Chương 4: Tần Mậu

Bảy giờ tối, tôi và Hoài An có mặt tại quán ăn nhỏ gần cầu đá. Bàn ăn đã dọn sẵn vài đĩa thức ăn nguội ngắt nhưng La Khải vẫn chưa thấy đâu. Tôi sốt ruột gọi cho hắn hai cuộc, tiếng chuông bên kia đầu dây cứ đổ từng hồi dài nhưng không ai nghe máy. Hoài An liếc nhìn chiếc đồng hồ đeo tay đã qua vạch số bảy, ngón tay gõ nhịp nhè nhẹ lên mặt bàn gỗ. “Chắc lại vớ được chuyện gì, quên cả giờ hẹn rồi.” “Cái thằng cha này” Tôi tặc lưỡi “Rõ ràng chiều nay chính miệng ông ta còn dặn đi dặn lại là có chuyện quan trọng, làm như thể …” Tôi vừa định mắng thêm vài câu thì điện thoại của Hoài An reo. Màn hình nhấp nháy hai chữ: Lục Thành. Hoài An bắt máy, nhấn loa ngoài. Ngay lập tức, giọng Lục Thành thở hổn hển qua sự hỗn loạn của tiếng còi xe và tiếng la giật ngược: “Hoài An! Hai người đang ở đâu đấy? Mới xảy ra chuyện rồi!” “La Khải … Ông ta bị tai nạn ở kho ngay gần khung cửi” Giọng Lục Thành lạc hẳn đi, dồn dập đến mức từng chữ giội thẳng vào tai tôi lạnh ngắt “Máu chảy nhiều lắm … Tôi vừa gọi được xe cấp cứu đưa ông vào bệnh viện rồi! Hai người qua ngay đi!” Tín hiệu bị ngắt phụt, chỉ còn lại những tiếng tít kéo dài. Cả tôi và Hoài An đều khựng lại. Đĩa thức ăn trên bàn còn nguyên, chén trà nguội đắng ngắt. Không ai nói với ai lời nào, chúng tôi đứng phắt dậy, bỏ lại bữa tối rồi lao vội ra con đường, bắt chuyến xe tới bệnh viện. Lúc đến nơi, La Khải đã được đưa vào phòng theo dõi. Bác sĩ cho biết hắn bị va đập mạnh ở vùng đầu và vai. Hiện tại tuy vẫn còn hôn mê nhưng may mắn là chưa thấy dấu hiệu nguy hiểm đến tính mạng. Dù vậy, ông vẫn nhấn mạnh cần phải giữ lại theo dõi thêm, chờ khi nào tỉnh lại mới có thể đánh giá được đầy đủ tình trạng. Lục Thành đứng ngoài hành lang, sắc mặt không tốt hơn chúng tôi là bao. Thấy hai đứa tôi thở hổn hển chạy lại, anh mới mệt mỏi châm một điếu thuốc, cất giọng khàn khàn kể lại ngọn ngành: “Sau khi rời khách sạn, thằng cha này lại mò ngược về kho để tìm thêm thông tin. Đúng lúc đó Trình Hạo cũng đang ở đấy kiểm tra mấy bộ phận gãy của khung dệt.” Lục Thành rít một hơi thuốc sâu, làn khói xám xịt phả ra chập chờn dưới ánh đèn “Mấy thanh đòn gánh phía trên vốn đã nứt từ đời nào rồi. Đúng lúc ông ta cúi xuống chụp ảnh phía bên trong thì một thanh gỗ đột ngột rớt khỏi khớp văng xuống đầu ông ta. Mọi người nghe tiếng động chạy đến thì đã thấy nó nằm bất động dưới đất rồi.” Nói đến đây, Lục Thành thở dài một tiếng: “Trình Hạo bảo trước đó đã dặn La Khải đừng chạm vào mấy thanh gỗ ấy rồi. Nhưng ông ta mà chịu nghe lời thì đã chẳng phải là La Khải.” Tôi bước lại gần, lặng lẽ nhìn qua ô cửa kính phòng bệnh. La Khải nằm trên giường, đầu quấn một lớp băng trắng, một bên vai cũng được cố định. Điện thoại và sổ ghi chép của hắn được nhân viên Trung tâm mang đến, gom gọn trong chiếc túi đặt ngay bàn đầu giường. Tôi đứng nhìn mớ đồ đạc ấy vài giây, ngón tay bất giác rục rịch. Tôi muốn đẩy cửa bước vào mở ra xem rốt cuộc trước khi gặp nạn, hắn đã tìm thêm được thông tin gì. Nhưng chưa kịp bước tới, Hoài An đã đưa tay cản lại. “Đợi hắn tỉnh rồi hỏi. Đồ của người ta, đừng tự tiện lục.” “Lỡ trong đó có thông tin quan trọng thì sao?”Tôi nhíu mày nhìn Hoài An. “Vậy càng phải đợi hắn tỉnh.” Tôi thở dài, đành quay lưng ngồi xuống chiếc ghế nhựa trống bên cạnh hành lang. La Khải thường ngày nói nhiều đến mức khiến người khác phát bực, bây giờ nằm im như vậy lại làm tôi thấy không quen. Ánh đèn hắt xuống khoảng khoảng sân tối om ngoài cửa sổ. Tôi chỉ mong sao La Khải mau chóng tỉnh lại, để có thể kể rõ rốt cuộc hắn đã phát hiện ra điều gì. Đêm ấy chúng tôi đợi đến khi bác sĩ xác nhận La Khải tạm thời ổn định mới trở về khách sạn. Trước khi ngủ, Hoài An vẫn dặn tôi để điện thoại bên cạnh, bật âm thanh ở mức lớn nhất để hễ bệnh viện báo tin là có thể biết ngay. Sáng hôm sau, bầu trời u ám giăng một lớp sương mỏng, chúng tôi trở lại Trung tâm bảo tồn. Công việc kiểm định chiếc khung dệt vẫn chưa hoàn tất. Những bộ phận gãy chiều hôm qua được gom lại, xếp riêng một góc bàn. Mớ hồ sơ phải bổ sung thêm nhiều giấy tờ mới vì xuất hiện vài món chưa đối chiếu chính xác với danh sách lưu trữ ban đầu. Trình Hạo cặm cụi đang làm việc ở phòng sau. Nghe tiếng bước chân chúng tôi tiến vào, hắn ngẩng đầu lên, chậm rãi đặt tập hồ sơ đang cầm trên tay xuống mặt bàn gỗ. “La Khải tỉnh chưa?” Trình Hạo cất giọng hỏi, mắt hướng về chúng tôi. “Chưa.” Hoài An đáp ngắn gọn rồi hỏi ngược lại “Hôm qua ông ấy có đến tìm anh trước khi tai nạn không?” “Có. La Khải hỏi tôi về mấy bộ phận đã tháo rời, còn muốn chụp phía trong khung. Tôi bảo kết cấu không ổn định, đừng tùy tiện động vào nhưng ông ta không nghe.” “Anh có biết ông ấy đang tìm thứ gì không?” Trình Hạo nhún vai “Ông ta làm phóng viên, muốn tìm tin gì thì sao tôi biết được?” Hắn nói không sai nhưng khi Hoài An đề nghị xem lại danh sách những bộ phận đã được tháo ra, Trình Hạo lại tỏ vẻ khó chịu. Trong danh sách, có nhiều bộ phận được chuyển sang khu kiểm kê riêng nhưng lại không hề ghi rõ lý do. Nhận ra ánh mắt nghi vấn của chúng tôi, Trình Hạo lập tức giải thích đó chỉ là phần gỗ cần giữ lại để phân tích, so sánh chất liệu, rồi xua tay bảo nhân viên sẽ bổ sung giấy tờ sau. Hoài An không tranh luận thêm, mọi chi tiết phải được ghi lại đầy đủ vào biên bản trước khi di chuyển bất kỳ bộ phận nào. Lục Thành đứng bên cạnh cũng gật đầu đồng tình. Trong lúc cậu nhân viên ôm một tập giấy tờ mới bước vào, tôi vô tình liếc thấy dưới đáy chiếc thùng carton đựng hồ sơ có dán một tờ phiếu vận chuyển đã ố vàng. Trên phiếu in rõ tên một đơn vị tư nhân chuyên thu mua đồ gỗ cổ, kèm theo danh sách liệt kê vài món cổ vật hoàn toàn không hề nằm trong danh mục quản lý đợt này. Tôi chỉ tay vào tờ phiếu, cất tiếng hỏi Lục Thành. Anh ta cầm lấy, cẩn thận xem qua rồi nhíu chặt mày: “Đây là giấy tờ thu gom của một đợt thu mua khác từ lâu rồi, chẳng liên quan gì đến dự án bảo tồn hiện tại cả.” Hoài An lập tức cất giọng, ánh mắt quét qua những người có mặt trong phòng: “Tờ phiếu này do ai đưa vào thùng hồ sơ của Trình Hạo?” Cả gian phòng chìm vào im lặng. Không một ai trả lời. Trình Hạo quay lại đúng lúc ấy. Hắn đi tới giật lấy tờ giấy từ tay Lục Thành, nhìn lướt qua một lượt rồi thản nhiên bảo đó chỉ là chút việc riêng từ dạo trước, hoàn toàn chẳng dính dáng gì đến chiếc khung cửi. Hắn cũng chẳng buồn giải thích thêm, chỉ lạnh giọng nhắc nhở chúng tôi đừng có làm lẫn lộn các bộ hồ sơ khác nhau. Chờ bóng hắn vừa khuất sau cánh cửa, tôi tiến lại gần Hoài An, hạ giọng xầm xì: “Cậu thấy chưa? Tên này nhất định là có chuyện giấu chúng ta.” “Tên này đáng nghi từ hôm đầu chúng ta gặp hắn rồi.” Hoài An thong thả gấp tờ phiếu lại thành tư, đưa trả cho Lục Thành. “Anh cứ giữ kỹ tờ này, nhờ người xác minh xem đơn vị thu mua đó rốt cuộc có mối quan hệ gì với Trình Hạo không. Tiện thể rà soát lại kho, đừng để đồ đạc trong đó tự nhiên bốc hơi mất.” Lục Thành gật đầu trầm ngâm, cẩn thận nhét tờ giấy vào sổ tay. Hành tung và thái độ của Trình Hạo ngày càng lộ rõ nhiều điểm khó hiểu. Thế nhưng một tờ phiếu thu mua đồ cũ, dù đáng ngờ đến đâu, cũng chưa thể coi là bằng chứng liên quan trực tiếp đến cái chết năm xưa của Tần Chiêu hay những hiện tượng kỳ quái xoay quanh chiếc khung cửi. Chúng tôi chỉ có thể tiếp tục âm thầm kiểm tra, tuyệt đối không thể dựa vào một mảnh giấy mơ hồ mà vội vã kết tội Trình Hạo. Đến gần trưa, chúng tôi gặp Tạ Minh Viễn ở gian nhà phía trước. Ông đang trò chuyện cùng một nghệ nhân lớn tuổi về kỹ thuật se tơ, trên bàn gỗ đơm hai tách trà còn bốc khói nhẹ. Thấy chúng tôi bước vào, ông mỉm cười gật đầu chào hỏi rồi kéo ghế mời cả hai cùng ngồi. Hoài An thong thả ngồi xuống: “Khung dệt hỏng đến mức ấy rồi, ông ở lại đây làm chi?” Tạ Minh Viễn điềm nhiên đặt tách trà xuống bàn, giọng nói vẫn điềm tĩnh như mọi khi. Ông bảo mục đích chuyến đi không chỉ xoay quanh việc kiếm tư liệu về chiếc khung cửi. Mà ông còn muốn tìm hiểu sâu hơn kỹ thuật dệt bạch ty truyền thống, gặp gỡ những người thợ lâu năm trong vùng để thu thập thêm tư liệu về sự thay đổi của làng nghề qua thời gian. Bên Trung tâm cũng vừa ngỏ ý mời ông tham gia một hoạt động giới thiệu văn hóa địa phương nên ông dự định ở lại thêm vài ngày. Tôi ngồi đối diện Tạ Minh Viễn, chợt nhớ đến chuyện hôm đầu tiên. Khi ấy Lục Thành nói quê ông cũng ở vùng này, tôi vốn định hỏi ông sống ở khu nào nhưng giữa chừng bị ngắt ngang nên quên mất. “À, hôm trước tôi định hỏi mà quên.” Tôi thuận miệng lên tiếng. “Quê ông ở khu nào vậy? Hồi trước ông sống ở căn nhà nào trong làng?” Động tác cầm tách trà của Tạ Minh Viễn bỗng dưng khựng lại trong chốc lát. Nhưng rất nhanh, ông thản nhiên đặt tách trà xuống bàn, nở nụ cười điềm đạm thường thấy: “Tôi rời quê từ khi còn bé, ngót nghét cũng mấy mươi năm rồi. Khu làng cũ giờ thay đổi nhiều quá, nhà cửa cây cối không còn như xưa. Ngay cả căn nhà khi xưa gia đình tôi ở, giờ có chỉ lại thì người địa phương bây giờ chắc gì đã nhận ra.” Hoài An ngồi bên cạnh, không hỏi thêm nhưng cũng không chuyển ngay sang chuyện khác. Hắn nhìn Tạ Minh Viễn một thoáng rồi hỏi với giọng bình thản: “Hôm nay ông đã gặp được bao nhiêu nghệ nhân rồi?” “Tôi mới gặp được hai người thôi” Tạ Minh Viễn ôn tồn đáp. Ông bắt đầu kể tên từng người một, nhân tiện giải thích thêm vài kỹ thuật dệt bạch ty phức tạp rồi thong thả nói tiếp: “Hôm sau tôi sẽ tiếp tục đi hỏi thăm những người thợ già khác quanh vùng.” Cuộc trò chuyện cứ thế kết thúc, không khí hoàn toàn bình thường, chẳng có chút gì căng thẳng. Lúc bước ra khỏi cửa, tôi thậm chí còn thoáng cảm thấy mình vừa vô duyên khi đặt một câu hỏi quá riêng tư với Tạ Minh Viễn. Đi được một đoạn ra tới khoảng sân nắng, Hoài An mới trầm ngâm cất tiếng: “Cậu hỏi chuyện quê quán hoàn toàn bình thường, có cái gì đâu mà ông ta phải lảng tránh như vậy?” “Có khi ông ấy quên thật đấy chứ” Tôi lắc đầu tặc lưỡi “Bao nhiêu năm không về, căn nhà cũ chắc cũng bỏ hoang hay bị giải tỏa lâu rồi.” “Có thể.” Hoài An nhàn nhạt đáp một tiếng, ánh mắt trầm xuống nhìn ra phía xa. Cả ngày hôm đó, La Khải vẫn chưa tỉnh. Tôi và Hoài An lại ghé bệnh viện vào buổi chiều. Bác sĩ cho biết tình trạng của hắn đã ổn định hơn nhưng do chấn thương ở đầu nên vẫn cần tiếp tục nghỉ ngơi, chưa biết chính xác khi nào mới tỉnh lại hoàn toàn. Tôi ngồi bên giường, lặng lẽ nhìn chiếc điện thoại đã được nhân viên nhặt lại. Bất giác tôi nhớ đến cuộc gọi chiều hôm trước. Giọng hắn lúc đó đầy vẻ tò mò, háo hức, bảo rằng vừa phát hiện ra một chi tiết vô cùng thú vị, còn vội vã hẹn đúng bảy giờ tối đi ăn sẽ kể rõ. Nếu không xảy ra vụ tai nạn, có lẽ lúc này chúng tôi đã biết thứ hắn tìm được là gì rồi. “Cậu nghĩ La Khải phát hiện được chuyện gì?” Tôi hỏi khi hai người ra hành lang. Hoài An khẽ lắc đầu, đáp ngắn gọn: “Chờ hắn tỉnh rồi biết.” Tối hôm ấy, chúng tôi trở về khách sạn. Tôi vừa tắm rửa xong, đang định ngả lưng xuống giường thì điện thoại của Hoài An đột ngột reo lên dồn dập. Anh ta nhấc máy, chỉ vài giây sau, anh đột ngột đứng thẳng người dậy, nét mặt sa sầm. “Cậu đang ở đâu?” Đầu dây bên kia thì thào nói gì đó. Hoài An nhíu chặt mày, giọng hạ thấp xuống đầy vẻ nghiêm nghị: “Ông vừa mới tỉnh lại đã tự ý bỏ viện ra ngoài rồi à? Mạng lớn thế?” Tôi lập tức bật ngồi dậy trên giường. Chỉ cần nghe qua tông giọng này của Hoài An, tôi đã thừa biết người ở đầu dây bên kia là ai. “Bớt nói linh tinh đi.” Hoài An ngắt lời, giọng đanh lại “Đang ở chỗ nào thì đọc địa chỉ ngay, chúng tôi bắt xe qua đón.” Hoài An lắng nghe đối phương thêm một lúc rồi dứt khoát cúp máy. Quay sang nhìn tôi, nét mặt vô cùng căng thẳng: “La Khải tỉnh rồi. Hắn vừa lén trốn khỏi bệnh viện, đang tự bắt xe về đây.” Tôi vừa mừng vừa bực: “Thằng cha này bị thương thành ra như vậy mà còn chạy lung tung. Chưa nằm đủ một ngày đã không chịu yên rồi.” Hoài An im lặng vơ lấy chiếc áo khoác trên ghế, khoác nhanh vào người rồi bảo La Khải nhắn qua điện thoại là có chuyện khẩn cấp phải báo ngay lập tức, tuyệt đối không thể trì hoãn chờ đến sáng mai. Lúc gọi điện, hắn đã lén rời khỏi phòng bệnh được một đoạn và đang về hướng khách sạn. Chưa đầy nửa tiếng sau, La Khải xuất hiện ở cửa phòng. Gương mặt hắn trắng bệch, trên trán vẫn còn nguyên miếng băng gạc trắng toát, một bên vai quấn cố định. Hắn đi đứng xiêu vẹo nhưng vẫn nhất quyết tự bước vào, vừa thấy chúng tôi đã nói: “Đừng … đừng mắng vội. Nghe tôi nói hết đã.” “Ông mới nằm viện một ngày, vừa tỉnh đã tự ý chạy ra ngoài, giờ còn bảo đừng mắng?” Tôi kéo ghế cho hắn ngồi “Nói đi, rốt cuộc phát hiện được gì mà gấp đến mức này?” La Khải uể oải thả người xuống ghế, nhắm mắt thở dốc vài nhịp dồn dập rồi mới từ từ cất giọng đầy bí hiểm: “Là về cái chuyện … trước đó tôi nói cho hai người đấy. Còn nhớ lúc tôi bảo hình như đã nghe qua tên Tần Chiêu ở đâu đó không? Tôi nhớ ra rồi. Nó nằm trong một cuốn tiểu thuyết cũ do Tạ Minh Viễn viết.” Hắn dừng lại một nhịp, quan sát nét mặt ngạc nhiên của tôi và Hoài An rồi mới thào thào nói tiếp: “Ban đầu tôi chỉ nghĩ chắc chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên thôi nhưng càng đọc lại càng thấy rợn người. Nhân vật Tần Chiêu trong sách cũng có một người em trai, mà toàn bộ tình tiết cốt truyện lại xoay quanh chuyện người chị hy sinh cả đời để gánh vác, nuôi đứa em ăn học thành tài.” “Tạ Minh Viễn?” Tôi giật mình, chiếc ấm trà đang cầm trên tay suýt chút nữa rơi xuống “Cuốn nào?” “Trưởng Tỷ Như Đăng.” Tôi sững ra. “Tôi biết cuốn đó.” Hoài An chớp chớp mắt nhìn tôi, vẻ mặt đầy kinh ngạc: “Cậu mà cũng đọc sách à?” Tôi lườm hắn một cái, giọng thoáng chốc đổi sang ngượng ngùng: “Từng đọc qua. Cuốn đó là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông ấy, nhân vật chính là cô gái tên Tần Chiêu, cha mẹ mất sớm, một mình làm lụng nuôi em trai ăn học. Từ trước tới nay tôi cũng mới chỉ đọc đúng mỗi cuốn này của Tạ Minh Viễn thôi.” Hoài An cười nửa miệng, hất hàm hỏi: “Rồi sau đó thế nào nữa?” “Thì người chị vất vả nuôi em, còn người em sau này đỗ đạt thành tài, không hề quên công ơn trời biển của chị mình nên quay về đón chị đến ở cùng để phụng dưỡng. Cuối cùng hai chị em đoàn tụ, coi như bao nhiêu năm khổ cực đắng cay cũng được đền đáp xứng đáng.” Tôi cố lục tìm lại những tình tiết cũ trong ký ức “Cuốn này nổi tiếng lắm, còn được chuyển thể thành phim nữa. Hồi đó đọc xong tôi cũng thấy kết thúc khá cảm động.” La Khải ngả người ra sau, tròn mắt nhìn tôi rồi lắc đầu ngán ngẩm, buông một câu xanh rờn: “Cậu đúng là không hợp để viết văn đâu, tôi nói thật đấy.” Hoài An hỏi tiếp: “Vậy người em trong sách biết ơn chị mình lắm nhỉ?” “Ừ, biết ơn lắm chứ.” Tôi gật đầu, nhớ lại từng đoạn tình tiết. “Dù sau này đã đỗ đạt thành tài, công danh hiển hách, hắn vẫn một lòng ghi nhớ những gì người chị đã hy sinh vì mình. Trong sách, cô chị trao đi tất cả không tiếc nuối còn người em cũng chẳng phụ lòng chị, gom hết vinh hoa phú quý sau này để đền đáp lại ơn sâu.” Tôi nói đến đó thì đột ngột khựng lại, cổ họng tự nhiên đắng ngắt. Chuyện ngoài đời thực … rốt cuộc lại chẳng giống trong sách một chút nào. Tần Chiêu đã bỏ mạng ngay khi vừa hoàn thành chiếc áo cưới còn đứa em trai mà cô dốc lòng bảo vệ lại lạnh lùng rời làng đi ngay sau đám tang của chị gái. Chu Vĩnh Sơn chẳng rõ Tần Mậu đã đi về đâu, đến cả những thợ già sống nửa đời người ở cái vùng này cũng không một ai biết thêm nửa câu tin tức. La Khải dựa lưng vào ghế, bật cười khẩy một tiếng đầy châm biếm rồi tặc lưỡi: “Đọc tiểu thuyết cứ ngỡ cảnh chị vất vả nuôi em ăn học, đợi sau này nó thành tài, cẩm y ngọc thực thì mình cũng được nhờ được tấm thân. Nhìn lại vụ của cô Tần Chiêu này mới thấy đúng là trớ trêu, người thì chết, thằng em trai cũng cuốn gói biến mất tăm mất tích. Cực nhọc nửa đời người, rốt cuộc chẳng biết là nuôi được cái thứ gì nữa.” Tôi lườm hắn một cái, bực dọc đáp: “Ông bớt phun ra mấy câu xui xẻo ấy đi được không? Vừa từ cửa tử trốn về mà đã mở mồm trù ẻo chuyện chết chóc.” “Tôi nói sự thật rành rành ra đấy chứ bộ,” La Khải nhăn nhó, xuýt xoa đưa tay trái vịn lấy bờ vai bị thương. “Hôm đó tôi vô tình bắt gặp Tạ Minh Viễn lén lút chờ mọi người đi hết để lẻn vào kho. Ban đầu, tôi tưởng ông ta định giấu giếm ăn trộm gì cơ … Thôi thôi đừng có liếc tôi, tôi đùa chút thôi mà. Ờ thì tôi mới tò mò bám theo sau, rồi tự nhiên tôi bỗng nhớ đến cuốn Trưởng tỷ như đăng, tác phẩm đầu tiên giúp ông ta thành danh. Tôi thì không được cái gì, chỉ được cái đọc nhiều nhớ lâu thôi. Đang rình xem hành động của ông ta thì Trình Hạo tới. Tôi định gọi hẹn gặp hai người để kể chi tiết, ai ngờ chưa kịp làm gì đã bị cái khung dệt đập một phát nằm bất tỉnh nhân sự …” Hoài An đứng phắt dậy, với tay nhặt chiếc áo khoác đen vắt trên lưng ghế rồi khoác nhanh vào người. “Đi tìm Tạ Minh Viễn.” Tôi ngước nhìn hắn, không khỏi bất ngờ: “Bây giờ á?” “Ừ, ngay bây giờ.” La Khải thấy vậy cũng vội gồng mình, chống hai tay xuống thành ghế định chồm dậy theo nhưng vừa nhúc nhích thân người một chút đã nhăn nhó mặt mày. Tôi cau mày dằn vai hắn xuống, bảo hắn cứ ngồi yên ở đây mà nghỉ ngơi. Thế nhưng La Khải dứt khoát lắc đầu, ánh mắt kiên định. Vất vả lắm hắn mới mò ra được cái đầu mối quan trọng này, tự tay mở ra manh mối, hắn tuyệt đối không muốn ngồi im nhìn chuyện này bị bỏ dở rồi lại kéo dài trôi qua thêm một đêm nữa. Ba người chúng tôi tức tốc xuống khu vực sảnh chính hỏi nhân viên trực quầy xem Tạ Minh Viễn có nhắn nhủ gì không. Cậu nhân viên ngẩng lên, lắc đầu bảo rằng vị khách đó đã rời khỏi khách sạn từ chập tối, không nói đi đâu và đến tận giờ này vẫn chưa thấy trở lại. Không bỏ cuộc, chúng tôi kéo nhau lên lầu, trực tiếp đứng trước cửa phòng ông ta gõ mấy tiếng liên tiếp nhưng bên trong hoàn toàn im lìm, không một tiếng động đáp lại. Hoài An mím môi, rút điện thoại bấm số gọi thẳng cho ông ta. Tiếng chuông tút tút kéo dài đầy kiên nhẫn rồi tự động tắt ngúm. Hắn lạnh lùng nhìn màn hình điện thoại vừa tối đen, đoạn cất máy vào túi áo, giọng chắc nịch: “Đến kho xem thử.” Tôi và La Khải liếc nhìn nhau, không nói hai lời, lập tức bước chân đuổi theo sau bóng lưng của Hoài An. Trên đoạn đường đến kho, La Khải vẫn không ngừng ấm ức, lầm bầm rằng hắn vừa mới tỉnh dậy sau cơn mê, đầu óc còn ong ong, lẽ ra phải được nằm nhà thương nghỉ ngơi cho lại sức. Tôi nghe ngứa tai liền phang ngay một câu: “Biết thế sao còn tự ý trốn viện chạy ra đây?” Hắn nhăn nhở cười trừ, bảo rằng chuyện công việc nước sôi lửa bỏng thì đành phải chịu chứ biết làm sao. Hoài An ngồi ở ghế phụ phía trước, hoàn toàn không tham gia vào màn đấu khẩu nhảm nhí của chúng tôi, chỉ thỉnh thoảng liếc nhìn đồng hồ rồi trầm giọng giục tài xế đạp ga chạy nhanh hơn một chút. Chiếc xe chạy vòng vèo qua những con đường làng tĩnh mịch, đến đoạn ngã rẽ phía nam thì Hoài An bỗng cất tiếng bảo tài xế tấp lề, dừng lại ngay trước khoảng sân quen thuộc của nhà Chu Vĩnh Sơn. Tôi ngạc nhiên trố mắt nhìn hắn: “Đón cả ông Chu đi cùng nữa à?” “Ừ.” Hoài An đáp gọn lỏn, không đợi tôi hỏi thêm đã đẩy cửa bước xuống xe. Hắn sải bước vào trong sân, đi đến trước cửa nhà rồi lịch sự gõ cửa. Lúc ấy ông Chu đã chuẩn bị đi ngủ, nghe tiếng gõ cửa đêm khuya liền khoác thêm chiếc áo ấm lật đật bước ra mở. Hoài An hơi cúi đầu chào, rồi đi thẳng vào vấn đề bằng giọng trầm ổn: “Thưa ông, ông có muốn gặp lại Tần Chiêu không?” Chu Vĩnh Sơn chết trân tại chỗ, ánh mắt đục ngầu chợt lóe lên một tia chấn động mạnh. Ông đứng lặng đi một lúc lâu. Sau đó, ông quay vào nhà lấy chiếc áo khoác dày hơn mặc lên người rồi trở ra xe cùng chúng tôi, tuyệt nhiên không hỏi thêm nửa câu thừa thãi nào nữa. Đến gian xưởng, ngay từ bên ngoài chúng tôi đã ngửi thấy mùi xăng nồng nặc. Cánh cửa vốn được khóa đã bị mở toang, đoạn dây đánh dấu bị vứt dưới nền đất. Bên trong tối om, chỉ có ánh đèn pin liên tục quét qua quét lại, thỉnh thoảng vang lên tiếng gỗ ma sát dịch chuyển giữa đêm tĩnh mịch. Hoài An ra hiệu cho chúng tôi im lặng rồi rón rén bước nhanh đến cửa. Qua khe cửa, tôi nhìn thấy Tạ Minh Viễn đang đứng cạnh chiếc khung dệt đã hỏng. Dưới chân ông là một can xăng nhỏ, bên cạnh đặt sẵn hộp diêm. Ông ta đang cúi xuống tưới xăng lên mấy thanh gỗ gãy. “Ông đang làm gì vậy?” Cái giọng lạnh ngắt của Hoài An bất ngờ vang lên khiến Tạ Minh Viễn giật bắn người. Ông ta quay phắt lại, can xăng rơi khỏi tay, đổ lênh láng trên nền đất. “Các cậu?” Ông nhìn chúng tôi rồi nhìn ra phía cửa. “Sao lại đến đây giờ này?” La Khải chẳng buồn khách khí, chân bước vào trước rồi chỉ tay vào can xăng dưới đất: “Chúng tôi còn muốn hỏi ông câu đó đấy. Đêm hôm khuya khoắt lẻn vào đây, ông định đốt chiếc khung này à?” Tạ Minh Viễn im lặng vài giây, mím môi suy tính rồi mới gượng gạo cất lời: “Chiếc khung đã hỏng hoàn toàn rồi, chẳng còn cách nào phục chế được nữa. Tôi nghĩ đốt bỏ cũng không có gì quá đáng.” “Không có gì quá đáng?” La Khải nhíu mày “Đây là hiện vật Trung tâm tiếp nhận, ông muốn đốt là đốt chắc?” “Các cậu thì biết cái gì chứ” Tạ Minh Viễn phân bua, giọng thoáng chút hoảng loạn “Sau đêm hôm đó, ai cũng cho rằng nó bị ma ám. Cứ cố giữ lại cái thứ xui xẻo này lại cũng chỉ gây thêm phiền phức.” Hoài An không thèm ngắt lời. Hắn lạnh lùng liếc nhìn can xăng dính đầy vết bẩn dưới chân, rồi chầm chậm ngẩng đầu lên xoáy sâu ánh mắt vào Tạ Minh Viễn: “Nếu chỉ muốn xử lý một hiện vật hỏng, tại sao ông không báo với Lục Thành?” Tạ Minh Viễn im bặt. Hoài An tiến thêm một bước, giọng trầm xuống đầy sức ép: “Ông quay về làng từ lúc nào?” “Vài ngày trước.” Tạ Minh Viễn đảo mắt, ngập ngừng đáp “Các cậu biết chuyện đó rồi.” “Vậy trước khi về đây, ông có biết chiếc khung dệt này vốn thuộc về nhà họ Tần không?” “Tôi … tôi cũng chỉ nghe Lục Thành vô tình nhắc qua thôi.” “Vậy ông có biết nhà họ Tần từng có hai chị em, người chị tên Tần Chiêu, còn người em tên Tần Mậu không?” Cái tên “Tần Mậu” vừa thốt ra, đồng tử Tạ Minh Viễn thoáng co rút, cơ mặt ông ta cứng đờ lại trong chốc lát. Dù ông ta đã nhanh chóng lấy lại vẻ bình tĩnh trên khuôn mặt nhưng chút xao động nhỏ ấy chẳng thể nào lọt qua được đôi mắt của Hoài An. La Khải nhích lên một bước, ánh mắt nheo lại đầy nghi vấn: “Trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông có một nhân vật tên là Tần Chiêu. Cô ấy cũng có một người em trai, cũng dành cả tuổi thanh xuân nuôi em ăn học. Cuối cùng người em đỗ đạt thành tài, quay về đền đáp công ơn chị mình. Nhưng ngoài đời thực thì sao? Tần Chiêu tự tử ngay bên chính chiếc khung dệt này, còn Tần Mậu thì biệt tích ngay sau đám tang. Ông nói xem, trên đời này làm gì có chuyện trùng hợp đến thế?” Tạ Minh Viễn nhếch môi cười nhạt, vẻ mặt thoáng hiện nét giễu cợt: “Tiểu thuyết chỉ là sản phẩm của sự hư cấu. Một người viết sách có thể lấy cảm hứng từ bất kỳ ai hay bất cứ đâu, điều đó đâu có nghĩa nhân vật trong sách chính là người ngoài đời thực? Các cậu chỉ dựa vào mỗi một cái tên trùng hợp mà đã vội vàng muốn quy chụp, kết tội tôi đấy à?” “Chúng tôi chưa hề kết tội ông.” Hoài An bình tĩnh đáp, giọng điệu sắc lạnh như dao “Nhưng ông lại đang lén lút định đốt bỏ chiếc khung dệt thuộc về gia đình ấy. Ông còn liên tục né tránh khi được hỏi về quê quán của mình. Chúng tôi hoàn toàn có quyền nghi vấn.” “Quê quán thì có cái gì mà phải đáng nói chứ?” Tạ Minh Viễn gắt lên, giọng bắt đầu mất kiên nhẫn. “Tôi đã biến khỏi cái xóm này bao nhiêu năm trời, người quen ngày xưa giờ cũng chẳng còn mấy ai. Căn nhà cũ thì bỏ hoang mọc đầy cỏ dại, các cậu có cố tìm ra thì cũng chỉ thấy một đống gạch vụn mà thôi.” Tạ Minh Viễn lặng thinh không đáp. Ông ta dời ánh mắt sắc lẹm nhìn ba chúng tôi, rồi quay sang nhìn chiếc khung dệt mục nát đằng sau. Một ánh mắt chán ghét tột độ hằn rõ trong đôi mắt đục ngầu khi ông ta nhìn chằm chằm vào những thanh gỗ mục kia. Ông ta lật đật cúi người xuống định chộp lấy hộp diêm rơi dưới đất một lần nữa nhưng La Khải đã nhanh chân vươn tới, đá văng nó ra xa tận góc tường. “Đừng có mà mơ châm lửa đốt nữa. Chúng tôi còn chưa tra hỏi xong đâu.” “Rốt cuộc các cậu muốn cái gì ở tôi?” Tạ Minh Viễn đột nhiên gầm lên, giọng run run vì phẫn nộ lẫn hoảng loạn. “Muốn tôi phải thừa nhận cái điều vô lý gì đây? Một cuốn tiểu thuyết hư cấu, vài câu chuyện phiếm tào lao của mấy người già trong làng, rồi cái khung dệt chó chết này … Chỉ dựa vào mấy cái thứ chắp vá đó mà các cậu đã tự cho phép mình hiểu hết cuộc đời của người khác rồi đấy à?” Giọng ông ta uất nghẹn vang vọng trong nhà kho rộng lớn rồi chìm dần vào khoảng không tĩnh mịch. Thế nhưng, chính trong khoảng im lặng ngột ngạt đến nghẹt thở ấy, từ phía dưới chiếc khung dệt mục nát bỗng vang lên một tiếng cạch khô khốc, lạnh lẽo. Ngay sau đó, một dải lụa trắng muốt khẽ trượt xuống từ thanh gỗ trên cao. Nó buông lơi, rơi chậm rãi, bồng bềnh giữa không trung rồi dừng lại lơ lửng ngay trước mặt Tạ Minh Viễn. Sắc mặt Hoài An biến đổi, hắn lập tức vươn tay kéo tôi giật lùi về phía cánh cửa. La Khải thấy vậy cũng lật đật bước lùi theo từng bước nhưng đôi mắt hắn vẫn dán chặt không rời khỏi Tạ Minh Viễn dù chỉ một giây. Dải lụa trắng mong manh ấy bất ngờ căng lên như một sợi dây thép, quấn chặt lấy cổ tay ông ta. Tạ Minh Viễn giật thót người, hoảng loạn dùng hết sức bình sinh giật mạnh tay về phía sau nhưng sợi tơ chẳng những không đứt mà còn như có sức mạnh vô hình siết chặt lại. Từ trên khung dệt, những dải lụa trắng khác bắt đầu túa ra như mạng nhện, quấn chặt lấy cả hai cổ tay ông ta, kéo giật ngược về phía chiếc khung. Một bóng người chầm chậm hiện ra sau chiếc khung dệt mục nát. Người phụ nữ khoác trên mình chiếc áo vải trắng đơn sơ, mái tóc đen dài buông xõa hai bên vai. Gương mặt cô nhợt nhạt không một giọt máu, đôi mắt lạnh ngắt xoáy thẳng vào Tạ Minh Viễn. Tạ Minh Viễn bắt đầu run rẩy, toàn thân co rúm lại. Bóng người từ từ lướt ra khỏi khoảng tối mịt mù. Những dải lụa trắng dài rủ xuống chập chờn giữa không trung nhưng lần này chúng không còn quật loạn xạ vào chúng tôi nữa. Tất cả những dải lụa ấy đều hướng mục tiêu về phía Tạ Minh Viễn. Một dải lụa quấn chặt lấy hai cổ tay, một dải lụa siết lấy cổ chân, bất ngờ kéo giật khiến ông ta loạng choạng ngã nhào ra nền gạch. Tần Chiêu đứng cách ông vài bước, hoàn toàn không nói một lời nào. Tạ Minh Viễn giãy giụa điên cuồng trong vòng vây của những dải lụa trắng, giọng run rẩy vỡ vụn vì kinh hoàng tột độ: “Đừng … đừng đến đây …” Tần Chiêu nhìn ông rất lâu, ánh mắt sâu thẫm đong đầy những cay đắng dồn nén qua hàng chục năm trời. Khi cô cất tiếng, giọng nói không lớn nhưng từng chữ đều rõ ràng, vang vọng giữa không gian lạnh lẽo: “Tần Mậu.” Tạ Minh Viễn ngẩng phắt đầu lên, toàn thân chấn động mãnh liệt như vừa bị một luồng điện giáng xuống. Tần Chiêu lại gọi lần nữa, giọng trầm xuống, nhẹ hẫng như một tiếng thở dài: “ Tần Mậu.” Ông ta lắc đầu liên tục trong cơn hoảng loạn tột cùng, miệng lắp bắp phân bua: “Không … tôi không phải … Tôi là Tạ Minh Viễn … Tôi là Tạ Minh Viễn mà …” “Em đổi tên rồi sao?” Câu hỏi ấy khiến Tạ Minh Viễn chết lặng tại chỗ, hoàn toàn nghẹn lời. Ông ngước mắt nhìn chằm chằm người phụ nữ trước mặt, đôi môi xám xịt run lên bần bật. Một lúc sau, từ sâu trong cuống họng khô khốc của ông bật ra một tiếng gọi yếu ớt gần như không thành lời: “Chị …” Không ai cần phải hỏi thêm bất cứ điều gì nữa. Thân phận thực sự của Tạ Minh Viễn đã hoàn toàn được xác nhận ngay trong khoảnh khắc ấy. Tần Chiêu không lập tức lao tới. Cô nhìn đứa em trai duy nhất của mình, ánh mắt vừa lạnh lẽo đến thấu xương, lại vừa tràn đầy đau đớn xót xa. Như thể đứng trước mặt cô lúc này không chỉ là một người đàn ông đã luống tuổi với mái tóc đã điểm bạc, mà còn lấp ló hình bóng cậu thiếu niên ngây thơ năm nào, tha thiết hứa với chị rằng mình nhất định phải lên thành phố ăn học để đổi đời, để một ngày nào đó kéo chị ra khỏi cảnh nghèo khó, cho chị được sống một đời sung sướng. “Em trở về rồi.” Cô nói “Cuối cùng em cũng trở về.” Tần Mậu cúi gằm mặt xuống nền gạch lạnh ngắt. Mấy dải lụa trắng vẫn siết quấn chặt cứng quanh người hắn. Hắn thừa hiểu chỉ cần Tần Chiêu muốn, những dải lụa ấy có thể dễ dàng nhấc bổng hắn lên như cái đêm kinh hoàng trước đó. Sự sợ hãi tột cùng bắt đầu xâm chiếm lấy tâm trí. Vì thế, thay vì tiếp tục chối bỏ thân phận trong vô vọng, hắn vội vã chuyển hướng, cố tìm cách chống chế để tự cứu lấy mình. “Chị … em biết chị hận em. Nhưng dù sao cũng đã trôi qua mấy chục năm rồi. Năm đó … em cũng đâu muốn mọi việc thành ra như vậy.” Tần Chiêu nhìn hắn, đôi mắt hun hút không chút gợn sóng: “Vậy em muốn mọi việc thành ra thế nào?” Tần Mậu nghẹn lại nhưng rất nhanh đã lấy lại giọng điệu của một người quen dùng lời lẽ và sự trải đời để thuyết phục người khác: “Ngày ấy nhà mình nghèo, cha mẹ đều mất, chỉ còn hai chị em nương tựa vào nhau. Chị vất vả nuôi em ăn học, em luôn ghi nhớ trong lòng chưa từng quên. Em chỉ muốn có một tương lai tốt hơn, muốn sau này thành đạt để chị không phải làm lụng vất vả nữa. Em đã nghĩ nếu có tiền, mọi chuyện rồi sẽ khác. Người ta đưa ra cơ hội đổi đời lớn như vậy, em làm sao có thể chôn chân mãi ở cái làng nghèo này …” “Vì vậy em nhận tiền của ông ta?” Tần Mậu cứng đờ người, lời thanh minh nghẹn ứ nơi cổ họng. Tần Chiêu tiến lên một bước. Dải lụa quấn quanh cổ tay hắn lập tức siết nghiến thêm một vòng, lực kéo dữ dội khiến hắn phải quằn quại cúi rạp người xuống nền gạch. “Em có biết ông ta muốn gì ở chị không?” “Em … em biết.” Hắn run rẩy đáp, giọng nhỏ như muỗi kêu. “Em biết mà vẫn nhận sao?” Tần Mậu lặng thinh không đáp nổi một lời. Tần Chiêu nhìn xoáy vào hắn, rồi bỗng cất tiếng cười khẽ. Tiếng cười đắng ngắt ngân lên giữa không gian tịch mịch, không một chút vui vẻ mà như chua chát đến tận cùng cho một kiếp người ngây dại. “Ngày trước, em nói muốn lên thành phố học. Chị dệt thêm một sấp lụa, em nói còn thiếu tiền. Chị nhận thêm việc, em lại nói học phí tăng. Chị không sợ mệt, cũng chẳng sợ một ngày nào thân xác này già nua tàn phai, chỉ sợ em không được đi học như mong muốn. Em từng nói chỉ cần chị cố giúp thêm vài năm, sau này em thành đạt sẽ đón chị đi, để chị không phải suốt ngày dệt lụa nữa. Chị đã tin em … Tin không sót một lời.” Tần Mậu cúi gằm đầu xuống, chẳng còn chút dũng khí nào để ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt cô. “Chị …” “Chị từng nghĩ, chỉ cần đợi em học xong, chị sẽ không cần phải cố như vậy nữa. Chị có thể lấy người mình yêu, có thể dựng lại căn nhà che mưa che nắng, có thể có một cuộc sống bình yên như bao người phụ nữ khác.” Tần Chiêu dừng lại, ánh mắt chuyển sang chiếc khung dệt. “Em có nhớ tấm áo cưới năm đó không?” Tần Mậu im bặt, đầu gối run lên bần bật. “Em đã nhìn thấy nó. Em thấy chị cặm cụi ngồi may từng mũi chỉ, em tưởng chị đã chịu nghe lời em, đã chấp nhận đi theo người đàn ông giàu có đó. Nhưng em có từng hỏi chị dù chỉ một câu không? Em có từng hỏi chị thật sự muốn cái gì không?” Tần Mậu bỗng ngẩng phắt đầu lên, giọng gắt gỏng: “Em chỉ nghĩ rồi chị cũng sẽ đồng ý thôi. Em đâu có ngờ chị lại làm đến cái mức cực đoan như thế.” “Vậy ra tất cả là lỗi của chị sao?” “Em không có ý nói thế.” “Nhưng trong đầu em đang nghĩ đúng như thế.” Tần Chiêu bình thản nhìn xoáy vào mặt hắn. “Em nghĩ chị đã tự nguyện nuôi em bao nhiêu năm thì chị phải có trách nhiệm nuôi em đến cùng. Em nghĩ chị từng từ bỏ người mình yêu một lần để lo cho em thì chị phải bỏ thêm một lần nữa. Chị đã đáp ứng tất cả những gì em đòi hỏi, đến khi chị muốn giữ lại chút hạnh phúc cuối cùng cho riêng mình, em lại quay sang trách chị không chịu tiếp tục hy sinh cho em.” Tần Mậu bắt đầu hoàn toàn mất bình tĩnh. Hắn điên cuồng gồng mình vùng vẫy, cố dứt ra khỏi những dải lụa đang quấn lấy cơ thể. “Em đã nói rồi, em chưa từng muốn chị phải chết. Nếu lúc đó chị đi theo người ta, em sẽ có tiền, có thể tiếp tục con đường học hành, sau này đỗ đạt thành tài rồi em nhất định sẽ quay về đón chị. Em đã tính toán hết như vậy rồi mà.” Tần Chiêu đứng bất động, thân ảnh trắng muốt như đông cứng lại giữa không trung. Một lúc lâu sau, cô mới cất tiếng hỏi, giọng bình thản đến mức đáng sợ: “Em vừa nói cái gì?” Tần Mậu giật mình nhận ra mình vừa lỡ lời nhưng tình thế đã không còn đường lui. Hắn cuống cuồng tìm cách chắp vá, giọng rối rít chối bỏ: “Ý em là … em không hề muốn chị phải chết. Em chỉ cần chị chịu đựng qua cái chuyện đó, đợi em tìm được chỗ đứng trên thành phố rồi mọi thứ chắc chắn sẽ tốt hơn. Em thật sự không biết chị lại nghĩ quẩn đến mức …” “Em không biết?” Tần Chiêu nhìn xoáy vào mặt hắn. “Vậy em đã bao giờ từng mở miệng nghĩ đến việc hỏi ý chị chưa? Em đã bao giờ nghĩ chị cũng biết sợ, biết đau khổ, biết tủi hổ khi phải bước chân vào nhà của người đàn ông đó chưa? Trong đầu em lúc nào cũng chỉ tính toán việc mình sẽ mất tiền, mất cơ hội, mất tương lai. Em chưa bao giờ mảy may nghĩ xem nếu chị nhắm mắt bước đi rồi, chị sẽ phải sống tiếp những ngày tháng còn lại như thế nào.” Tần Mậu nghiến răng, gương mặt hắn méo mó vì sợ hãi và tức giận. Lúc này, hắn hoàn toàn trút bỏ lớp vỏ ngụy trang điềm tĩnh, tri thức của một nhà văn nổi tiếng. “Vậy chị muốn em làm sao bây giờ?” Hắn gào lên, giọng lạc đi “Em đã lỡ nhận tiền của ông ta rồi. Nếu chị không ngủ với ông ta, ông ta sẽ đòi lại bằng sạch, lúc đó em lấy tiền đâu ra mà trả? Chị không chịu giúp em, em biết làm thế nào? Em chỉ còn một con đường duy nhất đó để đi thôi.” “Em hoàn toàn có thể chọn cách nói thật với chị.” “Rồi sao? Nói thật thì chị sẽ có tiền trả thay cho em chắc? Chị sẽ sẵn sàng bỏ hết những gì chị hằng mong muốn để cứu lấy em thêm một lần nữa sao? Chị đã làm cái việc đó suốt bao nhiêu năm trời rồi, rốt cuộc thì có gì khác biệt đâu chứ?” “Chị nuôi em lớn lên.” Cô nói chậm rãi. “Chị chưa bao giờ đòi em phải báo đáp bằng tiền bạc hay danh tiếng. Chị chỉ mong sao em sống cho tử tế. Nhưng em lại dùng những năm tháng hy sinh đó để ép chị trả thêm một món nợ mà chị chưa từng mắc phải.” Tần Mậu cúi gằm mặt, không sao chống đỡ nổi ánh nhìn ấy. Những dải lụa quanh người hắn bắt đầu kéo lên. Hai chân hắn dần rời mặt đất, thân thể bị nhấc khỏi nền gạch. Hắn gào lên trong hãi hùng, hai tay cuống cuồng bấu chặt lấy dải lụa đang siết ở cổ tay nhưng hoàn toàn vô vọng, không cách nào thoát ra. “Chị … Chị dừng lại … Em biết sai rồi” Tần Chiêu nhìn hắn, đôi mắt không còn chút ấm áp hay chút tình máu mủ năm nào. “Em biết sai ở đâu?” Tần Mậu há miệng nhưng không nói được. Hắn chẳng thể trả lời nổi câu hỏi ấy, chỉ biết lặp đi lặp lại trong cơn hoảng loạn rằng mình đã biết lỗi, rằng chuyện đã qua lâu rồi, rằng hắn không muốn chết. Hắn nhắc đến danh tiếng, đến cuộc sống hiện tại, đến tất cả những gì hắn đã cố gắng xây dựng được sau bao năm ở thành phố. Cho đến tận phút giây này, khi bị treo lơ lửng, ngạt thở ở nơi này, điều duy nhất hắn lo sợ mất đi … vẫn chỉ là cuộc đời và vinh hoa của chính bản thân hắn.
Chương trước Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ