Dưới chân Ngũ Hành Sơn có một sơn thôn nhỏ, nhà cửa lợp mái tranh, đường đi lát đá cuội mòn nhẵn bởi bao đời chân trần dẫm lên. Người trong thôn sống nhờ núi rừng, sáng vác cuốc lên nương, chiều gánh củi về, tối thắp đèn dầu ngồi vá áo bên bếp lửa. Đất ở đây cằn, mùa nào thức nấy, được chăng hay chớ, nhưng dân làng vẫn quen với cái khốn khó như quen với hơi thở của chính mình, chẳng than vãn, cũng chẳng mong cầu gì hơn.
Ngũ Hành Sơn sừng sững ngay phía sau thôn, năm ngọn chen nhau chọc lên trời, đá xám phủ rêu xanh, mây trắng vắt ngang lưng chừng như dải khăn tang chưa bao giờ gỡ xuống. Trẻ con trong thôn từ khi biết bò đã được dặn dò không được lai vãng gần đó. Người già kể lại, dưới ngọn núi ấy có một con yêu hầu bị trời phạt, năm trăm năm trước bị đè xuống, đầu đội đá, thân bị đè chôn dưới núi, mắt lúc nào cũng trợn trừng nhìn lên trời xanh, một cánh tay thò bên ra bên ngoài được thì không ngừng cào xé mặt đất mà không cách nào cựa quậy được thân mình. Lại có kẻ bảo khi đi qua từng nghe tiếng gầm rú vọng ra từ khe núi vào những đêm trăng mờ, có kẻ khác lại quả quyết nhìn thấy một đôi mắt vàng rực lóe lên trong hốc đá rồi tắt ngấm. Không ai dám lại gần để kiểm chứng, chuyện cứ thế truyền từ miệng người này sang tai người khác, từ đời trước sang đời sau, mỗi lần kể lại thêm dăm phần kiêng dè, rùng rợn. Các bà mẹ trong thôn hễ con nít khóc nhè không chịu ăn, chỉ cần dọa một câu "còn khóc nữa yêu hầu dưới núi bò ra bắt đi" là im bặt.
Vợ chồng lão Trầm cưới nhau đã hơn ba mươi năm mà mãi không có mụn con nào. Người trong thôn nhìn hai vợ chồng già lủi thủi ra vào căn nhà tranh cuối xóm, kẻ thương thì thở dài, kẻ ác miệng thì rỉ tai nhau đó là cái số, kiếp trước ăn ở thất đức nên kiếp này tuyệt tự. Đến năm người vợ đã gần sáu mươi, bụng bỗng dưng lớn dần, cả thôn xôn xao không tin nổi vào mắt mình. Có bà lang già bắt mạch xong lắc đầu chẳng dám nói chắc điều gì, chỉ dặn lão Trầm chuẩn bị tinh thần, thai kỳ này e là không giống người thường.
Quả nhiên chín tháng trôi qua, rồi mười tháng, rồi mười hai tháng, bụng người mẹ vẫn không có dấu hiệu chuyển dạ. Lão Trầm ngày ngày quỳ trước bàn thờ tổ tiên, hương khói không dứt, miệng lẩm bẩm cầu xin trời cao thương xót.
Đến đêm thứ ba trăm sáu mươi, trời bỗng nổi cơn giông dữ dội chưa từng thấy, sấm rền chớp giật, mưa quất ngang trời như roi vọt, một tia chớp xé toạc màn đêm ngay trên nóc Ngũ Hành Sơn sáng lòa cả một góc trời. Ngay giữa tiếng sấm ấy, đứa trẻ chào đời. Người mẹ ôm được con một lần đầu cũng là lần cuối, một hơi thở cuối cùng phả ra hơi ấm cuối cùng lên gò má nhăn nheo, rồi nhắm mắt xuôi tay, trên môi bà vẫn đọng lại nụ cười nhẹ nhõm.
Lão Trầm bồng con trong tay, ngoài trời mưa bão, sấm sét vẫn chưa dứt, trong nhà chỉ còn tiếng khóc oe oe của đứa bé hòa lẫn tiếng nấc nghẹn của người chồng vừa mất vợ vừa được con.
Người trong sơn thôn nghe tin, kẻ đến chia buồn, kẻ đến dòm ngó, nhưng câu chuyện truyền đi nhanh nhất không phải là cái chết của người mẹ, mà là lời đồn đứa trẻ sinh ra đã khắc mẹ. Có bà cụ chép miệng bảo mười hai tháng mới sinh chẳng phải điềm lành, có ông lão góp thêm rằng sấm sét đêm ấy đánh trúng đỉnh Ngũ Hành Sơn, biết đâu con yêu hầu dưới núi lộng hành. Những lời ấy chưa kịp lắng xuống thì một chuyện khác lại nổi lên, còn kỳ dị hơn.
Linh Nhãn lớn lên chậm rãi như bao đứa trẻ khác trong thôn, biết lẫy, biết bò, biết đòi bú, biết khóc ré lên giữa đêm khi mọc răng. Chỉ có một điều khác thường ở đôi mắt cậu bé.
Bình thường đôi mắt ấy đen láy như bao mắt trẻ con trong thôn. Nhưng cứ dăm bữa nửa tháng, không ai đoán trước được lúc nào, tròng mắt bên trái bỗng dưng chuyển sang một màu trắng đục kỳ lạ, còn tròng bên phải chuyển thành đen thẳm sâu hun hút, tạo thành một cặp mắt âm dương kỳ dị. Nhưng cũng rất nhanh nó lại lập tức trở lại đôi mắt trẻ con thông thường. Lần đầu tiên một bà hàng xóm sang mượn lửa nhìn thấy cảnh ấy, bà hét lên một tiếng rồi ba chân bốn cẳng chạy về nhà, đóng sập cửa lại, tối hôm đó không dám bước ra ngoài. Chuyện lan đi khắp thôn chỉ trong một ngày.
Từ đó, người ta bắt đầu gọi cậu bé là "thằng bé mắt quỷ". Có kẻ tin rằng cậu là hiện thân của điềm gở đêm giông bão, có kẻ thì thầm cậu báo hiệu tại họa sắp đến, có kẻ lại bảo chính con yêu hầu dưới núi đã nhìn trúng đứa bé này nên đã nhập hồn vào nó. Không ai dám khẳng định điều gì, nhưng tất cả đều đồng lòng ở một điểm, tránh xa nhà lão Trầm ra. Cái tên "Linh Nhãn" cũng là do ông thầy dạy chữ trong sơn thôn đặt cho nó từ dạo đó.
Lão Trầm để ý một điều mà không dám nói ra cùng ai. Mỗi lần đôi mắt con đổi màu, y như rằng khoảng một canh giờ sau Linh Nhãn lại lên cơn sốt, người nóng ran, chân tay rệu rã, môi khô nứt, nằm mê man cả ngày lẫn đêm, phải đắp khăn ướt lên trán liên tục mới chịu hạ. Có bận sốt cao đến mức cậu bé lảm nhảm những câu không đầu không cuối, tay chân co giật nhẹ, lão Trầm ngồi bên giường suốt đêm, tay nắm lấy tay con, ngoài trời gió rít qua khe cửa. Ba bốn hôm sau cơn sốt mới dứt, Linh Nhãn tỉnh dậy, đói bụng đòi ăn như chưa từng có chuyện gì, còn đôi mắt đã trở lại đen láy tự bao giờ.
Trẻ con trong thôn, theo lời cấm đoán của cha mẹ, không được phép chơi cùng Linh Nhãn. Nhưng lạ một nỗi, mấy đứa nhỏ thì vẫn luôn tò mò và chưa đủ khôn để sợ hãi và chúng lại chẳng buông tha cậu bao giờ. Cứ hễ có dịp trốn khỏi mắt người lớn, chúng lại tìm cớ lởn vởn quanh sân nhà lão Trầm, đứa thì giả bộ đuổi gà lạc sang, đứa thì giả vờ bắt bướm bay vào vườn nhà lão Trầm. Lũ trẻ con thường tranh thủ tíu tít ngồi quanh Linh Nhãn một lúc, chẳng đứa nào giải thích được vì sao chúng muốn thế, chỉ là mỗi khi bên cạnh Linh nhãn lại thấy trong người dễ chịu lạ mát lành, cơn bực dọc vì bị cha mẹ la mắng tối qua cũng tan biến đâu mất. Có đứa còn ngủ gật ngay bên bậc thêm nhà, khi giật mình tỉnh dậy thì mặt trời đã lên đỉnh đầu. Bị mẹ kéo tai về đánh cho một trận, hôm sau chúng vẫn mò tới. Dần dà Linh Nhãn quen với việc đứng một mình ở góc sân nhìn đám trẻ nô đùa ngoài kia, quen với những ánh mắt né tránh của người lớn mỗi khi cậu đi ngang qua giếng làng, nhưng cũng quen với việc thỉnh thoảng có dăm ba đứa trẻ lấm lem chạy ùa vào sân, gọi tên cậu ơi ới.
Ngoài đôi mắt kỳ lạ ấy, Linh Nhãn chẳng có gì khác thường. Cậu vẫn đói bụng réo lên khi đến giờ cơm, vẫn khóc nhè khi vấp ngã trầy đầu gối, vẫn cười khanh khách khi cha bắt được con dế mèn to đem về cho chơi. Chỉ là chẳng ai trong thôn chịu nhìn thấy điều đó. Họ chỉ nhìn thấy đôi mắt quái dị đó.
Có một chuyện khiến vài người trong thôn lấy làm khó hiểu, dù chẳng ai dám bàn tán to tiếng. Trước kia lão Trầm vốn lọm khọm, lưng còng, ho hắng suốt bốn mùa, ai cũng nghĩ ông chẳng trụ được thêm bao lâu. Vậy mà từ ngày bồng đứa con đỏ hỏn ấy về, lưng ông thẳng ra dần, tiếng ho thưa đi, có hôm còn vác nổi bó củi nặng trên vai đi một mạch từ núi về nhà không cần nghỉ chân giữa đường, sức vóc chẳng thua gì đám trai tráng trong thôn. Bà lang già gặp ông ngoài chợ, bắt mạch chơi cho vui, lắc đầu bảo không hiểu sao mạch một người ngoài sáu mươi lại đập khỏe như vậy. Lão Trầm chỉ cười xòa, gạt đi, chưa từng đem chuyện ấy nói lại với ai, sức khỏe của mình lão hiểu hơn ai hết.
Lão Trầm là người duy nhất chưa từng một lần xa lánh con mình. Ông không cãi lại những lời đồn, cũng chẳng thanh minh với ai. Mỗi khi có kẻ buông lời cạnh khóe ngay trước mặt, ông chỉ lặng lẽ bế con quay về, đóng cửa lại, ngồi xuống bên bếp lửa nhóm cơm chiều. Có một lần, một gã trai trong thôn say rượu đứng giữa sân nhà chửi vọng vào, bảo nhà này nuôi yêu tinh, sớm muộn gì cả thôn cũng gặp họa. Lão Trầm bước ra, không nói một lời, chỉ đứng chắn trước cửa nhà, hai tay buông thõng, ánh mắt nhìn thẳng vào gã kia cho đến khi hắn tự thấy chột dạ mà bỏ đi. Đêm đó, Linh Nhãn nép trong lòng cha, cảm nhận được nhịp tim ông đập nhanh hơn thường lệ qua lớp áo vải thô, nhưng bàn tay ông vuốt tóc cậu vẫn nhẹ nhàng như mọi khi.
"Cha ơi, con có phải yêu quái không?" có lần Linh Nhãn hỏi, giọng non nớt, mắt tròn xoe nhìn cha.
Lão Trầm xoa đầu con, cười, những nếp nhăn trên khuôn mặt sạm nắng giãn ra. "Con là con của cha," ông nói, "chỉ vậy thôi."
Linh Nhãn không hiểu hết ý cha, nhưng cậu ôm chặt lấy ông, vùi mặt vào ngực áo sờn cũ, thấy lòng yên ổn lạ thường. Mỗi tối, lão Trầm dạy cậu nhận mặt các loại nấm ăn được và nấm độc, chỉ cho cậu những gốc cây thuốc mọc quanh bìa rừng, dặn cậu cách nghe tiếng chim để đoán trời sắp mưa hay nắng. Căn nhà tranh nhỏ xíu ấy, dù nghèo, dù bị cả thôn ghẻ lạnh, vẫn là nơi duy nhất Linh Nhãn được là một đứa trẻ bình thường.