Hoa Sơn tuyệt cảnh phải gọi là,
Quân tử biện hùng ý riêng ta
Cố nhân thoảng lướt khơi lòng mộng
Duyên tình muôn ý gần như xa.
Ân Chu đến ở nhà Hoàng Bá đến nay thấm thoắt cũng gần được một tháng. Lúc đầu chỉ dự định ở vài ba hôm nhưng Ân Chu nhận ra thực lực của mình vẫn chưa đảm bảo đủ để dấn thân vào những sự kiện sắp tới. Lại nói Hoàng Bá quá nhiệt tình, cứ một mực giữ lại Ân Chu không cho ông rời đi. Thực ra cũng là có nguyên do cả. Từ hôm quen biết đến nay, Ân Chu không muốn mang tiếng mặt dày ở nhờ nhà người ta lâu như vậy nên thi thoảng cũng dùng sự thông minh nhạy bén của mình mà chỉ điểm cho Hoàng Bá trong một số thương vụ làm ăn lớn. Kết quả Tiêu cục của y trúng đậm lời to nên lý nào Hoàng Bá lại có thể Ân Chu rời đi.
Thái Uẩn Sơn cũng rất nhiệt tình, nguyện lòng tiến cử một số thân cận có thực lực cho Hoàng Bá Tiêu Cục khiến cho danh thế và quy mô của nơi này càng ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên nhân vật này dường như cũng rất khó đoán, Hoàng Bá đã nhiều lầu cố tình tìm đến nơi ở của y ở Sơn Thủy Huyện nhưng vì nhiều lý do luôn bị cắt đuôi.
Hôm nay cũng vừa tròn ba mươi ngày tá túc tại huyện thành này. Ân Chu không hề xao nhãng việc tu luyện tâm pháp, vì vậy mỗi ngày đều có những thành tựu vượt bậc. Lão bà bà kia hết sức ngạc nhiên vì những gì Ân Chu đã cho bà ta thấy, dù không muốn thừa nhận nhưng đã vượt xa sự hiểu biết của bà ta. Thái Uẩn Sơn mang tiếng học lỏm bất quá cũng không khác biệt đều rất tài năng, đem tâm pháp tiếp thu rất nhanh.
Tuy nhiên, dù là đạt được một số thành tựu nhất định nhưng lượng Âm Hàn chân khí này vẫn chưa thể nào lấn át được Chí Dương chân Hỏa trong người Ân Chu. Ông chỉ có thể điều động nội lực trong một quản thời gian nhất định bởi nếu cố đấm ăn xôi sẽ gặp ngay sự phản phệ nội công, có thể gây ra nội thương nghiêm trọng.
Ân Chu đang ngồi nhập định tại khoảng sân nhỏ của tứ hợp viện này, mỗi ngày ông đều cố gắng tìm ra phương pháp kéo dài thêm thời gian sử dụng nội lực. Một tháng qua nhờ vào tin tức khai thác được từ Hoàng Bá mà ông biết được thế cuộc trên võ lâm đang loạn hơn bao giờ hết. Đặc biệt hướng Tà Phái, càng ngày càng có nhiều người bất mãn với quyết định của Lý Thành Dụ. Chúng kéo bè kéo phái, liên tục nổi loạn đòi thiết lập lại trật tự mới cho Tà Phái. Đao Tôn không thể dùng bạo lực để giải quyết triệt để vấn đề này nên vô cùng đau đầu, khổ sở.
Chính vì vậy, thời gian là thứ vô cùng xa xỉ, phải nhanh chóng quay lại bình định mọi thứ. Vốn dĩ Ân Chu không muốn dính dáng vào mớ hỗn độn kia nhưng trên tay đã trót đeo Thiên Minh Đạo nhẫn rồi, trước khi trao nó lại cho ai cũng phải làm ra những chuyện cho thỏa đáng. Không cần nói cũng biết được, tương lại nếu mọi việc cứ tiếp diễn như tình trạng hiện tại, thế gian sẽ rơi vào một trận gió tanh mưa máu là không thể tránh khỏi. Phải hành động trước khi mọi thứ trở nên quá muộn.
Khẽ thở dài một cái, Ân Chu thầm nghĩ: “Tâm pháp của Lão bà vốn dĩ là một phần của Thái Cực Cửu Âm Băng Tâm Kinh, là một trong những tâm pháp của Thái Cực Tâm Pháp nhưng quái lạ thật, trên Thiên Tử Trì Phiến không hề có ghi chép nào cả, và tại sao Lão bà bà lại biết? Hai phần còn lại của tâm pháp nằm ở đâu? Khốn thật khốn thật! Thái Cực Lão Nhân ơi là Thái Cực Lão Nhân, người có cần phải làm ra chuyện khó khăn như thế này cho thế hệ sau hay không chứ !”
Than vãn một hồi, thần trí Ân Chu lại đắm chìm vào hư cảnh với trăm từ ngữ yếu quyết chạy dọc chạy ngang, miệng Ân Chu cũng vô thức lầm bầm ra thành tiếng:
“Âm Hàn trong Thái Cực, một quan điểm sâu sắc về sự cân bằng và hòa hợp giữa thiên địa. Âm hàn không chỉ đơn thuần là một khái niệm về yếu tố âm, mà còn là một phần thiết yếu của tổng thể Thái Cực, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng và hài hòa.
Âm hàn, đại diện cho sự tĩnh lặng, lạnh lẽo và sự ngưng trệ, tương ứng với những yếu tố như sự lắng đọng, sự nghỉ ngơi và sự hồi phục. Trong triết lý Thái Cực, âm hàn không phải là sự thiếu hụt mà là một phần thiết yếu của quá trình liên tục chuyển động và biến đổi. Đó là những thời điểm khi dương khí, Cực Dương Chí Hỏa tương ứng với sự vận động, nhiệt độ và năng lượng, cần được cân bằng bởi sự yên tĩnh và điều hòa của âm hàn.
Âm Hàn giúp duy trì sự ổn định và cung cấp nền tảng cho sự phát triển của dương khí. Nó là thời điểm của sự chiêm nghiệm, của sự chuẩn bị và của việc thu thập sức mạnh để khi thời điểm thích hợp đến, dương khí hay Cực Dương Chí Hỏa có thể bùng phát một cách mạnh mẽ và hiệu quả. Cốt yếu của Thái Cực chính là sự cân bằng, hài hòa giữa âm và dương, giữa động và tĩnh, giữa nhiệt và lạnh, để hướng tới trạng thái phân cực quy nguyên…”
Ân Chu liên tục lặp lại trong một quãng thời gian dài. Mỗi lời nói ra, mồ hôi trên gương mặt phúc hậu của Ân Chu lại tăng thêm một tầng. Dường như kia không phải chỉ là cố gắng học thuộc yếu quyết nào đó mà thực sự là Ân Chu đang dùng chính khí huyết, chân khí của mình để khai mở sự huyền dịu trong tâm pháp. Đột nhiên từ khóe miệng Ân Chu một dòng máu đỏ tươi chảy dài xuống, thần thức vẫn nhập định không hề hay biết, những luồng khí lực bất ổn cứ liên tục khuấy đảo không gian.
Bất ngờ giọng của Lão bà bà vang lên bên cạnh mới có thể kéo Ân Chu tỉnh lại:
“Tống tiểu tử ngươi đang tự sát phải không ?”
Thực sự giọng nói của Lão bà bà chứa đựng nội lực hùng hậu dụng ý nhằm đánh thức Ân Chu vì chỉ cần liếc sơ qua trạng thái của ông, bà ta biết sẽ không thể đánh thức Ân Chu nếu chỉ kêu gọi bình thường.
Ân Chu từ từ mở mắt, thở ra một hơi thở nặng nhọc, nhìn qua cũng thấy ông bị rút kiệt sức như thế nào. Đảo qua một vòng, Ân Chu ngạc nhiên khi thấy mọi người đang tụ tập ở đây, Thái Uẩn Sơn, Hoàng Bá, Thanh Hương và Tiêu Sát - người hậu cận của Thái Uẩn Sơn. Tiêu Sát này sau khi Thái Uẩn Sơn quyết định lưu ngụ ở đây một thời gian thì cũng xuất hiện, lúc nào cũng kè kè bên cạnh ông ta. Gã mang một thân hình vừa vặn, ẩn sau lớp y phục tối màu, gương mặt vô cùng lạnh lùng nhưng tiêu sái. Ánh mắt trầm đục, và rất kiệm lời nhưng chắc chắn gã là một thân võ công phi phàm. Cả tháng qua chẳng mấy khi thấy gã nói chuyện với ai, bất quá sự hiện diện của gã cũng chẳng phải là vấn đề gì to tát.
Họ cũng đem ánh mắt hoang mang đặt lên Ân Chu, có thể họ đã chứng kiến một màn vừa rồi nên đâm ra rối bời.
Lão bà bà lại nói tiếp:
“Ngươi đang làm gì vậy Tống tiểu tử, không lẽ tính luyện công đến tẩu hỏa nhập ma hay sao?”
Ân Chu đứng dậy, đầu óc còn chút choáng váng, cười trừ đáp:
“Chỉ là cố gắng khai mở huyền cơ của bộ tâm pháp này… Không ngờ nó còn kinh khủng hơn cả ta nghĩ.”
Lão bà bà chép miệng nói:
“Ta luyện tâm pháp đó cũng gọi là cả đời nhưng chưa bao giờ nghe đến những gì ngươi vừa lẩm bẩm. Ngươi rút cuộc làm sao mà có thể am hiểu bộ tâm pháp này như vậy chứ?”
Ân Chu hiển nhiên là không thể khai thật danh tánh của mình, vội khoát tay đánh trống lảng:
“Mà tại sao mọi người đều đến đây?”
Thanh Hương cười tươi, bước đến bên cạnh, lấy khăn tay ân cần lau đi vệt máu trên miệng Ân Chu, cất giọng ngọt ngào nói:
“Lão gia quên rồi sao, hôm nay chúng ta có hẹn đi chơi. Hoàng Bá đại nhân đã hứa sẽ đưa mọi người đến Hoa Sơn Đỉnh, một nơi được xem là danh bất hư truyền của nơi này!”
Ân Chu “A” lên một tiếng, quả thực là có chuyện này, mau chóng đem giọng phấn khởi cất lên:
“Ây ya… Ta thế mà lại quên mất đi. Đáng trách quá, đã để mọi người phải đợi. Chúng ta liền xuất phát nào !”
Thái Uẩn Sơn nhìn ông ái ngại nói:
“Đại nhân vừa mới thổ huyết, không biết sức khỏe như thế nào rồi? Nếu không tiện chúng ta có thể dời sang hôm khác.”
Hoàng Bá cũng gật gù chen vào:
“Phải đấy, phải đấy. Nếu ngài cảm thấy không khỏe có thể hoãn lại cũng được. Mọi người đều vui vẻ.”
Ân Chu bật cười nói:
“Không hề gì. Ta đang rất ổn, có thể tỷ thí với Uẩn Sơn đây trăm hiệp còn được!”
Lão bà bà chợt quay bước bỏ đi, nói lớn:
“Mặc kệ hắn đi, hắn nói khỏe thì là khỏe… ta ở đây cũng hơi buồn chán rồi!”
Vậy là không còn ai phản đối gì nữa, mọi người hào hứng bắt đầu cuộc hành trình. Địa điểm cách Sơn Thủy huyện thành tầm dưới nửa ngày đi đường. Vì Ân Chu muốn được chiêm ngưỡng cảnh sắc nên một mực đòi đi ngựa, không muốn ngồi trong xe. Hoa Sơn là một ngọn núi nổi danh lâu nay bởi cảnh sắc tựa nơi bồng lai tiên cảnh chốn trần gian. Từ “Hoa” đã nói lên đặc điểm của địa phương với muôn vàn loài hoa lạ thay nhau khoe sắc, bốn mùa rực rỡ không lúc nào vơi đi.
Càng vào sâu trong sơn địa, cảnh sắc càng khiến người ta cảm thấy ghen tỵ với một vẻ đẹp trời đất đã ban cho nơi này. Ánh mắt Ân Chu long lanh tựa hồ một đứa bé năm tuổi, say mê với những gì mới mẽ đang hiển lộ trước mắt, không kìm được lòng mà thốt lên một vài câu thơ:
“Hoa Sơn thiên đỉnh tiếp trời xanh,
Cảnh rừng sắc biếc, mây buông mành.
Hoa thơm trăm vẻ, hay chăng họa?
Thông reo gió hát, bản hòa thanh?
Sương đêm ngập lối mờ thân ảnh,
Đường xưa uốn khúc, nẻo quanh quanh.
Khách lữ ngẩn ngơ, lòng thi vị,
Non nước sơn hà thực trứ danh.
Hoàng Bá nghe thấy thì vội cất lời tán thưởng không ngớt:
“Ta nói Hoàng Ân lão gia thực sự là một nhân tài hiếm gặp văn võ xong toàn. Chỉ mới vậy thôi đã có thể làm nên một bài thơ hay !”
Thái Uẩn Sơn cũng cười vui vẻ, bộ dáng thong thả đệm thêm vào:
“Người đời sáng suốt đua lợi danh,
Thân ta ngu muội kiếm chữ lành”
Hoàng Bá lại cười lớn, gương mặt biểu lộ một chút ngại ngùng nói:
“Thái Uẩn Sơn đại nhân lại làm ta thêm xấu hổ rồi. Đi cạnh hai vị thực tình tôi cảm thấy mình thua kém quá đi.”
Ân Chu khoát tay cười tươi nói:
“Hoàng Bá cả tháng nay cứ đem mấy lời này nói đi nói lại hoài mà chưa biết chán hay sao? Ta đã nói rồi, mỗi người sinh ra đều có một số phận khác nhau, không có ai sẽ hơn ai và không có ai sẽ thua thiệt ai cả. Quan trọng là phải biết cách sống sao với hiện tại mà thôi. Hạnh phúc không đến từ việc so đo với thế gian mà đơn giản chỉ là hiểu được bản thân mình mong cầu những gì…”
Hoàng Bá cười khổ toang lên tiếng thì Thái Uẩn Sơn đã chậm rãi cướp lời:
“Hoàng Ân nói cũng có cái lí nhưng… thiên hạ này vốn đã bất công sẵn rồi, làm sao người ta có thể cam lòng với số phận chứ. Thay vì chọn cách sống với hiện tại sao không thử thay đổi cho tương lai. Như vậy há chẳng phải muôn phần tốt hơn hay sao ?!”
Ân Chu nhìn ra xa xa, mỉm cười ý vị từ tốn đáp lời:
“Phù sinh nhược mộng, chỉ nguyện an nhiên nhất ngạn. Người nói thực không sai… Các người nhìn xem xung quanh, như cỏ cây ở giữa đồng, dù là hoa dại hay cổ thụ, đều có giá trị riêng của mình. Mỗi bước ở đây ta đều trân quý, đều hạnh phúc vì đó là bước đi của số phận. Hòa nhập tự nhiên không cần phải tranh đua hay ganh ghét với đời, đó chính là bình yên…”
Ân Chu dứt lời vô tình để lại một khoảng lặng gượng gạo giữa mọi người. Họ cứ thế mà tiếp tục tiến về phía trước với những suy nghĩ rối ren đan xen trong đầu. Đôi mắt Ân Chu lơ đãng ngắm nhìn những tán lá xanh mướt, những cánh chim lười nhác thoáng qua giữa không trung, lòng ông như hòa cùng nhịp thở của đất trời. Ông cảm nhận sự bình yên lặng lẽ thấm vào từng nhịp tim, như muốn nhắc nhở mình về sự tĩnh tại và an nhiên. Với ông, mỗi bước đi trên con đường này giống như đang dung hòa với số phận, không cần phải muộn phiền với vòng xoáy điên cuồng của thế gian.
Uẩn Sơn, trái lại, ánh mắt trở nên đôi chút trầm đục xa xăm, phản phất một ý chí mạnh mẽ. Ông ta không sai khác vẫn cảm nhận được sự hùng vĩ của núi rừng, nhưng trong lòng lại dậy lên những suy nghĩ đối nghịch. Cảnh sắc xung quanh chỉ khiến chính ông ta cảm thấy mình nhỏ bé, như bị nuốt chửng bởi sự vĩ đại của thiên nhiên. Trong lòng Uẩn Sơn, cảnh vật đẹp đẽ này không thể nào thay đổi được định kiến và khao khát. Là khát khao chinh phục, vượt lên sự hùng vĩ đó để trở nên cường đại hơn nữa.
Ân Chu dừng chân dưới gốc một cây cổ thụ, quay sang nhìn Uẩn Sơn đang đứng trước một triền núi cao. Ông nhẹ nhàng nói, giọng trầm ấm nhưng thấm đượm sự thấu hiểu:
"Núi cao hay vực sâu, thay đổi hay chấp nhận đến cuối cùng cũng chỉ là một chấp niệm hay sao?"
Uẩn Sơn đứng lặng nhìn ra xa, nơi trời và đất hòa quyện vào nhau, lòng ông dường như chẳng hề vô tư như cái cách Ân Chu nhìn ra thiên hạ. Ông ta không thể chấp nhận sự bình yên mà Ân Chu đang nói đến. Đôi mắt đột nhiên ánh lên vẻ cương quyết, như muốn xuyên thủng cả lớp sương mù đang bao phủ dãy núi trước mặt.
Mang theo một nỗi niềm khó tả, Uẩn Sơn trầm giọng lên tiếng:
“Đúng là mỗi người có một con đường riêng, nhưng nếu chỉ chấp nhận và không cố gắng vươn lên, thì liệu đó có phải là sống thực sự? Con người không phải cây cỏ, chúng ta có khả năng thay đổi số phận. Nếu không đấu tranh để dành lấy những gì mình xứng đáng, thì chỉ có thể mãi bị kẹt trong cái vòng luẩn quẩn của sự thất bại và tiếc nuối."
Cảm xúc của Ân Chu không hề dao động, ông vẫn giữ giọng điềm tĩnh, đôi mắt tràn đầy sự nhân từ nhìn Uẩn Sơn ý vị đáp lời:
"Nhưng nếu cứ mãi chạy theo những thứ không thuộc về mình, liệu có khi nào chúng ta đánh mất đi chính mình? Cuộc sống không phải lúc nào cũng như ý muốn, đúng là con người cần phải vươn lên nhưng cũng phải cần làm sao không để sau này một đời ôm hận tiếc nuối…”
Thái Uẩn Sơn quay lại đối diện với Ân Chu, trong đôi mắt ánh lên tia nhìn cứng rắn, phức tạp nói:
"Chấp nhận hiện tại không có nghĩa là buông xuôi. Ta không nói rằng chúng ta phải tranh đấu một cách mù quáng, nhưng nếu không có tham vọng, không có sự thay đổi, thì làm sao chúng ta có thể hùng mạnh hơn? Cuộc đời là một cuộc chiến, và chỉ những ai dám đối mặt với thách thức mới có thể đạt được những gì họ xứng đáng."
Ân Chu nhẹ nhàng thở dài, đôi mắt ông trở nên trầm tĩnh, thông suốt, như nhìn thấu qua từng lớp mây đang che phủ đỉnh núi. Ông biết Uẩn Sơn có lí lẽ của mình và ông cũng có lí lẽ của ông. Chèn ép nhau để chấp nhận đạo lí của nhau không phải là chuyện nên làm:
"Có thể, ý nghĩa thực sự của cuộc đời không phải nằm ở việc ta đạt được bao nhiêu…” ông đột nhiên dừng lại một nhịp, ánh nhìn xoáy thẳng trực tiếp vào đôi mắt của Uẩn Sơn, rồi tiếp lời: “…Đến cuối cùng… là để làm gì ?”
Uẩn Sơn im lặng một lúc lâu, thả tâm tư vào cảnh núi rừng bao la trước mặt. Ông ta biết những lời Ân Chu nói không phải không có lý, nhưng trong lòng vẫn còn một sự thôi thúc không thể dập tắt:
“Để làm gì?… Xưa nay, bao kẻ hèn khó vẫn luôn muốn thay đổi. Một số kẻ thành công, một số kẻ khác lạc lối đơn giản vì họ chưa tìm ra được một sự dẫn sắt hợp lí. Chẳng phải những kẻ đó cần một người đứng ra tạo nên sự thay đổi cho chúng hay sao ?”
Ân Chu khẽ bắt lấy một chiếc lá rơi, xoay xoay nhè nhẹ trong tay, giọng điệu đầy ưu tư cất lên:
"Nhìn xem chiếc lá này, khi còn trên cành, nó chẳng màng tới việc phải trở nên rực rỡ hay mạnh mẽ hơn. Khi đến thời điểm, nó rời cành một cách tự nhiên, không luyến tiếc, không kháng cự. Đó chính là sự hòa hợp với vòng quay của tạo hóa. Đối với ta, cuộc đời cũng như chiếc lá này, không cố gắng nắm giữ những gì vốn không thuộc về mình, mà chỉ cần sống thật với hiện tại, thế là đủ. Tùy duyên tự tại, bất luyến bất câu."
Thái Uẩn Sơn nhìn chiếc lá trên tay Ân Chu, ánh mắt một thoáng vô cảm, lạnh lẽo ẩn chứa một nỗi niềm sâu sắc tự trong đáy lòng:
"Chiếc lá rơi vì nó không còn sức bám víu vào cành, vì nó không còn lựa chọn nào khác. Nhưng con người thì khác, chúng ta có suy nghĩ, có sức mạnh, có tham vọng để thay đổi số phận. Ta không thể chấp nhận bị cuốn theo vòng quay của tạo hóa mà không làm gì để thay đổi. Cuộc đời không phải là sự chấp nhận, mà là sự chiến đấu, hay thậm chí là chinh phục..."
Ân Chu chậm rãi bước đến bên cạnh Thái Uẩn Sơn, phóng tầm mắt ra cảnh Hoa Sơn trùng điệp hùng vĩ, chậm rãi nói:
“Bởi vậy, ta mới mạo muội nói rằng: Thiên hạ cần ta, ta sẽ không phụ. Thiên hạ phụ ta, ta cũng không oán. Quan trọng trong cái bể dâu ấy, tư tưởng của kẻ tạo nên sự thay đổi đem lại hệ quả gì cho thiên hạ mà thôi…”
Thái Uẩn Sơn liếc nhìn Ân Chu một cái rồi đem tông giọng nặng tựa ngàn cân đáp:
“Hoàng Ân quả thực là một người có tấm lòng bao dung. Đối với ta đơn giản mà nói Thiên hạ phụ ta, ta đoạt lấy thiên hạ.”
Hai người bỗng rơi vào im lặng suy tư, cùng nhau hướng ánh mắt ra quang cảnh đẹp hùng tráng trước mặt. Mây mù che đỉnh núi, hoa muôn sắc một dải bất tận, gió đưa hương thoang thoảng khắp vùng. Họ chẳng hề hay biết rằng khi cả hai bắt đầu đoạn đối thoại bày tỏ những suy nghĩ đạo lý khác nhau về nhân sinh, thì cơ thể họ thoát ra những luồng khí cực bạo liệt. Một bên nồng ấm nhu hòa, một bên lạnh lẽo cương quyết. Tất cả những thứ ấy đều thu vào ánh mắt của Lão bà bà. Bà ta chỉ có thể trưng ra một gương mặt kinh ngạc tột cùng mà chẳng thể nào cất lời chen vào bởi khí thái kia của họ thực sự chèn ép mọi thứ xung quanh. Khí chất của những con người sẽ quyết định vận mệnh của thiên hạ.
Hình ảnh của hai người đàn ông kia bất chợt gợi lên một sự quen thuộc lạ lùng đối với Lão bà bà, một cảm giác bà ta đã từng có, đã từng nhìn thấy. Nhưng dù cố gắng thế nào bà cũng không thể nhớ được ra họ là ai. Lúc này cả hai dường như đã dừng đoạn hội thoại khiến cho khí lực cũng dần thuyên giảm và biến mất. Lão bà bà thở dài một cái lên tiếng, phá vỡ bầu không khí kì lạ ấy:
“Lũ ngốc các người có phải bị bệnh hết rồi, nói năng bậy bạ gì đó không ai hiểu được. Có muốn đi chơi tiếp hay không hả ?”
Cả hai giật mình, chợt nhận ra họ đã quá để tâm vào lý tưởng của đối phương mà quên đi những người xung quanh. Hai người đồng thời trưng ra một nụ cười gượng, Ân Chu đáp:
“Thật là xin lỗi, chẳng qua cảm thấy Uẩn Sơn đại nhân và ta có một số thứ cùng nhau đàm đạo lại rất hay…Đi tiếp, thưởng cảnh tiếp nào !”
Uẩn Sơn cũng thêm vào:
“Thất lễ quá, mọi người đừng để tâm. Đừng khiến chút việc vớ vẫn này phá vỡ bầu không khí hôm nay được. Đi tiếp nào…”
Đoạn quay sang Hoàng Bá cười nói:”Hoàng Bá đề cập trước đó sẽ đưa chúng ta đến một nơi đặc biệt, không biết nơi đó là nơi nào, còn xa hay chăng ?”
Hoàng Bá nghe nhắc đến tên mình thì chợt thúc ngựa đi lên phía trước, đem tông giọng hào hứng phấn khởi cất lên:
“Không còn xa nữa đâu, nơi này ai đến Hoa Sơn đều phải ghé. Gọi là Hoa Sơn Trà Quán…”
Lời chưa dứt thì Lão bà bà đã nhăn nhó cắt ngang: “Cái gì mà trà quán, chẳng có gì thú vị cả. Đi cả ngày chỉ để uống trà thôi sao ?”
Hoàng Bá vẫn kiên nhẫn cười tươi đáp:
“Tại vì người chưa biết sự đặc biệt của nó thôi. Hoa Sơn Trà Quán này mỗi năm chỉ tiếp hai mươi lượt khách. Muốn uống phải liên hệ đặt chỗ trước, ta nhờ có chút danh tiếng, thương lượng mãi mới mua được một chỗ cho mọi người. Lại nói nơi đó không giao dịch bằng tiền mà là bằng bất kì thứ gì có thể làm cho chủ quán thích thú…”
Cả Uẩn Sơn và Ân Chu nghe xong đều rất lấy làm ngạc nhiên, lại có nơi kì lạ như vậy. Quả thực nghe qua khiến họ có chút tò mò. Uẩn Sơn đột nhiên thắc mắc:
“Rút cuộc nơi đó có gì mà phải kì công đến như vậy ?”
Gương mặt Hoàng Bá bày ra một sự tự hào, phấn khởi nói:
“Chủ quán là Hoa Sơn Trà Nữ, nghe nói dung mạo như hoa, xin đẹp tuyệt trần. Thực ra cũng chưa có ai may mắn được thấy dung nhan của nàng, họ chỉ đồn nhau như vậy. Lại nói trà mà quán phục vụ lại càng đặc biệt hơn. Trà làm từ Bạch Trinh Đào, là một loại hoa đào chỉ có tồn tại ở nơi này. Cánh hoa trắng, vô cùng tinh khiết, mỗi năm chỉ có một vụ hoa. Nước pha trà lấy từ sương đêm đọng trên hoa, mỗi đêm đều hấp thu tinh hoa nhật nguyệt. Có thể nói để thưởng thức được loại trà Bạch Sương Tiên này khó khăn vô cùng.”
Mọi người nghe xong thì “ồ” lên một tiếng bày tỏ sự kinh ngạc không thôi, quả thực làm người nghe ngóng trông được một lần diện kiến và thưởng thức. Ân Chu cười cười, vốn dĩ không phải là người am hiểu về trà hay rượu nên bất quá đối với ông đây xem như là một chuyến ngao du mở rộng tầm mắt, biết đâu lại diện kiến được một mỹ nhân nữa.
Đột nhiên Ân Chu thần người ra, dừng lại giữa đường, gương mặt phúc hậu bỗng biểu lộ một chút kinh hoảng. Hai từ “mỹ nhân” ông vừa nghĩ đến đã nhắc ông về một người, một tuyệt sắc giai nhân trong lòng ông, Vân Thuyền. Ông trở nên hoang mang, kinh hãi bởi vì thời gian họ xa cách nhau đã khá lâu rồi. Mọi tin tức về những người bạn thuở nào đều là số không.
Trong lòng Ân Chu buồn bã thầm nghĩ: “Từ lúc ở Liên Sơn Cốc đến nay thời gian trôi qua như thoi đưa, ta một thân vô tư đi ngắm cảnh, thưởng trà mà chẳng hề biết mọi người ra sao, Vân Thuyền hiện giờ như thế nào. Làm sao ta có thể vô lo như thế chứ, ta thực sự là một kẻ tồi tệ vô dụng!” Nỗi day dứt này đột nhiên xảy đến giữa đường, giữa khung cảnh đẹp đẽ thơ mộng làm Ân Chu có một chút hổ thẹn.
Ân Chu ngây ra một lúc khiến mọi người xung quanh không khỏi ngạc nhiên. Thanh Hương lo lắng sợ rằng nội thương của Ân Chu bộc phát nên vội lên tiếng:
“Lão gia người không khỏe ở đâu phải không?”
Giọng nói như mật ngọt hoa thơm của nàng đã kéo Ân Chu trở lại, ông cười trừ đáp:
“Không có gì, ta chợt nhớ đến một vài người bạn mà đã quá lâu rồi ta không liên lạc, không biết tin tức gì về họ… Chúng ta đi tiếp nào !”
Tuy mọi người trong lòng vẫn thắc mắc nghi hoặc nhưng không tiện nói ra nên đành thôi cứ thẳng một đường mà tiến tới. Cũng nhờ câu chuyện về Hoa Sơn Trà Quán của Hoàng Bá mà mọi người có chủ đề để thảo luận, vô cùng sôi nổi. Người thì mong được thưởng trà, người thì mong được diện kiến dung nhan của Hoa Sơn Trà Nữ.
Trời đang đổ về trưa, nắng chói chang hơn. Tuy nhiên, nhờ những hàng cây mướt xanh, tán rộng bên đường mà chẳng hề biết cái oi ả, trái lại còn có chút se lạnh. Đi đường đã lâu nhưng không ai thấy mệt vì thực sự chuyến ngoạn cảnh này thật thỏa đáng lòng người. Trên đường lớn phải gọi là “ngựa xe như nước, áo quần như nêm”. Bao nhiêu người đủ thể loại, hình hài, trang phục, tấp nập ngược xuôi. Khuôn trăng ai cũng rạng ngời vui vẻ.
Đi mãi thêm một lúc nữa thì Hoàng Bá cho hay cũng sắp đến nơi. Ông ta đã từng thưởng trà ở đây một lần nên vẫn còn nhớ đường đi. Phía trước dần hiện ra một khung cảnh đẹp thơ mộng huyền ảo với vô số cây đào nở hoa phủ sắc hồng một góc trời. Hương thơm dịu nhẹ cứ từ từ dẫn dụ vào tâm trí mỗi người. Đám người không khỏi thổn thức ngắm nhìn xung quanh mà trầm trồ thán phục.
Lại nói, phía trước đám đông không biết bao nhiêu cho kể đang xôn xao ồn ào bàn tán. Giọng họ cứ vo ve trầm bổng, không nghe ra được là nói về việc gì. Liếc qua một vòng có thể khẳng định nơi đây vô cùng đặc biệt và nổi tiếng mới có thể thu hút đông đảo vãng khách từ tứ phương hội tụ. Loại trà kia có gì ngon, chủ quá có gì đặc biệt? Quả thực rất đáng để mong chờ.
Mấy người Ân Chu xuống ngựa, giao cho tên đầy tớ canh giữ rồi cùng nhau đi vào trong. Thanh Hương lúc nào cũng kè kè bên cạnh Ân Chu, nắm chặt lấy cánh tay ông như sợ lạc mất. Một cơn gió lớn chợt thổi qua, đem theo muôn ngàn cánh đào phủ kín không trung. Dòng người chìm trong tĩnh lặng ngây ngất.
Bỗng nhiên giữa hàng trăm con người ấy, Ân Chu chợt dừng lại quay vội về phía sau, ánh mắt mang nhiều phần hoang mang đảo qua mấy lượt như tìm kiếm một điều gì đó. Ông thầm nhủ trong lòng: “Phải chăng ta đã nhầm, mùi hương này… sao nàng có thể ở đây được chứ !”. Tuy nghĩ vậy nhưng Ân Chu vẫn cố gắng đưa ánh nhìn tìm kiếm một chút hi vọng. Phải, mùi hương thoáng qua vừa rồi Ân Chu không bao giờ nhầm được, là của Vân Thuyền!
Từ trong đám đông hỗn loạn, một đôi nam nữ nhanh chóng tách mình ra khỏi. Thiếu nữ vận y phục trắng tinh khôi, gương mặt được che khuất bởi một chiếc mạn, khẽ ngoái đầu lại nhìn vào dòng người phía xa, ánh mắt mang theo một chút ưu tư.
“Nàng còn luyến tiếc nơi đó sao? Quả thực trà ngon như thiên hạ đồn đại!”
Giọng nam bên cạnh nàng vang lên, cùng nàng hướng ánh mắt về phía ấy. Vân Thuyền khẽ lắc đầu không nói thêm gì, nhẹ nhàng cất bước về phía trước. Nàng cũng như Ân Chu, có thể cảm nhận được người kia nhưng vẫn lại là định mệnh chưa đưa họ tái ngộ với nhau. Hai người lướt qua nhau giữa nhân gian, một nỗi nhớ nhung, một khoảng trống họ để lại trong lòng nhau thật to lớn. Tạo hóa trêu ngươi con người hay chỉ là thiên thư đã định sẵn duyên phận của họ luôn cách trở bởi vô vàn biến cố, chẳng ai biết được.