Chương 11: Giang để thám lương

Buổi chiều ngày rằm, trong thư phòng nhỏ cạnh Cần Chính điện, cửa đóng kín. Chỉ có năm người. Lạc Thiên, Trạng Quỳnh, Cao Lỗ, Phan Trung, và Yết Kiêu. Phan Trung đứng khoanh tay bên cửa sổ, liếc nhìn hán tử cởi trần da đen bóng đang ngồi xổm trên ghế đẩu như ngồi đầu mũi thuyền. Lão không hỏi người này từ đâu tới. Mấy hôm nay, lão đã học được cách không hỏi. – Đêm nay tiểu nhân đi. – Yết Kiêu nói, ngón tay vạch lên tấm bản đồ trải trên bàn, dọc theo dòng sông Cái từ mặt Đông kinh thành ngược lên phía Bắc, dừng ở khúc quanh có hai bãi lau. – Ngược dòng chừng sáu dặm. Tìm ra bến, đếm thuyền, xem canh gác. Trước khi trời sáng về. – Ra bằng đường nào? – Phan Trung hỏi. – Bốn cửa thành đều bị vây. Cống thoát nước phía Tây, từ hôm bắt được tên thám tử, lão thần đã cho chắn song sắt, xây đá lấp một nửa. – Chỗ nào nước ra được sông, chỗ đó tiểu nhân ra được. Cao Lỗ đang xoay xoay cây gậy trong tay, nghe vậy liền dùng đầu gậy chấm lên bản đồ, ngay dưới chân cửa Đông. – Cống ngầm. – Lão nói. – Nước mưa trong thành theo cống này chảy xuyên qua chân tường, đổ ra hào. Men theo hào xuống phía Nam chừng hai trăm bước, là chỗ hào xả ra sông Cái. Trong lòng cống có song sắt. Song sắt còn chắc, nhưng lão phu tháo lỏng một thanh là một người chui lọt, xong việc lại đóng vào. Phan Trung nhíu mày. – Cống ấy nằm ngay dưới cửa Đông. Người canh ở đó là lính của lão thần. Căn phòng lặng đi một thoáng. Ai cũng hiểu câu ấy có nghĩa là gì. Cái xác trên cáng tre sáng mùng bốn là lính cửa Đông. Kẻ thòng dây, hoặc kẻ bắn chết kẻ thòng dây, cũng là người của cửa Đông. Lạc Thiên nhìn Phan Trung. Lão tướng không tránh ánh mắt hắn. – Đêm nay, – Lạc Thiên chậm rãi nói, – thân binh của ta thay gác ở miệng cống. Tiên sinh nghĩ giúp ta một cái cớ. – Việc này không khó. – Trạng Quỳnh xua tay. – Lính cửa Đông đánh trận mùng bốn vất vả, giám quốc thương tình, cho thân binh xuống gác thay một đêm, để tướng sĩ được một đêm yên giấc. Ai nghe cũng cảm động. Phan Trung im lặng rất lâu. Rồi lão ôm quyền, cúi đầu. – Lão thần tuân lệnh. Lạc Thiên biết, câu ấy nặng hơn nhiều so với vẻ ngoài của nó. Bốn mươi năm cầm quân, bây giờ phải để một đám lính lạ tới gác thay người của mình, chỉ vì trong người của mình có kẻ bán nước. Không có vị tướng già nào nuốt trôi chuyện ấy dễ dàng. Nhưng lão vẫn nuốt. – Chuyện đêm nay, – Lạc Thiên nói, – ngoài năm người trong phòng này và thân binh, không ai được biết. – Hắn quay sang Yết Kiêu. – Chỉ nhìn. Không đánh. Trời sáng phải về. Yết Kiêu gật đầu. – Ngươi lặn được bao lâu? – Hồi trước, – Yết Kiêu thản nhiên đáp, – ba ngày không lên bờ cũng không sao. Cao Lỗ ngừng xoay gậy. Lão nhìn Yết Kiêu, ánh mắt có chút phức tạp. – Hồi trước lão phu kéo nỏ ba thạch không đỏ mặt. – Lão nói. – Giờ kéo một thạch rưỡi đã thở. Tiểu tử, ngươi xuống hào thử trước một lần đi. – Nước là nhà của tiểu nhân. – Yết Kiêu cười, để lộ hàm răng trắng. – Người ta về nhà, chẳng lẽ còn phải thử? * * * Đêm rằm, trăng sáng như ban ngày. Miệng cống nằm sát chân tường phía trong cửa Đông, là một vòm đá thấp, có mấy bậc đá dẫn xuống. Lạc Thiên đứng trên bậc đá trên cùng. Sẹo đứng sau lưng hắn, chín thân binh còn lại đã thay chỗ đám lính gác cống từ lúc chập tối. Dưới chân hắn, dòng nước trong lòng cống đen sẫm, ngập tới thắt lưng người, lặng lẽ chảy vào bóng tối dưới chân tường. Yết Kiêu đứng trên bậc đá cuối cùng, sát mép nước, cởi cả chiếc quần vải, chỉ còn lại mảnh khố quấn quanh hông. Bên hông giắt một con dao nhỏ dài bằng bàn tay, Cao Lỗ vừa mài xong lúc chiều. Ngoài kia, trên đầu tường thành, trăng rằm sáng vằng vặc. – Trăng sáng quá. – Lạc Thiên nói. – Trăng càng sáng, mặt sông càng lóa bạc, người trên bờ nhìn xuống chỉ thấy bóng trăng, không thấy được gì dưới nước. Bóng lau bóng tường lại càng đen. – Yết Kiêu đáp. – Điện hạ yên tâm. Y ngồi xuống, thả hai chân vào nước. Nước tháng Giêng lạnh buốt. Y khẽ rùng mình một cái, rồi bật cười, như thể chính y cũng thấy lạ. Rồi y trượt xuống, không một tiếng động, như một con rái cá. Mặt nước khép lại. Mấy vòng sóng nhỏ loang ra, rồi tan mất. * * * Dưới nước tối đen. Yết Kiêu mở mắt. Với y, bóng tối dưới nước chưa bao giờ là bóng tối. Y nhìn thấy hàng song sắt chắn ngang lòng cống, nhìn thấy thanh sắt Cao Lỗ đã tháo lỏng, nhìn thấy những cọng rong dài bám trên thành cống lay động theo dòng nước. Y lách người qua khe song. Dòng nước trong cống đẩy y đi, như bàn tay người mẹ đẩy đứa con ra khỏi cửa. Ra khỏi chân tường là nước hào tù đọng, lẫn bùn và những thứ không ai muốn biết. Y men theo đáy hào xuống phía Nam, tới chỗ hào xả ra sông. Sông Cái mở ra trước mặt. Rộng. Sâu. Lạnh. Có mùi bùn, mùi rong, mùi cá. Là mùi của những con sông quê nhà, dù đây không phải con sông nào y từng biết. Y không bơi giữa dòng. Giữa dòng nước chảy xiết, người ngược dòng chỉ tốn sức. Y men theo sát bờ, nơi nước quẩn lại chậm rì, hai tay gạt bùn dưới đáy mà trườn đi, như con cá chép rúc bùn tìm mồi. Đi được chừng một trăm sải, lồng ngực y bắt đầu nóng lên. Yết Kiêu ngẩn ra. Không thể nào. Mới chỉ một lúc. Chưa được nửa khắc. Hồi trước, y có thể nằm dưới đáy sông cả ngày, nghe thuyền giặc qua lại trên đầu như nghe tiếng mưa rơi trên mái nhà. Hơi nóng trong lồng ngực càng lúc càng dâng lên, thành một bàn tay vô hình bóp nghẹt lấy cổ họng. Y cắn răng, cố thêm mười sải, hai mươi sải. Trước mắt bắt đầu hiện ra những đốm sáng lập lòe. Y đạp mạnh chân, ngoi lên giữa một bụi lau sát bờ. Hơi thở đầu tiên tràn vào lồng ngực, lạnh buốt như nuốt phải một ngụm tuyết. Y áp sát người vào thân lau, không dám thở mạnh. Trên bờ, cách đó chưa tới ba mươi bước, một đống lửa trại đang cháy lép bép. Mấy tên lính Đại Hạo ngồi quanh lửa, trùm chăn kín đầu, một tên đang ngáp dài. Yết Kiêu nhìn đống lửa, rồi nhìn xuống đôi bàn tay mình trong làn nước đen. Cảnh giới bị ép xuống. Y đã nghe Trạng Quỳnh nói qua, cũng đã nghe lão già làm nỏ nói. Y cứ ngỡ là ép xuống sức lực, ép xuống đao kiếm. Không ngờ ép luôn cả hơi thở. Nước vẫn là nước. Chỉ có y, không còn là y của năm xưa. Y nhắm mắt lại một lúc. Rồi mở ra, bắt đầu tính. Nửa khắc. Cứ nửa khắc phải ngoi lên một lần. Ngoi lên phải có chỗ nấp: bụi lau, gốc cây đổ, bóng thuyền. Sáu dặm đường sông, bao nhiêu chỗ như vậy, y phải nhớ hết. Đêm mai, đêm kia, nếu phải đi lại lần nữa, sẽ không có thời gian mà dò. Y lặn xuống, tiếp tục ngược dòng. * * * Gần giờ Sửu, Yết Kiêu tới được khúc quanh. Dòng sông rẽ ngoặt về phía Tây, để lại phía trong một bãi cát dài mọc kín lau trắng. Sau bãi cát là một vũng nước lặng rộng mấy mẫu, bờ bên trong thoai thoải. Nơi ấy, bằng những cọc tre đóng xuống bùn, quân Đại Hạo đã dựng lên một cái bến. Yết Kiêu nấp sau một gốc cây đổ ở đầu bãi, chỉ để lộ nửa khuôn mặt trên mặt nước, lặng lẽ đếm. Thuyền lương đậu thành bốn hàng, mỗi hàng tám chiếc, mũi nối đuôi buộc vào nhau bằng thừng to. Ba mươi hai chiếc. Là loại thuyền đáy bằng chở hàng đường sông, dài chừng năm trượng, mui tre phủ chiếu. Y lặn xuống, men tới gần hàng thuyền ngoài cùng, luồn dưới đáy thuyền, đưa tay sờ dọc mạn. Chiếc thứ nhất, mạn thuyền chìm sâu dưới nước gần ba thước. Chiếc thứ hai cũng vậy. Tới chiếc thứ chín, mạn thuyền chỉ ngập hơn một gang tay, đáy thuyền bập bềnh. Thuyền đầy thì chìm sâu. Thuyền rỗng thì nổi. Y lần lượt sờ hết cả bốn hàng. Mười chiếc đã dỡ hết hàng. Hai mươi hai chiếc vẫn còn đầy ắp. Trên bờ, dưới mấy mái lều, thóc vừa dỡ đổ thành vài đống phủ chiếu cói, chừng đủ đại doanh ăn dăm ba ngày. Mấy chục chiếc nong nia, cối giã xếp chồng chất bên cạnh. Ban ngày, hẳn là người ta giã thóc, sàng sảy ngay tại đây rồi mới chở về đại doanh. Trấu bay ra sông, trôi xuống tận chân thành Thiên Trường. Ngoi lên thở lần thứ hai dưới bóng một chiếc thuyền rỗng, Yết Kiêu nghe thấy tiếng người nói chuyện ngay trên đầu. Giọng phương Bắc, nặng trịch, uể oải. – …bò kéo xe làm thịt gần hết rồi, mỗi ngày dỡ nổi một chiếc là may. – Dỡ chậm thì lo gì. Ngày mười tám đại tướng quân điều hai nghìn dân phu tới, dỡ một lượt là xong. Chỉ lo thuyền đợt sau đến giờ còn chưa rời Ải Bắc. Nghe nói trên đó cũng hết thóc rồi. – Câm miệng! Không muốn sống nữa à? Đại tướng quân nói rồi, hai mươi thuyền này là cơm của cả đại doanh tới hết tháng Giêng. Ai để mất một hạt, chém đầu. – Ở đây ai mà lấy? Cá à? Hai tên lính cười khùng khục. Một tên đứng dậy, bước tới mép thuyền, cởi dây lưng. Yết Kiêu hít vội một hơi, lặn xuống. Một dòng nước ấm khai nồng từ trên trút xuống, rơi xuống ngay chỗ y vừa ngoi lên. Dưới đáy thuyền tối om, y áp lưng vào lớp ván gỗ, im lặng như một con cá chết, đợi cho tên lính cài lại dây lưng, lạch bạch bước về chỗ cũ. Tay y lần theo những đường nối giữa các tấm ván đáy thuyền. Ván gỗ thông, ghép sát, trét kín bằng một lớp vữa cứng trộn vôi với dầu trẩu và xơ gai. Nhưng chiếc thuyền này đã xuôi một quãng sông rất dài, lại từng chở nặng, lớp vữa ở mép ván sát sống thuyền đã rạn, móng tay cạy nhẹ đã bong ra từng mảnh. Yết Kiêu rút con dao nhỏ bên hông, khẽ cạy thử một đường. Một vụn vữa rơi ra. Một dòng nước lạnh rỉ vào khe ván, rất nhỏ, rất chậm, không một tiếng động. Trong bóng tối dưới đáy thuyền, Yết Kiêu nhếch miệng cười. * * * Trời tờ mờ sáng, Lạc Thiên vẫn đứng ở chỗ cũ. Sẹo đã khoác lên vai hắn một chiếc áo bông từ nửa đêm. Trạng Quỳnh tới lúc canh tư, khuyên hắn về ngủ, bị hắn lắc đầu, đành ngồi co ro ở chân tường mà thiếp đi. Mặt nước trong lòng cống đột nhiên sủi bọt. Một cái đầu đen nhánh ngoi lên, rồi một đôi vai. Yết Kiêu bám vào bậc đá, trèo lên, toàn thân run bần bật, môi tím ngắt. Lần đầu tiên, trông y không giống một con rái cá, mà giống một người vừa bị vớt dưới sông lên. Lạc Thiên đã chạy xuống tới nơi, giật chiếc áo bông trên vai mình trùm lên người y. – Sẹo, cháo! Bát cháo phần sáng của Lạc Thiên còn bốc hơi nghi ngút. Yết Kiêu nhìn bát cháo, rồi nhìn Lạc Thiên. Y biết đó là phần của ai. – Ăn đi. – Lạc Thiên nói. – Ngươi không ăn, ta cũng không ăn. Yết Kiêu im lặng đón lấy, uống một hơi hết sạch. Hai tay y ôm chặt lấy chiếc bát đất, như sợ nó bay mất. * * * Sáng mười sáu, thư phòng lại đóng cửa. Yết Kiêu quấn chăn ngồi bên lò than, kể lại những gì đã thấy. Bến ở vũng nước sau bãi lau trắng; Trạng Quỳnh nghe tả xong, thuận miệng đặt cho một cái tên: bãi Lô Hoa. Ba mươi hai chiếc thuyền, hai mươi hai chiếc còn đầy thóc. Mỗi ngày chỉ dỡ được một chiếc, nhưng sáng mười tám sẽ có hai nghìn dân phu tới dỡ một lượt. Trên bờ chừng ba trăm lính canh, trên thuyền mỗi hàng bốn năm tên, cứ nửa canh giờ có một chiếc thuyền nhỏ đốt đuốc đi tuần quanh vũng. – Còn một chuyện. – Yết Kiêu cúi đầu. – Tiểu nhân trái lệnh. Dưới đáy một chiếc thuyền rỗng, tiểu nhân đã cạy thử một đường vữa. Thuyền rỗng nổi cao, rỉ chút nước cũng không chìm, chúng chỉ tưởng thuyền cũ ngấm nước. Lạc Thiên nhìn y một lúc lâu. – Lần sau, muốn trái lệnh, hỏi ta trước. – Tiểu nhân nhớ rồi. – Tới đêm mai còn chừng hai mươi thuyền thóc. – Phan Trung khàn giọng tính. – Là lương của cả đại doanh tới hết tháng Giêng. Không ai nói gì. Nhưng Lạc Thiên biết mọi người trong phòng đang nghĩ cùng một chuyện. Hai mươi thuyền thóc. Nếu đem được về thành, ba vạn dân Thiên Trường có thể cầm cự thêm hơn một tháng. Chính hắn cũng đang nghĩ như vậy. – Cướp về được không? – Hắn hỏi, dù đã biết câu trả lời. – Không được. – Phan Trung lắc đầu. – Muốn cướp phải giết hết lính canh trên thuyền, cắt dây, chèo hai mươi chiếc thuyền nặng trĩu xuôi sáu dặm, qua mấy chục đống lửa canh dọc bờ. Tới được chân thành, thành ta không có bến, thóc phải dỡ ngay dưới chân tường phía ngoài. Trời chưa sáng, ba vạn quân Đại Hạo đã kéo tới. Muốn làm được, phải có ít nhất hai trăm người biết chèo thuyền, và một nghìn quân ra khỏi thành tiếp ứng. – Thành ta không có hai trăm người còn đủ sức chèo thuyền. – Trạng Quỳnh nói. – Càng không có một nghìn quân còn đủ sức ra khỏi thành. – Đốt? – Cao Lỗ hỏi. – Thóc đầy thuyền, khó cháy. – Yết Kiêu đáp. – Lửa bốc lên thì cả vũng thức dậy, người đốt không chạy kịp. Lạc Thiên nhắm mắt lại. Hai mươi thuyền thóc đang nằm cách hắn sáu dặm. Trong thành, mỗi ngày lại có người chết đói. Cầm được về thì không thể. Muốn Thạch Bá Khôn không ăn được, chỉ còn một cách. Để nó chìm xuống đáy sông. Hắn mở mắt ra. – Đánh chìm. Không ai lên tiếng phản đối. Nhưng Lạc Thiên nhìn thấy Phan Trung khẽ nhắm mắt lại, như vừa nuốt phải một ngụm thuốc đắng. – Ta đói, thì hắn cũng phải đói. – Lạc Thiên nói, giọng rất chậm. – Hắn đói trước ta, hắn phải rút trước. – Thóc ngâm nước một ngày là trương, ba ngày là nảy mầm, mốc meo. – Trạng Quỳnh gật gù. – Hắn có cho người lặn xuống vớt, vớt lên cũng chỉ để cho ngựa ăn. Yết Kiêu đặt chiếc bát không xuống bàn. – Không cần đục thủng. – Y nói. – Đục thủng thì kêu, lính trên thuyền nghe thấy. Chỉ cần cạy lớp vữa ở hai đường mép ván sát sống thuyền. Nước rỉ vào chậm, thuyền đầy thóc nặng, chừng hai canh giờ thì chìm. Tới lúc lính canh phát hiện thuyền nghiêng, đã muộn. – Mỗi thuyền mất bao lâu? – Hồi trước, một hơi lặn tiểu nhân làm xong ba bốn chiếc. – Yết Kiêu cúi đầu nhìn hai bàn tay mình. – Bây giờ, một hơi chỉ đủ một chiếc. Đêm mai có sương, từ giờ Sửu tới giờ Mão là lúc sương dày nhất, lính canh ngủ say nhất. Chừng đó thời gian, một mình tiểu nhân làm được sáu, bảy chiếc. – Vậy chia làm ba đêm? – Không được. – Yết Kiêu lắc đầu. – Sáng ra chúng thấy sáu bảy chiếc thuyền chìm, đêm sau cả vũng sẽ thắp đuốc sáng như ban ngày, dưới nước thả lưới, trên bờ đứng kín người. Mà sáng mười tám hai nghìn dân phu tới, dỡ một lượt là hết. Đêm nay thì không kịp, tiểu nhân còn phải tìm người. Hai mươi chiếc, phải cùng chìm trong một đêm. Chính là đêm mai. Y ngẩng đầu, nhìn Lạc Thiên. – Tiểu nhân cần thêm hai người lặn. Căn phòng lặng ngắt. Trạng Quỳnh không biết bơi. Cao Lỗ là người làm nỏ. Phan Trung là cao thủ Tiên Thiên, nhưng cả đời đánh trận trên cạn, lại là người duy nhất giữ nổi cửa Đông nếu đêm ấy Đại Hạo công thành. Bốn mươi mốt lính triệu hoán, có người là dân binh Lam Sơn, có người là thân binh cầm khiên, không ai lớn lên trên sông nước, càng không ai nín thở dưới nước nổi quá mười hơi. Kế hoạch cần ba người lặn. Người vừa lặn được, vừa tin được, cả tòa thành chỉ có một.
Chương trước Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ