Chương 12: Chương 12: Ba Con Cá Nhỏ

Chương 12: Ba Con Cá Nhỏ Buổi sáng hôm sau, Hải Ninh Trấn có nắng. Nắng không rực rỡ. Nó đi qua một lớp mây mỏng, rơi xuống bến cảng thành những vệt sáng nhợt nhạt trên lưng cá, trên mái thuyền và những chiếc sọt tre còn đọng nước. Nhưng sau mấy ngày gió đổi hướng, chỉ cần thấy ánh sáng như vậy, người bán hàng đã thở phào hơn một chút. Minh Khang xách thùng nước đi ngang cửa quán, ngẩng đầu quan sát mái. Những viên ngói cũ ẩm đen. Chỗ thùng gỗ hứng nước hôm qua vẫn còn nguyên, giờ chỉ có mấy giọt cuối cùng treo trên mép xà. Anh không dọn nó đi vội. Nếu chiều người thợ tới thay ngói, chiếc thùng còn giúp chỉ rõ đường nước cũ. Bà Tôn đã ngồi cạnh bếp nhóm lửa. “Cất mắt khỏi mái, lại đây xem nồi.” “Vâng.” Khang đặt thùng nước xuống, xem gạo đã vo trong rá. Hạt gạo hơi cũ, có vài hạt gãy nhưng không bị mọt hay mùi ẩm. Anh đổ nước theo lượng bà Tôn dặn, canh lửa cho nồi nhanh nóng rồi giảm bớt khi gạo bắt đầu nở. Công việc gần đây thành quen. Quen không có nghĩa anh được làm thay chủ quán mọi việc, mà là mỗi buổi sáng đã biết nên đứng đâu để bà đỡ phải nhắc. Bà Tôn chỉ vào chiếc giỏ tre dưới bàn. “Hôm nay ngươi định đi chợ hỏi giá cá?” “Nếu bà cho phép. Tôi muốn xem loại nhỏ về sớm có khác mẻ chiều hôm trước không.” “Đi sau khi bán xong đợt đầu. Ta không muốn vì vài con cá mà khách chờ cháo trắng.” “Vâng.” “Với lại, mang mắt đi xem trước. Đừng thấy cá rẻ là mua.” Khang mỉm cười. “Tôi đâu có tiền tự ý mua.” Bà Tôn liếc anh. “Biết thế thì tốt.” Một người lao động trẻ bước vào gọi bát cháo đặc. Hắn ngồi xuống chưa lâu đã hỏi có thấy Hứa Tam đâu không. Bà Tôn nói chưa gặp từ tối qua. Người ấy chậc lưỡi, bảo hôm nay kho muối chia nhóm bốc hàng sang bến phía đông nên ai làm cùng Hứa Tam chắc không qua con ngõ này. Khang nghe, chỉ gật đầu. Nếu anh đã nấu dư vì trông chờ nhóm sáu người trở lại, sáng nay có lẽ cả quán phải ăn cháo thừa. Tin tức từ khách tới lúc nào là của lúc ấy; không thể xây kế hoạch mua gạo trên lời đồn ngoài bến. Khi khách ra về, bà Tôn mới cho anh cầm giỏ tới chợ. “Đi xem rồi về kể. Thấy hàng tốt mà chưa biết giá, hỏi. Biết giá mà chưa biết dùng được, đừng mua. Nhớ chưa?” “Nhớ rồi.” Anh bước ra đường. Chợ cá buổi sớm đông hơn phiên chiều rất nhiều. Những chiếc sọt tre được chuyền từ mạn thuyền lên bờ, nước biển rỏ xuống đất, tạo thành vệt bùn mằn mặn. Người chọn cá, người cân hàng, người rao giá; tiếng gọi nhau vang lẫn với tiếng mái chèo va vào mạn thuyền. Khang không vội chen đến những sạp đông khách nhất. Anh đi dọc phía ngoài, vừa xem cách người ta che cá khỏi nắng, vừa để ý khoảng thời gian từ lúc thuyền cập bến đến khi người mua tới. Có người giữ cá trong sọt ướt, đặt dưới bóng mái. Có người đổ ra mâm gỗ giữa nắng để khách dễ nhìn. Cách bày bán khác nhau khiến chất lượng cá sau một lúc cũng khác. Một bà bán cá nhìn thấy anh đứng quan sát liền gọi: “Mua cá thì lại đây. Đừng đứng nhìn như bắt lỗi người ta.” “Cháu chỉ hỏi giá loại nhỏ.” “Loại nào? Con bạc này sáu văn một rổ. Loại lẫn kia rẻ hơn nhưng phải chọn.” Nghe sáu văn, anh nhớ lại buổi sáng đầu tiên tại Hải Ninh, khi không có lấy một văn mà chỉ biết nhìn những rổ cá tươi. Bây giờ anh vẫn chưa giàu hơn là bao; khác ở chỗ đã có người chịu nghe anh bàn xem mua cá nào để nấu. “Rổ này đầy đến miệng, hay chỉ tính tới vạch dây?” anh hỏi. Bà bán cá nheo mắt. “Ngươi hỏi như người đi mua hàng cho tửu lâu.” “Cháu mua ít, càng phải biết.” “Đầy ngang vành. Nếu lấy nhiều ta thêm cho.” Khang nhìn chiếc rổ. Vành tre cong không đều, đáy lại có chỗ phình. Một rổ của người này chưa chắc bằng một rổ của người khác. Anh không nói chuyện ấy ra làm khó bà. Chợ này quen bán như vậy, anh không thể đòi tất cả thay ngay để phù hợp với thói quen của mình. Anh cảm ơn rồi đi tiếp. Phía cuối dãy sạp có một đám đông tụ lại. Một người đàn ông cao lớn đang nhấc giỏ cá của cô gái trẻ, lắc qua lắc lại rồi lắc đầu. “Cá bé quá. Ta lấy cả giỏ, trả bốn văn.” “Bốn văn thì thấp hơn mẻ hôm qua,” cô gái đáp. “Cá vừa kéo lên, chưa để nắng.” “Không bán thì ôm về. Ngươi không có cân, ta chẳng biết nặng được mấy.” Khang nhận ra giọng A Liên trước khi nhìn thấy mặt cô. Cô mặc áo sẫm màu, tóc buộc gọn. Cạnh chân là một giỏ cá nhỏ và chiếc rổ trống, trên vành còn quấn dây để dễ xách. Người mua vừa đặt giỏ xuống, cô lập tức kéo nó về phía mình, kiểm tra xem cá có bị dập không. “Không bán giá ấy,” A Liên nói. Người đàn ông nhún vai bỏ đi. Một người phụ nữ đứng gần đó khuyên: “Đến trưa mà còn cá thì chẳng được bốn văn đâu. Con gái làm ăn đừng cứng quá.” A Liên im lặng. Khang đứng cách một quãng. Anh không bước tới ngay. Nếu mình xuất hiện với tư cách người quen rồi lớn tiếng nói thay cô, người khác sẽ tưởng hai người đã thông đồng dựng giá. Cũng không chắc anh hiểu đủ chuyện trong chợ để giúp cô. Đợi đám đông tản bớt, anh mới đến chào. “Cô ra sớm thật.” “Huynh cũng vậy.” A Liên nhìn giỏ tre trên tay anh, hơi cười. “Quán đang mua cá?” “Đi xem trước. Bà Tôn chưa dặn mua.” Cô gật đầu, không mời chào nữa. Khang cúi xuống nhìn số cá bên trong. Đó là những con nhỏ, thân thon, vảy ánh bạc, còn lớp nhớt trong. Anh hỏi cô thời điểm cá được kéo lên. Cô kể thuyền người quen cập bến khi trời mới hửng, nhà cô được chia một phần vì phụ vá lưới và gỡ cá. “Cô đã chọn hết cá dập ra chưa?” “Chọn rồi. Còn mấy con xấu hơn để nhà ăn, không mang bán.” “Cho tôi xem mang một con được không?” “Được.” Cô lấy con cá ở lớp trên, dùng tay mở mang cho anh xem. Sắc đỏ vẫn tươi, mùi tanh nhẹ chứ không có mùi chua hay ôi. Khang kiểm tra mắt, thân và phần bụng. Anh không tuyên bố rằng chỉ cần nhìn một lần là biết chắc cá ngon. Cá gần biển có nhiều loài tương tự, lại còn cách kéo lưới, bảo quản và thời gian lên bến. “Cá ổn,” anh nói. “Nhưng cháu... à, tôi không quyết được việc mua. Tôi phải về hỏi bà Tôn.” A Liên bật cười vì cách anh đổi xưng hô giữa chừng. “Huynh cứ hỏi. Tôi cũng không để giỏ này đợi riêng quán. Có người mua giá hợp thì tôi bán trước.” “Phải vậy.” Khang nhìn chiếc giỏ không có cân, nghĩ một lát rồi chỉ vào hai rổ bên cạnh. “Cô có thường dùng một loại rổ để bán không?” “Không. Rổ nào còn lành thì dùng. Sao?” “Chỉ vì cùng gọi một rổ nhưng cái này to hơn cái kia. Khách có thể vin vào đó để ép giá.” “Không có cân thì làm sao?” Câu hỏi của cô rất thực. Một chiếc cân tốt tốn tiền, mà nhà cô còn đang phải sửa ngư cụ. Khang lắc đầu. “Tôi chưa có cách nào giúp cô đo chính xác. Có lẽ cô chọn một rổ cố định, đánh dấu vạch đổ đầy, để hôm nào cũng giống nhau. Nhưng nếu người khác vẫn muốn cân thì họ có quyền cân. Cách này chỉ giúp cô đỡ lẫn.” A Liên nhìn rổ một lúc. “Chẳng tốn gì ngoài sợi dây buộc,” cô nói. “Tôi có thể thử.” “Còn nếu cá nhiều quá, đừng cố ép xuống cùng rổ làm dập phần dưới.” “Huynh thật giống bà Tôn. Nói câu nào cũng có điều phải tránh.” Khang cười. “Bà dạy tôi đấy.” Không xa, một người mua vừa lấy một giỏ cá khác đi qua. A Liên đưa mắt nhìn rồi gọi giá của mình. Lần này, cô không hạ xuống mức vừa bị ép. Người mua dừng lại, hỏi có thể xem cá dưới đáy không. A Liên đáp được. Họ lựa mấy con, cuối cùng mua một phần nhỏ. Khang đứng tránh sang bên, không xen vào việc mặc cả. Khi người ấy trả tiền, cô cất ngay vào túi áo, mặt bớt căng thẳng. “Tôi còn phải về quán,” anh nói. “Nếu chiều có mưa, cô nhớ che giỏ.” A Liên gật đầu. “Huynh lo chỗ mái quán mình trước đi. Hôm qua tôi nghe con bé về kể mái nhà huynh quên che mưa.” Anh bật cười. “Chuyện đó lan nhanh thật.” “Trẻ con nói thì cả ngõ biết.” Khang chắp tay chào, đi trở lại con đường lát đá. Trên đường, anh ghé qua một sạp bán gừng, hỏi giá một nhánh nhỏ, rồi hỏi thêm mấy loại cá khác. Mỗi người trả lời một kiểu: có người báo giá theo rổ, có người theo nắm, có người chỉ bán cả mẻ. Người bán nhiều có thể mua rẻ hơn, nhưng không có nghĩa quán họ Tôn cần hoặc có khả năng mua nhiều. Anh trở về khi mặt trời vừa nhô khỏi dãy mái thấp. Bà Tôn đang lau bàn. “Thế nào?” “Có cá nhỏ tươi. Giá khác nhau tùy rổ và giờ bán. A Liên có một giỏ mới lên bến nhưng chưa chắc còn đến trưa. Tôi chưa mua gì.” Bà Tôn nghe hết, rồi hỏi: “Ngươi thấy cháo cá bán được bao nhiêu bát?” “Chưa biết. Hôm trước có khách hỏi, nhưng chưa ai đặt.” “Đúng.” Bà đặt khăn xuống. “Vậy hôm nay không thể mua một giỏ chỉ để mong khách đến.” “Vâng.” “Nhưng ta muốn biết con cá ấy khi nấu có ngon hơn loại hôm trước không.” Minh Khang ngẩng lên. Bà mở chiếc hộp nhỏ, lấy ra mấy đồng tiền rồi đặt lên bàn, nhưng chưa đưa cho anh. “Trước hết phải lo thợ mái. Nếu ông Phùng sửa xong sớm, ngươi chạy ra chợ xem còn hai, ba con nhỏ đủ tươi không. Chỉ mua phần đủ thử một nồi ít. Nhớ hỏi giá rõ, ta phải ghi.” “Bà không muốn thử bán luôn ạ?” “Chưa. Ta muốn biết chính ta ăn có thấy đáng tiền hay không.” Khang nhìn những đồng tiền trên bàn, không chạm vào. “Vâng. Làm thử trong bếp trước.” “Đúng.” Bà Tôn thu tiền lại. “Đến lúc được đi thì ta mới giao. Tiền để đấy không phải đã chi.” Minh Khang bật cười. Bà luôn phân biệt những chuyện ấy rõ ràng hơn bất cứ tấm bảng ghi nguyên tắc nào. Giữa buổi, ông Phùng đến với ba viên ngói thay và một ít vật liệu dặm. Ông leo lên khi mái đã ráo, gỡ phần hỏng, lật vài viên liền kề kiểm tra. Khang chỉ phụ dưới đất: giữ thang, nhận mảnh ngói cũ qua dây và thu gọn khu vực để khách không đi vào. Một người khách tới đúng lúc thợ đang gỡ ngói, ngước đầu hỏi: “Quán sửa nhà à? Hôm nay có bán không?” “Có,” bà Tôn đáp. “Cháo nấu dưới bếp, không để bụi mái rơi vào.” Khang nghe vậy liền kiểm tra lại: cửa ngăn giữa gian trước và chỗ thợ có được đóng kín chưa; bát úp có được phủ khăn sạch chưa; rổ rau có đang nằm dưới khe bụi rơi không. Anh chuyển những thứ hở ra khỏi vùng sửa trước khi bếp tiếp tục phục vụ. Bà Tôn thấy động tác ấy, khẽ gật đầu. Mãi đến đầu buổi chiều, người thợ mới xuống thang. Ông lấy tay gõ vào thanh gỗ dưới mái, rồi bảo phần mềm mới ở lớp ngoài, chưa cần thay toàn bộ. Nhưng ông khuyên họ để ráo và hẹn ngày kiểm tra lại nếu nước tiếp tục thấm. Bà Tôn thanh toán khoản công và ngói đúng phần đã làm. Ông Phùng đếm tiền trước mặt bà, nhắc lại việc thanh gỗ vẫn cần theo dõi. Khang đứng bên, ghi nhớ từng hạng mục nhưng không dám tự ghi vào sổ chính. “Xong chưa?” bà Tôn hỏi. “Xong phần ngói. Chưa dám hứa hết mọi chỗ dột.” Bà nhíu mày rồi gật đầu. “Được. Người nào nói thật phần chưa chắc làm ta yên tâm hơn người hứa một câu là cả mái không bao giờ dột.” Ông Phùng cười lớn, xếp thang rồi đi. Khang đi một vòng quanh bếp, tìm bụi ngói còn vương và lau sạch mặt kệ. Phần việc ấy không đẹp mắt, cũng chẳng làm khách trầm trồ. Nhưng nếu để bụi rơi vào nồi cháo thì một ngày công sửa nhà sẽ thành chuyện buồn cười. Khi lau xong kệ, Minh Khang thấy trên bàn xuất hiện một mảnh ván đã cạo sạch. Bà Tôn đưa cho anh mẩu than. “Viết hai chữ ngói, công.” “Bây giờ ạ?” “Vừa nghe thợ nói cả buổi, không tập thì lúc nào tập?” Anh ngồi xuống, viết chữ đầu tiên. Nét ngang quá dài. Chữ thứ hai còn tệ hơn, nhìn như một búi dây lưới. Bà Tôn nhìn mà nhăn mặt, nhưng không lấy bút viết thay. Bà chỉ chỗ nào phải dừng tay, chỗ nào cần nhấc bút, rồi bắt anh làm lại. Khang kiên nhẫn tập. Mỗi chữ mất nhiều thời gian hơn cả việc thái một rổ hành. Đã quen cầm dao, anh biết tay mình không vụng. Nhưng kỹ năng của một bàn tay không tự chuyển sang nét bút trên vật liệu lạ. Cũng như việc anh thuộc công thức nước dùng không có nghĩa đã hiểu tất cả loại củi ở Hải Ninh. “Bà chủ,” anh hỏi sau một lúc, “sao bà không ghi hết chi phí theo từng ngày vào một bảng riêng?” “Ta vẫn ghi.” “Ý tôi là ghi cả thứ dùng hết, thứ còn lại. Ví dụ sáng mua một bó củi, tối chưa đốt hết thì...” Bà đặt ngón tay lên chiếc hộp sổ. “Ngươi đang muốn tính lãi hay muốn biết củi còn bao nhiêu?” “Cả hai, nhưng hai chuyện khác nhau.” Bà Tôn suy nghĩ. “Củi còn bao nhiêu, nhìn đống củi là thấy. Lãi bao nhiêu, lấy tiền thu trừ tiền mua. Ta làm vậy nhiều năm.” “Đúng. Chỉ là nếu hôm nay mua nhiều, dùng cho mấy ngày thì không thể coi toàn bộ tiền mua thành chi phí của riêng hôm nay khi so các ngày.” Bà nhìn anh lâu hơn. “Nói thử bằng một bó củi.” Khang lấy ba hòn sỏi nhỏ đặt lên bàn, giải thích mỗi hòn tượng trưng một phần củi. Hôm nay mua một bó, dùng hết một phần, còn hai phần cho ngày sau. Nếu chỉ nhìn tiền ra hôm nay, có thể tưởng hôm nay lời ít hẳn, còn ngày mai lại lời nhiều, dù thực ra bán gần như nhau. Bà Tôn không phản bác ngay. “Nhưng ngươi làm sao biết mỗi ngày đốt đúng một phần?” “Không biết chính xác. Phải theo dõi, ước lượng. Nếu chưa đo được thì không được ghi như số chắc chắn.” Bà gật đầu, chậm rãi gom ba viên sỏi lại. “Vậy trước hết lo đống củi khỏi ẩm. Không phải sáng nào cũng dư thời gian ngồi đếm sỏi.” Anh cười. “Vâng. Việc ấy quan trọng hơn.” Nhưng anh vẫn thấy vui. Bà không gạt đi chỉ vì ý nghĩ của anh khác cách bà đã quen. Bà hỏi đến chỗ chưa chắc, buộc anh phải nói rõ điều mình biết và không biết. Một cuộc trao đổi như vậy giúp ích hơn nhiều lời khen rằng người từ nơi xa đến hẳn phải thông minh. Sau khi thợ đi và gian bếp được thu dọn sạch, bà Tôn mới lấy mấy đồng tiền đã để riêng đặt vào tay anh. “Ngươi ra chợ lần nữa. Chỉ mua hai, ba con cá nhỏ đủ nấu một nồi thử. Có cá vừa lên bến thì mua. Nếu chỉ còn hàng phơi nắng từ sáng, trở về ngay, không tiếc chuyến đi.” “Vâng.” “Nhớ ghi giá đã trả, không ghi giá người ta rao.” Khang nhận tiền, cất vào túi trong rồi cầm giỏ. Chợ chiều thưa hơn buổi sáng. Những sọt lớn đã rời bến theo xe hàng, chỉ còn vài sạp chờ bán hết mẻ. Trên nền đất còn vương vảy cá và mùi nước tanh nóng hơn lúc trời sớm. Anh đi tới chỗ A Liên từng ngồi. Chiếc rổ đã trống, chỉ còn một vệt nước nhỏ. Người phụ nữ bán cạnh đó nói cô đã về nhà từ giữa buổi vì bán hết phần mang ra. Minh Khang nghe xong thấy nhẹ lòng. Cô không phải giữ cá đến chiều vì một lời hứa mơ hồ với quán. Ở cuối bến, một chiếc thuyền nhỏ vừa cập vào. Người đàn ông mặc áo vải chàm đang đưa lên ba rổ cá, miệng mắng cậu trai phụ vì buộc dây quá lỏng. Cá trong rổ còn động đậy yếu ớt, nước biển nhỏ qua khe tre. Khang đợi chủ thuyền xong việc mới tiến lại. “Đại thúc, có bán lẻ mấy con không?” “Ta còn phải chia phần cho người đi cùng. Ngươi mua mấy?” “Ba con loại này. Nếu tươi như trên mặt rổ.” Người đàn ông nhìn anh, rồi cúi xuống nhặt từng con. “Ba con thì hai văn. Muốn chọn phải đợi ta chia xong.” Khang không mặc cả ngay. Anh chờ người thuyền chia cá, quan sát những con bị xước vảy, những con bụng đã mềm hơn. Khi đến lượt mình, anh chọn ba con gần bằng nhau, đủ nhỏ để nấu thử nhưng không bé đến mức tốn công nhặt xương hơn thịt. Chủ thuyền ngạc nhiên. “Ngươi không lấy mấy con to hơn à? Vẫn hai văn.” “Con to có phần thịt dày hơn, nhưng hôm nay tôi muốn thử một món. Ba con gần giống nhau dễ so hơn.” “Thử món gì?” “Cháo cá.” “Dùng cá nhỏ nấu cháo thì phải biết nhặt xương. Không khéo khách vừa ăn vừa khạc.” Người đàn ông nói rất tự nhiên, không có ý thách thức. Khang gật đầu. “Chính vì thế tôi mới mua ít để thử.” Ông ta bật cười, nhận hai văn rồi đưa cá trong một mảnh lá lớn. Khang không cầm mảnh lá sát vào áo; anh đặt nó gọn vào giỏ, phủ thêm một lớp lá sạch để tránh nắng trên đường về. Anh cũng không nấn ná hỏi chuyện thuyền cá lớn ở cửa biển. Cá tươi đang chờ, mỗi khắc nấn ná chuyện trò đều trừ vào chất lượng nguyên liệu. Khi trở về, bà Tôn hỏi ngay: “Mua được không?” “Ba con. Hai văn. Vừa lên bến. Tôi đã xem mang và thân.” “Còn lại bao nhiêu?” Anh lấy số tiền thừa ra đặt trên bàn. Bà đếm rồi mới cất, sau đó ghi khoản mua lên sổ. Khang nhìn các nét chữ, nhận ra chữ cá, còn chữ văn cạnh con số thì vẫn phải nhờ bà chỉ. “Hôm nay không bán cháo cá,” bà nói. “Đã qua lúc khách đông. Ngươi làm một ít cho hai ta nếm, phần nào chưa được thì đừng đem mời người ngoài.” “Vâng.” Minh Khang mang cá ra góc rửa riêng. Anh đặt một chiếc chậu cho nguyên liệu sống, một chậu khác hứng nước bẩn. Bà Tôn mang ra chiếc dao nhỏ cũ, nói dùng nó để làm cá rồi rửa thật kỹ, không đặt lên bàn thái hành đang sạch. Khang làm theo. Anh đánh vảy nhẹ để thịt không bị nát, mổ bỏ mang và nội tạng, rửa nhanh từng con rồi để ráo trên rá sạch. Khi mở bụng một con, anh phát hiện túi mật nhỏ dễ vỡ, bèn đổi góc dao, tránh làm dịch đắng dây vào thịt. “Ngươi làm chậm quá,” bà Tôn nhận xét. “Vâng. Nhưng hôm nay chưa phải nấu mười bát. Tôi muốn biết loại cá này có nhiều xương dăm không.” Bà đứng cạnh nhìn một lúc, không thúc nữa. Anh dùng hai con nấu phần nước dùng thử, giữ một con để so hương vị thịt khi làm chín riêng. Cá được chần nhanh trong nước vừa sôi rồi đổ nước chần đi vì có mùi tanh mạnh. Đến lượt nồi nước mới, anh cho vào vài lát gừng đập dập, hạ lửa để nước không sôi dữ. Không có rượu nấu ăn hay những dụng cụ quen thuộc, anh dựa vào nước sạch, cá tươi và cách canh nhiệt. Mùi cá bốc lên, hơi khác cá từng nấu ở Sài Gòn. Có một nốt hương của biển và rong, khá dễ chịu lúc đầu nhưng nồng hơn nếu nấu lâu. Anh ghi nhớ điều ấy bằng vị giác, không vội chê nguyên liệu địa phương kém. “Thơm đấy,” bà Tôn nói từ phía cửa. “Thơm lúc này. Để một lát phải xem còn thơm không.” Bà hừ một tiếng. “Ngươi đúng là chẳng để người khác khen yên thân.” Anh cười. “Cháu sợ khen sớm rồi hỏng nồi.” Cháo gạo dùng thử được nấu riêng với một lượng nhỏ từ gạo của quán. Khi hạt vừa nở, anh lọc nước cá qua vải sạch phù hợp, chỉ lấy phần nước trong. Thịt cá được gỡ xương cẩn thận, đặt trên đĩa gỗ. Anh dùng đầu ngón tay rà từng thớ, phát hiện hai chiếc xương mảnh gần phần bụng mà mắt thường khó nhìn thấy. Chính hai chiếc xương ấy làm anh im lặng khá lâu. Ở nhà hàng cũ, nấu cá phục vụ khách luôn có quy trình kiểm soát xương tùy món và đối tượng ăn. Dù người lớn có thể tự nhặt, một bát cháo nóng bán ở bến có khi được mua cho người già hoặc trẻ nhỏ. Anh không thể dùng câu “cá nào chẳng có xương” để miễn trách nhiệm. Bà Tôn nhặt một mảnh xương anh vừa tách, đặt lên lòng bàn tay. “Xương này nhỏ thật.” “Vâng. Nếu muốn bán, chúng ta phải chọn loại dễ gỡ hơn hoặc xử lý kỹ, rồi nói rõ cho người mua.” “Có làm được không?” “Làm được với ít bát. Nếu làm nhiều mà vẫn một người gỡ thế này thì rất lâu.” Bà gật đầu. Khang cho thịt cá đã gỡ vào cháo, chỉ đảo nhẹ, thêm một chút hành và muối. Không dùng nhiều gừng để che hết mùi nguyên liệu. Bát đầu tiên được múc ra cho bà Tôn nếm. Bà nhấc thìa, thổi một lúc rồi ăn. “Khang.” “Dạ?” “Ta hỏi thật. Đây là cháo cá ngon hay không?” Anh đứng thẳng, không cười nữa. “Bà thấy thế nào trước đã.” Bà ăn thêm một thìa. “Thịt mềm, cháo ngọt. Nhưng sau khi nuốt còn một mùi cá hơi mạnh. Khách bến quen ăn cá thì được, người đi đường chưa chắc thích.” Minh Khang gật đầu. Anh nếm bát thứ hai rồi nếm riêng phần nước còn trong nồi. Nhận xét của bà đúng. Gừng làm phần mùi đầu dễ chịu, nhưng hậu vị vẫn hơi nồng do anh dùng cả phần da và nước cá lâu hơn mức hợp lý. “Bà nói đúng. Nếu bán ngay thì không ổn.” “Ta đâu bảo không ổn. Ta bảo có người thích, có người không.” “Vậy phải biết ai thật sự muốn mua trước khi nấu nhiều.” Bà Tôn thở dài. “Ta vốn định bảo ngươi sửa món, ngươi đã tính đến khách nào mua.” “Vì sửa món tốn nguyên liệu của bà.” Bà nhìn anh, rồi bật cười. “Thế mới biết tiền cá hai văn không chỉ là tiền cá.” Họ ăn hết phần thử khi còn nóng. Không bát nào được mang ra bán. Bà Tôn hỏi tổng cộng đã dùng những gì, Khang kể cá, gạo, chút gừng, hành, muối và củi. Bà ghi tiền cá chắc chắn, còn các phần khác đánh dấu bằng ký hiệu riêng vì chưa đo lượng chính xác. “Ngươi nhìn xem,” bà nói. “Nếu chỉ tính hai văn cá rồi bảo bán hai bát là lời, ấy là tính lừa mình.” “Vâng.” “Mai không nhất thiết mua cá. Để xem khách có hỏi nữa không.” Khang hơi thất vọng nhưng không phản đối. Buổi chiều, một người gánh rau từ chợ trở về ghé uống nước, tiện miệng hỏi trong quán có món gì khác cháo trắng. Bà Tôn đáp hôm nay chỉ bán món quen. Người ấy gật đầu, không hỏi thêm, rồi mua một bát cháo gạo. Khang quan sát cả giao dịch. Không thể coi câu hỏi chung chung ấy là bằng chứng khách sẵn sàng trả thêm tiền cho cháo cá. Anh đã nếm món thử và biết nó còn điểm yếu; càng không thể đem sự háo hức của bản thân thay cho ý muốn của người ăn. Đến tối, ông Phùng trở lại lấy chiếc thang bỏ quên, tiện hỏi mái còn nhỏ nước không. Bà Tôn nói trời chưa mưa nên chưa biết. Người thợ nhìn đường ngói một lần nữa, dặn khi mưa có thể quan sát từ dưới, tuyệt đối đừng trèo lên mái ướt. Khang ghi nhớ. Anh chẳng muốn biến chuyện sửa mái thành tai nạn của người khác. Đóng cửa xong, bà Tôn đổ ít nước vào nồi cháo còn bám đáy, ngâm để sáng dễ rửa. Minh Khang lau chiếc dao dùng làm cá, hong khô rồi đặt riêng đúng chỗ. Anh không còn cảm giác háo hức bồn chồn như lúc cầm cá trở về. Thay vào đó là một suy nghĩ khá rõ ràng: phải tìm loại cá thích hợp hơn, hoặc cách xử lý hợp hơn, và phải biết khách nào trả tiền cho sự khác biệt ấy. “Bà chủ,” anh hỏi, “nếu sau này có khách đặt cháo cá trước, tôi có thể đề nghị nấu thử ít phần thôi không?” Bà thổi tắt đèn ở gian ngoài. “Được bàn. Nhưng ngươi phải nói rõ mua bao nhiêu, làm mất bao lâu, bán giá nào. Đừng chỉ bảo là ngon.” “Vâng.” “Còn nếu không có ai đặt?” “Thì vẫn bán cháo trắng.” Bà Tôn gật đầu. “Thế là được.” Khang quay về kho củi. Gió ngoài biển mang theo hơi ẩm, nhưng chiếc thùng hứng nước trong kho vẫn khô. Anh lấy mảnh ván tập chữ, dùng than viết một ký hiệu riêng cho ba con cá. Bên cạnh, anh thêm hai vạch nhỏ để tự nhớ khoản tiền đã trả và mấy chiếc xương cần cẩn thận. Không phải sổ kế toán. Cũng chưa phải công thức. Chỉ là vài dấu mốc của một người bắt đầu học cách nấu ăn ở nơi mình không thuộc về. Ngoài kia, chợ cá ngày mai sẽ lại thay giá. Mái bếp có thể lại gặp mưa. Và quán họ Tôn sẽ phải mở cửa đúng giờ như mọi ngày. Minh Khang cất mảnh ván, thổi tắt đèn. Mùi cá nhỏ buổi chiều còn vương rất nhẹ trên đầu ngón tay đã rửa sạch. Anh không ghét mùi ấy. Nó nhắc anh rằng một bát cháo ngon chưa bao giờ bắt đầu từ việc tự tin mình nấu giỏi; nó bắt đầu từ chuyện biết trong chiếc giỏ vừa mua về thật sự có gì. — Hết chương 12 —
Chương trước Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ