Năm lên sáu, Linh Nhãn bắt đầu được cha dẫn theo lên núi thật sự, không còn chỉ lẽo đẽo theo sau nhìn ngó như những năm trước. Lão Trầm chỉ cho cậu từng gốc măng non nhô lên khỏi lớp lá mục, dạy cách nhận ra tai nấm nào ăn được nhìn mặt dưới có phiến trắng đều, tai nào chỉ cần ngửi qua đã thấy hắc mùi độc phải tránh xa. Ông dắt cậu len qua từng bụi rậm, chỉ tận tay những khóm xuyên khung, cam thảo dại, đương quy mọc lẫn trong cỏ gianh, dặn đi dặn lại thứ nào đem xuống chợ huyện đổi được gạo, thứ nào chỉ để dành trong nhà phòng khi cảm sốt.
Có đôi lần, giữa lúc hai cha con đang lúi húi bới lớp lá khô tìm măng, mắt Linh Nhãn bỗng dưng đổi màu, tròng trắng tròng đen mỗi mắt ẩn hiện thoáng chốc. Ngay sau đó, cậu bé bất giác quay đầu, chân bước thẳng về một lùm cây rậm rạp cách đó không xa, nơi trước giờ cả hai cha con chưa từng để mắt tới, rẽ đám cỏ dại ra thì thấy một khóm thảo dược mọc khuất dưới tán lá, thân mập, rễ to hơn hẳn những cây vẫn hái được ngoài bìa rừng. Lão Trầm nhìn con, khựng lại đôi chút, gập đầu ra vể khen gợi, rồi lặng lẽ cúi xuống đào giúp.
Nhưng cứ mỗi lần như vậy, Linh Nhãn lại đứng thở dốc, ngực phập phồng như vừa chạy một quãng đường dài, trán lấm tấm mồ hôi dù trời không nóng. Cậu ngồi bệt xuống gốc cây gần đó, hai tay chống lên đầu gối, thở hổn hển một lúc lâu mới lấy lại được hơi, mặt tái nhợt đi vài phần. Lão Trầm cho là con đi rừng lâu nên mệt cũng có chút lo lắng, đưa cho con bầu nước, ngồi xuống cạnh chờ, đến khi thấy con thở đều trở lại mới đứng dậy tiếp tục đường đi. Linh Nhãn cũng chẳng biết vì sao mình lại mệt đến vậy, chỉ nhớ mang máng mỗi lần thấy mắt mình như thế, cậu có thể tự dưng nhìn ra được chỗ nào trong đám cỏ rậm có gốc cây đáng hái, khác hẳn với những cơn sốt mê man từ thuở còn ẵm ngửa, đến rồi đi chẳng theo ý cậu bao giờ.
Một buổi sáng lão Trầm gánh đôi sọt không lên núi kiếm nấm, tìm thảo dược như mọi bận, dặn con ở nhà trông bếp, chiều tối sẽ về. Cậu ngồi trước hiên đợi đến khi mặt trời khuất hẳn sau rặng núi, đợi đến khi trăng lên cao quá đầu, bóng cha vẫn chưa thấy đâu.
Sáng hôm sau, mấy người trai tráng trong thôn theo lối mòn lên núi tìm, phát hiện đôi sọt tre vỡ nát văng bên bờ suối, một chiếc dép cỏ rách toạc mắc trên bụi gai, quanh đó in đầy dấu chân thú lớn lún sâu trong đất ẩm. Cả thôn xôn xao, có người quả quyết đã từng nghe tiếng hổ gầm vọng xuống từ phía đó vào mấy đêm trước, không ngờ nó đã mò xuống gần thôn đến vậy. Người ta tìm mãi đến trưa mới thấy phần thi thể còn sót lại của lão Trầm nằm khuất sau một tảng đá, mang về thôn trong tấm chiếu cũ phủ kín.
Linh Nhãn đứng nhìn tấm chiếu ấy được đặt xuống giữa sân, không khóc thành tiếng, chỉ có nước mắt lặng lẽ chảy dài, hai tay nắm chặt lấy vạt áo trước ngực đến trắng bệch cả mấy đầu ngón tay.
Vài người hàng xóm biết chuyện, đến giúp lo đám tang, có bà cụ rơm rớm nước mắt nhìn đứa trẻ sáu tuổi đứng một mình bên nấm mộ mới đắp, thở dài lắc đầu thương cảm. Nhưng thương cảm là một chuyện, cưu mang lại là chuyện khác. Không ai trong thôn ngỏ ý đón cậu về nuôi. Đám tang xong xuôi, người ta lần lượt quay về nhà mình, cánh cửa căn nhà tranh cuối xóm khép lại, chỉ còn Linh Nhãn đứng một mình giữa sân, gió lạnh thổi qua vạt áo tang còn thô ráp mùi vải mới.
Đêm đó cậu nằm co ro trên chiếc giường tre, lần đầu tiên trong đời không nghe thấy tiếng thở đều đều của cha vọng sang từ góc phòng bên cạnh. Căn nhà rộng hơn hẳn mọi khi, im ắng đến mức Linh Nhãn nghe rõ cả tiếng gió luồn qua khe vách.
Sáu tuổi, Linh Nhãn học cách tự nấu một nồi cơm không cháy, học cách vá lại đường chỉ sứt trên tà áo, học cách nằm một mình trong đêm mà không khóc thành tiếng. Không ai bảo cậu phải mạnh mẽ, chỉ là chẳng còn ai khác để cậu có thể dựa vào. Trong nhà đã hết gạo, không ai dạy Linh Nhãn phải làm gì tiếp theo, cậu phải tự mình xoay xở.
Trong góc nhà vẫn còn chiếc giỏ tre cha để lại, sờn cũ, quai đan chắc tay. Cậu nhớ những buổi chiều theo cha lên núi, nhớ cách phân biệt tai nấm nào ăn được, tai nào chỉ cần chạm phải cũng đủ lăn ra sùi bọt mép, nhớ những khóm xuyên khung, đương quy mọc lẩn trong bụi cỏ dại mà đám thầy lang dưới chợ vẫn chịu bỏ tiền ra mua.
Sáng hôm sau, Linh Nhãn xách giỏ ra khỏi nhà, một mình đi về phía cánh rừng dưới chân núi quen thuộc. Buổi đầu cậu vụng về, hái nhầm một ít nấm độc lẫn cỏ dại, về đến chợ bị người ta xua tay không thèm ngó, có kẻ còn bĩu môi bảo đồ của thằng bé mắt quỷ ai dám mua. Linh Nhãn không cãi, chỉ lặng lẽ xách giỏ quay về, tối đến ngồi bên bếp lửa tàn, cố nhớ lại từng lời cha dặn, cố hình dung lại hình dáng chiếc lá, màu sắc thân nấm, mùi hương của từng loại rễ cây. Có bà hàng xóm thấy tội, dù không dám lại gần, cũng lén để lại bên bậc cửa nhà cậu một nắm gạo, một manh áo cũ, không nói một lời rồi vội vã bỏ đi như sợ tà.
Sáng hôm ấy Linh Nhãn quyết định đi lên núi giống như khi đi với cha mới mong có được nấm to và linh thảo tốt. Khi sương vẫn còn giăng mờ trên mái tranh, Linh Nhãn đã gùi chiếc giỏ tre to xụ sau tấm lưng nhỏ bé gầy guộc ra khỏi nhà, bước chân còn ngái ngủ giẫm lên lớp cỏ ướt đẫm sương đêm. Cậu đi ngang qua bờ suối cạnh sơn thôn, mấy người đàn bà đang múc nước thấy bóng cậu vội quay mặt đi chỗ khác, tiếng thì thầm nho nhỏ tắt lịm khi cậu đến gần rồi lại rộ lên khi cậu đã đi khuất.
Ngũ Hành Sơn hiện ra trước mắt, năm ngọn núi xám sừng sững giữa màn sương sớm, đỉnh cao nhất khuất trong mây mù không nhìn rõ ngọn. Linh Nhãn dừng chân một thoáng bên rìa rừng, nhìn về phía những vách đá dựng đứng, tai còn văng vẳng lời bà cụ hàng xóm năm nào dọa đám trẻ con, rằng dưới ngọn núi ấy có một con yêu hầu bị giam cầm, ai bén mảng lại gần ắt bị nó vồ lấy ăn thịt.
Linh Nhãn siết chặt quai giỏ, rẽ sang phía lối mòn quen thuộc dẫn vào cánh rừng thấp, nơi cha vẫn thường dẫn cậu đi hái thuốc, cố tình tránh xa hướng núi cấm. Sương sớm vương trên vai áo, bước chân nhỏ bé cô độc bước lên con đường đất dẫn lên núi. Cậu âm thầm tiến về phía trước để lại sau lưng những bước chân nhỏ bé nằm lọt thỏm trong dấu chân to lớn còn hằn lên mới hôm nào.