn, đặt lên bàn. Cán tên bằng tre, sát chỗ gắn lông có khắc ba vạch ngang.
– Lính cung cửa Đông khắc vạch lên cán tên để phân biệt đội, lúc lĩnh tên, lúc nhặt tên khỏi lẫn. Một vạch là đội một, hai vạch là đội hai. – Trạng Quỳnh gõ ngón tay lên ba vạch khắc. – Ba vạch. Đội ba.
– Cùng đội với Trương Bính. – Lạc Thiên nói chậm.
– Người ngay bắn chết kẻ thòng dây, sáng ra đã chạy đi lĩnh thưởng. – Trạng Quỳnh nói. – Kẻ này bắn xong thì câm miệng. Hắn không giết một tên phản, hắn bịt miệng một tên đưa tin. Tức là chính hắn cũng biết chỗ hở.
– Đêm mùng ba, đội ba cửa Đông giữ đoạn tường sát góc Đông Bắc. – Phan Trung khàn giọng tiếp lời. Lão là người xếp chỗ gác, không cần xem sổ. – Chính đoạn tường ấy.
Trong thư phòng lặng đi một lúc.
– Bốn mươi người khiêng nỏ, sáu người thuộc đội ba. – Trạng Quỳnh nói. – Trương Bính chết. Hai người chết trận sáng mùng bốn, trên đoạn tường Đông Bắc. Một người trúng đao vào đầu, nằm mê man tới giờ chưa tỉnh. Còn lại hai người.
Y lật cuộn giấy, mặt sau viết hai cái tên.
Đoàn Nhị. Tôn Ngũ.
– Mấy hôm nay tại hạ tìm cớ tiếp cận, trò chuyện với cả hai. – Y nói. – Đoàn Nhị là một gã hiền lành, nói chuyện thì lắp bắp, hỏi gì đáp nấy, đêm mùng ba hắn gác cùng hai người khác, cả ba đều làm chứng cho nhau. Còn Tôn Ngũ…
Y ngừng lại, nhếch miệng.
– Tôn Ngũ rất khéo nói. Hỏi gì cũng đáp, đáp rất trơn tru, đêm mùng ba ở đâu, làm gì, gặp ai, kể rành rọt không sót một chữ, như đã học thuộc lòng từ trước. Người thật thà, nhớ lại một đêm đánh nhau, không ai nhớ rõ ràng như vậy.
– Chỉ vậy thôi? – Phan Trung hỏi.
– Còn một chuyện. – Trạng Quỳnh mở sổ gác của cửa Đông, lật tới một trang. – Chiều mùng sáu, Tôn Ngũ xin nghỉ gác nửa ngày, về thăm cậu ruột. Cậu ruột của hắn, là quản gia phủ Thượng thư Trịnh Khê.
Không ai lên tiếng.
Trịnh Khê. Người đứng đầu văn quan đòi hàng trong buổi triều sáng hai mươi sáu tháng Chạp. Người bị Trạng Quỳnh chặn họng giữa Cần Chính điện. Mấy hôm nay, lão ta ngoan ngoãn khác thường, lên triều thì cúi đầu, về phủ thì đóng cửa, chưa từng nói thêm một câu nào về chuyện hàng.
– Còn nữa. – Trạng Quỳnh nói. – Mấy hôm trước tại hạ đếm khói bếp trại địch, đếm quen tay, tiện đếm luôn khói bếp trong thành. Cả thành nổi lửa ngày hai lần. Phủ Trịnh Thượng thư, ngày ba lần.
– Lão ta trữ gạo riêng? – Lạc Thiên hỏi.
– Có thể là trữ gạo riêng. – Trạng Quỳnh nhún vai. – Cũng có thể là có người mang gạo tới cho lão.
* * *
Phan Trung quỳ xuống.
Tiếng giáp sắt va xuống nền gạch nghe nặng nề như một tảng đá rơi.
– Điện hạ. – Lão cúi đầu, giọng khàn đặc. – Người của lão thần làm phản, là lão thần dạy quân không nghiêm. Xin điện hạ cho lão thần dẫn người tới bắt Tôn Ngũ, tra hỏi tới nơi tới chốn. Nếu dính tới phủ Trịnh Thượng thư, lão thần tự tay…
– Đứng dậy đi, tướng quân.
– Điện hạ…
– Đứng dậy. – Lạc Thiên lặp lại, giọng không lớn. – Ta không trách tướng quân. Ba nghìn người, có một kẻ phản, không phải lỗi của người dạy quân.
Phan Trung ngẩng đầu nhìn hắn một lúc lâu, rồi mới chậm rãi đứng dậy.
Lạc Thiên nhìn hai cái tên trên cuộn giấy.
Bắt Tôn Ngũ lúc này, rất dễ. Tra khảo một tên tiểu tốt, không cần lấy chứng cứ. Nhưng rồi sao? Nếu Tôn Ngũ không chịu khai? Nếu hắn khai ra Trịnh Khê? Bắt một vị Thượng thư đầu triều, chỉ vì một câu khai của một tên lính dưới đòn roi, lại vì ngọn khói bếp nhà lão nhiều hơn nhà người khác một lần? Triều đình vốn chỉ còn mười mấy người, sau buổi triều hôm ấy, ai cũng đang nhìn xem vị giám quốc trẻ tuổi này rốt cuộc là người thế nào.
Mà nếu Trịnh Khê chỉ là một đoạn dây, đầu kia còn có kẻ khác?
– Chưa bắt. – Hắn nói.
Phan Trung sững lại.
– Tiên sinh nói, nội gián như cá trê dưới bùn. – Lạc Thiên nhìn Trạng Quỳnh. – Bây giờ ta đã thấy râu nó. Kéo râu lên, được một con cá. Để yên, may ra còn thấy được cả cái hang.
Trạng Quỳnh cười híp mắt, chắp tay:
– Điện hạ học nhanh quá, tại hạ sắp không còn đất dụng võ rồi.
– Sẹo. – Lạc Thiên gọi.
Sẹo bước vào từ ngoài cửa.
– Chọn hai người trong thân binh, thay áo lính cửa Đông, theo sát Tôn Ngũ. Hắn đi đâu, gặp ai, ăn gì, ngủ ở đâu, về báo ta. Không được để hắn biết. Không được động tới hắn.
– Thuộc hạ tuân lệnh.
– Tướng quân. – Lạc Thiên quay sang Phan Trung. – Đội ba cửa Đông, từ hôm nay xếp gác chỗ nào, trước khi xếp, tướng quân báo ta một tiếng.
Phan Trung ôm quyền, cúi đầu thật thấp. Lần này, lão không nói gì thêm.
* * *
Buổi chiều, Chu Tứ được chôn trong một bãi đất trống sau dãy lều dưới chân tường phía Đông.
Không có quan tài. Gỗ trong thành đã dỡ hết để chống cửa, đóng khung nỏ. Chỉ có một tấm chiếu cói mới, là Lạc Thiên sai người lấy từ kho trong cung. Không có kèn trống. Chỉ có mấy người.
Lạc Thiên. Trạng Quỳnh. Yết Kiêu. Hà Tiểu Ngư. Mấy người hàng xóm trong dãy lều. Và vợ con Chu Tứ.
Người phụ nhân chừng ba mươi tuổi, gầy tới mức chiếc áo nâu chắp vá khắp nơi như treo trên một bộ xương. Nàng đứng bên mép huyệt, một tay dắt đứa con gái chừng năm tuổi, tay kia nắm vai đứa con trai chừng tám tuổi. Không khóc. Suốt từ đầu tới cuối, không rơi một giọt nước mắt nào.
Đứa con gái không hiểu chuyện gì, cứ ngước lên hỏi mẹ, sao cha ngủ trong chiếu. Đứa con trai thì hiểu. Nó đứng thẳng tắp, mím chặt môi, hai nắm tay nhỏ siết lại, nhìn chằm chằm xuống huyệt.
Khi nắm đất cuối cùng được đắp lên, Lạc Thiên bước tới trước mặt người phụ nhân.
– Chu tẩu.
Nàng giật mình, định quỳ xuống. Lạc Thiên đưa tay đỡ lấy.
– Từ hôm nay, mẹ con tẩu ăn phần của lính giữ thành. – Hắn nói. – Ta đã dặn Hộ bộ. Mỗi ngày có người mang tới.
Người phụ nhân cúi đầu, môi mấp máy mấy lần mới thành tiếng.
– Dân phụ… đa tạ điện hạ.
Rồi nàng ngẩng lên. Lạc Thiên nhìn thẳng vào đôi mắt ấy. Không có nước mắt. Chỉ có một câu hỏi.
– Điện hạ, nhà dân phụ… chết như vậy, có đáng không?
Lạc Thiên không đáp ngay.
Hắn có thể nói, đáng. Hai mươi thuyền thóc, hai vạn bảy nghìn quân giặc phải đói. Hắn có thể nói, Chu Tứ là anh hùng. Hắn biết những câu ấy đều đúng. Hắn cũng biết, với người phụ nhân trước mặt, chẳng câu nào đổi được một người chồng.
– Đáng hay không, ta không dám nói thay hắn. – Cuối cùng hắn nói. – Ta chỉ biết, đêm qua không có hắn, không làm được. Ta chỉ biết, sau này nước còn, thì phải có người nhớ tên hắn.
Hắn quay đầu nhìn về phía tường thành phía Đông.
– Dưới chân bức tường kia, chỗ hào xả ra sông Cái, là chỗ đêm qua ba người xuống nước. Ngày giải vây, ta dựng một tấm bia ở đó. Khắc tên Chu Tứ, người làng chài Bến Dâu. Để thuyền bè qua lại trên sông, ai cũng đọc được.
Người phụ nhân nhìn hắn rất lâu.
Rồi nàng quỳ xuống, lần này Lạc Thiên không kịp đỡ, dập đầu ba cái xuống nền đất còn ướt.
Đứng sau lưng Lạc Thiên, Yết Kiêu từ đầu tới giờ không nói một câu. Lúc này y mới bước tới, ngồi xổm xuống trước mặt thằng bé tám tuổi, lấy trong người ra một vật, đặt vào tay nó.
Là một chiếc đục thợ mộc, lưỡi mỏng, chuôi quấn vải đã sờn.
– Cha ngươi nắm nó tới lúc cuối cùng. – Yết Kiêu nói. – Ta gỡ mãi mới ra.
Thằng bé nhìn chiếc đục trong tay, nhìn rất lâu. Rồi hai hàng nước mắt mà nó cố nén từ đầu buổi, cuối cùng cũng chảy xuống.
Yết Kiêu đưa bàn tay thô ráp xoa lên đầu nó.
– Lớn thêm mấy tuổi nữa, ra bờ sông tìm ta. Ta dạy ngươi lặn.
* * *
Trên đường về, Hà Tiểu Ngư lẳng lặng đi theo sau Yết Kiêu, cách ba bước chân. Yết Kiêu đi nhanh, thiếu niên đi nhanh. Yết Kiêu dừng lại, thiếu niên cũng dừng lại.
Tới chân cầu thang dẫn lên mặt thành, Yết Kiêu quay phắt lại.
– Ngươi theo ta làm gì?
Tiểu Ngư quỳ sụp xuống, dập đầu một cái thật mạnh.
– Xin sư phụ thu nhận!
– Ai là sư phụ ngươi? – Yết Kiêu nhíu mày. – Ta không thu đồ đệ.
– Tiểu nhân không có nhà, không có cha mẹ. – Tiểu Ngư không ngẩng đầu lên. – Đêm qua, Chu đại ca chết. Tiểu nhân nghe ba tiếng gõ, chỉ biết bơi xuôi dòng, không quay đầu lại, đúng như sư phụ dặn. Tiểu nhân không muốn lần sau cũng chỉ biết bơi xuôi dòng.
Yết Kiêu đứng im nhìn thiếu niên rất lâu.
Lạc Thiên đứng cách đó mấy bước, không lên tiếng.
– Đứng dậy. – Cuối cùng Yết Kiêu nói, giọng cộc cằn. – Nam nhi dưới gối có hoàng kim, lão già làm nỏ nói với ta câu ấy. Muốn theo thì theo, đừng động một chút là quỳ.
Tiểu Ngư ngẩng phắt đầu lên, hốc mắt đỏ hoe, khóe miệng lại không nhịn được mà cong lên.
* * *
Đêm ấy, Lạc Thiên ngủ lại gian nhà ngang bên Thái Miếu.
Từ sau đêm hai mươi lăm tháng Chạp, hắn vẫn thường ngủ ở đây. Gần chiếc trống, hắn ngủ yên hơn. Sẹo cùng hai thân binh thay nhau gác ở sân.
Sân Thái Miếu lát gạch bát, chính giữa có một cái giếng cổ, miệng giếng xây đá ong, thành giếng mòn nhẵn. Nghe nói giếng có từ thời khai quốc, nước trong quanh năm, xưa nay chỉ dùng để lau bài vị, pha trà cúng tổ tiên. Đêm nay trời âm u, không trăng không sao, chỉ có ngọn đèn lồng treo dưới hiên hắt xuống một quầng sáng vàng vọt.
Lạc Thiên trằn trọc mãi không ngủ được.
Hắn nghĩ tới Tôn Ngũ, nghĩ tới ngọn khói bếp thứ ba trên nóc phủ Trịnh Khê. Nghĩ tới đôi mắt không có nước mắt của người phụ nhân bên mép huyệt. Nghĩ tới Thạch Bá Khôn bên kia hào, sau khi mất hai mươi thuyền lương, rốt cuộc sẽ làm gì.
Một kẻ đang vội, lại vừa bị chặt mất lương, sẽ không ngồi yên.
Gần nửa đêm, có tiếng gõ cửa rất khẽ.
– Điện hạ. – Là giọng Sẹo, trầm và thấp. – Xin điện hạ ra xem.
Lạc Thiên khoác áo bước ra sân.
Sẹo đứng bên miệng giếng, tay cầm chiếc đèn lồng, không nói gì, chỉ hất cằm xuống lòng giếng.
Lạc Thiên cúi nhìn xuống.
Mặt nước dưới đáy giếng phản chiếu ánh đèn lồng thành một đốm vàng nhỏ. Đốm vàng ấy đang run rẩy. Từng gợn sóng nhỏ dạt về phía vách Tây, chạm vào thành giếng, rồi lại một gợn khác, rồi một gợn khác nữa.
Hắn ngẩng đầu nhìn lên. Ngọn lửa trong chiếc đèn lồng đứng im, không lay động. Lá cây trong sân không một chiếc nào rung. Cả sân Thái Miếu lặng như tờ.
Hắn thò tay xuống lòng giếng. Có một luồng hơi rất khẽ, lạnh buốt, mang theo mùi đất ẩm mốc rất cũ, đang kéo bàn tay hắn chìm xuống, như dưới đáy giếng có thứ gì đang hít vào.
Nửa đêm, nước trong giếng Thái Miếu gợn sóng dù không có gió.