Chương 3: Tần Chiêu (2)

Sáng hôm sau, tôi tỉnh dậy vì tiếng gõ cửa của Hoài An. Đêm qua xảy ra chuyện như vậy, cả người tôi mệt rã rời nên vừa đặt lưng xuống giường tôi đã ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Đến lúc mở mắt, nắng ngoài cửa sổ đã chiếu qua nửa tấm rèm. Tôi với tay mò cái điện thoại, vừa liếc thấy con số trên màn hình liền giật mình ngồi dậy. Mắt cá chân phải nhói lên một cái, khiến tôi phải chống tay lên thành giường một lúc mới đứng vững được. “Dậy chưa? Xuống ăn sáng.” Giọng Hoài An vọng từ ngoài cửa vào. “Tới rồi, tới rồi! Cậu không cho người ta ngủ thêm mười phút được à?” “Được. Vậy tôi xuống ăn trước, lát nữa cậu tự đi tìm đường đến trung tâm.” Tôi lập đật xỏ dép, khập khiễng bước ra mở cửa. “Thôi đi. Cậu nói chuyện có tình người chút đi chứ.” Hoài An nhìn tôi, sau đó hạ mắt xuống vết thương dưới chân. “Tôi thấy cậu vẫn còn sức cãi nhau, chắc không cần tôi dìu nhỉ?” “Cần chứ. Bệnh nhân thì có quyền được chăm sóc.” “Thế lúc nãy ai đòi ngủ thêm?” “Tôi nói vậy để thể hiện thái độ bất mãn, chứ cậu làm thật thì còn gì là tình bạn.” Hoài An bật cười, nghiêng người nhường lối cho tôi đi ra. “Được rồi, ông bạn. Đi chậm thôi, đừng có ngã. Tôi không muốn sáng ngày đầu điều tra đã phải đưa người vào bệnh viện.” Tôi lườm hắn một cái rồi vịn tay vào lan can từng bước mò xuống cầu thang. Vết thương không sâu, tối qua Hoài An cũng đã xử lý sơ qua nhưng cứ mỗi lần đặt chân xuống đất, chỗ da bị rách lại nhói lên. Đi chậm thì vẫn ráng được chứ nếu muốn bước nhanh thì phải chịu đau. Nghĩ đến chuyện còn phải đi hỏi người trong làng, tôi bắt đầu thấy hối hận vì tối qua đã không suy nghĩ cẩn thận hơn. Nhà ăn khách sạn không đông lắm. Hoài An chọn cái bàn cạnh cửa sổ, trên bàn đã có sẵn hai phần cháo nóng và một đĩa bánh bao. Điện thoại của hắn đặt bên cạnh, màn hình đang hiện mấy tấm ảnh chụp chiếc khung dệt trước khi xảy ra sự cố. Tôi kéo ghế ngồi xuống, cầm thìa khuấy cháo rồi liếc qua màn hình. “Cậu xem từ sáng đến giờ vẫn chưa tìm ra gì à?” “Ảnh chụp chỉ cho thấy kết cấu bên ngoài” Hoài An không ngẩng đầu “Tôi muốn xem hồ sơ phục chế, nhất là những chỗ đã thay gỗ với sửa mộng. Nhưng chuyện tối qua không thể chỉ dựa vào kết cấu chiếc khung mà giải thích được.” “Thế xem xong hồ sơ là tìm ra con ma núp ở đâu chắc?” Hoài An ngẩng lên nhìn tôi. “Nếu dễ vậy thì tối qua chúng ta đã không phải chạy bán sống bán chết.” “Ít ra cậu cũng nên nghĩ ra cách nào đó để lần sau tôi không phải dùng cái chân què mà chạy chứ.” “Lần sau?” Hắn nhướng mày. “Cậu còn tính có lần sau à?” Tôi nghẹn ngang, sau đó cúi xuống múc thìa cháo: “Thì tôi giả sử thôi. Cậu đừng có bắt bẻ từng chữ như vậy.” Hoài An không trêu tôi nữa, đẩy đĩa bánh bao sang gần hơn: “Ăn đi. Hôm nay đi đứng khó khăn thì cứ bảo, đừng có cố đi theo La Khải. Lão đó mà thấy có manh mối là quên luôn người đi cùng đấy.” Tôi gật đầu. Chuyện đó chẳng cần hắn nhắc tôi cũng thừa biết. La Khải tối qua vừa bị thương ở vai mà chưa đầy nửa tiếng đã nghĩ đến chuyện đặt tít cho bài báo mới. Nếu hôm nay tìm được một đầu mối đáng chú ý, có trời mới giữ nổi chân hắn. Quả nhiên, chưa đầy mười phút sau La Khải đã mò xuống. Hắn lò dò đi vào nhà ăn, tay hí hoáy lướt điện thoại. Thấy hai đứa chúng tôi, hắn kéo ghế ngồi xuống, cố làm ra vẻ bình thường nhưng lúc đưa tay lấy cốc nước vẫn không giấu được vẻ nhăn nhó. Hoài An nhìn hắn. “Vai thế nào rồi?” “Vẫn còn trên người, chưa rớt ra.” Tôi liếc cái tay đang gồng lên của hắn, không nhịn mà nói đùa tiếp: “Sao? Báo chí dạo này tuyển cả thương binh đi lấy tin à?” La Khải bĩu môi, kê ly nước xuống bàn: “Đau thì đau, việc thì vẫn phải làm. Hai ông ăn xong chưa? Hai người đúng là bạn tốt, người nào cũng chờ tôi gãy nốt cái vai.” “Ông cứ yên tâm” Tôi nói “Chúng tôi sẽ cố gắng tìm người khiêng ông với giá hợp lý.” La Khải giơ ngón tay chỉ về phía tôi, định phản bác nhưng cuối cùng lại bật cười hô hố. Hắn đặt điện thoại lên bàn, mở sổ ghi chép rồi hỏi: “Bây giờ đến trung tâm trước, sau đó mới vào làng đúng không?” “Đúng” Hoài An đáp. “Lục Thành sẽ giúp chúng ta xem lại hồ sơ chiếc khung và thông tin về nhà họ Tần. Có được địa chỉ, biết gia đình đó gồm những ai rồi mới đi hỏi người trong làng.” La Khải gật đầu, cặm cụi ghi vội vài dòng. “Tôi sẽ hỏi thêm mấy người từng sống ở khu làng cũ. Cứ ngồi chờ đống giấy tờ thì có mùa quýt mới ra việc. Chuyện chục năm trước, người dân trong làng có khi nhớ rõ hơn hồ sơ nhiều.” “Ông muốn hỏi ai thì hỏi” Hoài An nói “nhưng đừng tự ý chạy lung tung. Chúng ta chưa biết chuyện tối qua là gì, cũng chưa rõ chiếc khung có còn nguy hiểm hay không.” “Biết rồi. Tôi ngu gì mà mò lại tìm cái khung quỷ đó một mình.” Tôi liếc hắn. “Ông nói câu đó mà chính ông có tin không?” La Khải cắn một miếng to đầy bánh bao rồi thản nhiên đáp: “Tôi tin chứ. Còn cậu có tin hay không thì kệ cậu.” Hoài An lắc đầu, không tiếp tục tranh luận. Ăn sáng xong, cả ba gọi xe đến thẳng Trung tâm bảo tồn. Suốt quãng đường, La Khải vẫn tranh thủ xem lại những ghi chép tối qua, còn tôi ngồi cạnh cửa sổ, cố giữ cho chân phải không va vào thành ghế mỗi khi xe đi qua ổ gà. Đến nơi, Lục Thành đã ngồi chờ sẵn trong văn phòng. Trông anh ta có vẻ thiếu ngủ, trước mặt là một tập hồ sơ ố vàng cùng chiếc máy tính đang sáng màn hình. Sự cố tối qua khiến toàn bộ công việc phục chế vứt sọt rác nhưng trung tâm vẫn cần kiểm kê thiệt hại và rà soát lại những tài liệu liên quan đến chiếc khung dệt. Thấy chúng tôi bước vào, Lục Thành lập tức đứng dậy. “Chân cậu sao rồi? Đỡ hơn tí nào chưa?” Anh ta hỏi tôi. Tôi xua tay, bước lại gần bàn: “Vẫn đi được. Chỉ là hôm nay tôi không nhận nhiệm vụ chạy nhanh.” “Vậy thì tốt. Chứ nếu cậu cũng nằm một chỗ thì Hoài An chắc phải tự đi hỏi chuyện hết cả làng.” Hoài An kéo ghế ngồi xuống. “Tôi đang tính để cậu ấy ở lại trung tâm, vừa hay có người trông đồ.” Tôi quay sang lườm hắn. “Tình bạn của chúng ta chỉ đáng giá bằng một người trông đồ thôi hả?” “Không. Còn có thể phụ trách gọi cơm trưa.” Lục Thành cười thành tiếng, vừa lật giở mấy trang giấy đã ố vàng, hắng giọng kéo cả lũ về thực tế: “Đây là toàn bộ tư liệu lưu trữ về cái khung dệt đó. Lúc tiếp nhận, trung tâm chỉ ghi nhận nó là vật dụng gia truyền của một gia đình làm nghề dệt lâu đời trong làng. Hồ sơ bàn giao qua loa lắm, không có nhiều thông tin về từng đời chủ sở hữu.” Hoài An lật qua từng trang. Những giấy tờ bên trong chủ yếu ghi kích thước, chất liệu gỗ, tình trạng mối mọt và các hạng mục cần sửa chữa. Một số mối ghép đã được gia cố, trục cuốn từng thay bộ phận nhưng không có tên người chế tác ban đầu. Phần ghi về nguồn gốc chỉ nhắc đến nhà họ Tần. “Có biên bản bàn giao không?” Hoài An hỏi. “Có, nhưng người bàn giao mất lâu rồi. Khi đó trung tâm chưa có điều kiện kiểm kê kỹ như bây giờ. Một số đồ vật được ghi chung theo nhóm, ảnh chụp cũng không đầy đủ.” La Khải ghé lại gần, chỉ vào phần ghi chú về các lần sửa chữa. “Những chỗ thay gỗ này có biết được sửa từ khi nào không?” Lục Thành lắc đầu. “Chưa xác định được. Có thể là sửa từ nhiều năm trước, khi chiếc khung vẫn còn được dùng trong gia đình. Muốn biết rõ phải đối chiếu với ảnh cũ, mà giờ kiếm lại cũng khó khăn lắm.” Hoài An rút điện thoại ra, mở một tấm ảnh chụp phần chân khung trước sự cố. “Tôi để ý một số mối ghép có dấu hiệu đã tháo ra rồi lắp lại. Không nhất thiết liên quan đến chuyện tối qua nhưng nên kiểm tra xem những lần sửa chữa đó có được ghi nhận không.” “Được, tôi sẽ cho người tìm toàn bộ hồ sơ cũ.” Lục Thành quay sang nhân viên phụ trách lưu trữ, dặn kiểm tra cả những bản ghi chưa được số hóa. Tôi nhìn đống giấy tờ nằm ngổn ngang trên bàn không khỏi thấy thất vọng. Cứ tưởng sáng nay có thể tìm ra một manh mối rõ ràng, hóa ra gom lại cũng chỉ có mấy dòng ghi chép ngắn ngủi. Một chiếc khung dệt đã qua tay nhiều thế hệ, gia đình họ Tần đã bỏ làng từ mấy chục năm trước, muốn bới lại chuyện cũ rõ ràng chẳng dễ ăn chút nào. “Lục Thành” Tôi hỏi “Anh có biết nhà họ Tần trước đây ở đâu không? Tối qua anh chỉ nói gia đình đó đã dọn đi thôi.” “Biết đại khái thôi. Nhà họ ở khu làng cũ, gần con đường phía đông. Nhưng căn nhà bỏ không lâu lắm rồi, chẳng còn ai ở cả. Trước khi đi, tôi kiếm mấy người dẫn các cậu đến.” Hoài An gật đầu, ngón tay vẫn lật góc tờ khai “Trước hết cứ xem hết hồ sơ đã. Sau đó chúng ta vào làng hỏi người lớn tuổi. Nếu gặp được ai từng biết Tần Chiêu thì càng tốt.” Lục Thành ngẩng lên. “Tần Chiêu?” “Người anh nhắc đến tối qua. Cô gái dệt bạch ty giỏi nhất vùng.” “À là cô ấy.” Anh ta gõ nhẹ ngón tay lên mặt bàn, mắt nheo lại như đang rà lại ký ức “Tôi chỉ nghe người già kể lại thôi. Hồi đó cô ấy nổi tiếng vì tay nghề dệt bạch ty nhưng chuyện gia đình thì tôi chịu. Có lẽ phải hỏi những người từng sống cùng thời.” “Cô ấy có anh chị em không?” La Khải chồm tới hỏi. “Trong hồ sơ không ghi. Tôi chỉ nhớ nghe nói nhà họ Tần có một người con gái dệt vải giỏi lắm, còn chuyện những người khác trong nhà thì không rõ.” La Khải ghi lại cái tên Tần Chiêu, rồi hỏi thêm về người đã bàn giao chiếc khung. Lục Thành lắc đầu, cho biết người ấy chỉ là người trông nom căn nhà sau khi gia đình chuyển đi, không phải người thân của nhà họ Tần. Những thông tin còn lại phải tìm trong danh mục cũ hoặc hỏi người dân địa phương. Trong lúc nhân viên đi tìm hồ sơ, Hoài An xem lại bản ghi chép phục chế của Trình Hạo. “Trong bản ghi chép phục chế của Trình Hạo có vài chỗ đánh dấu thay thế nhưng sao không thấy ghi chú gì về lịch sử sửa chữa trước đây?” Hoài An giơ tờ giấy lên hỏi. “Chịu thôi” Lục Thành thở dài “Hồ sơ cũ để lại sơ sài lắm, Trình Hạo cũng chỉ ghi nhận trạng thái lúc tiếp nhận thôi.” Hoài An nheo mắt nhìn tờ giấy, hỏi tiếp: “Thế có ảnh chụp lại từng bộ phận trước khi các anh tháo rời ra không?” “Có chứ” Lục Thành xoay nhẹ màn hình máy tính về phía Hoài An “Bản chính lưu thẳng trong máy này, tôi cũng có sao lưu lại một bản.” Trình Hạo đang ở khu làm việc phía sau. Khi được gọi đến, hắn mang theo tập tài liệu phục chế, cổ tay quấn băng sau sự cố tối qua. Hắn đặt tài liệu lên bàn rồi giải thích từng hạng mục. “Chiếc khung đã cũ hơn vẻ ngoài của nó nhiều. Một số thanh gỗ được thay từ trước, mối ghép cũng nát bét chứ chẳng còn nguyên bản. Tôi chỉ gia cố những vị trí cần thiết, trung tâm muốn giữ nguyên cấu trúc gốc nên không cho thay hết.” Hoài An chỉ vào tấm ảnh: “Mấy thanh gỗ khác loại ở phần chân khung này thì sao?” “Chắc do mấy đợt sửa chữa tự phát từ xưa thôi” Trình Hạo lắc đầu “Không có ảnh cũ với hồ sơ đối chiếu, chẳng biết ai đóng vào.” La Khải nghe đến đó liền hỏi: “Nếu có bộ phận nào bị tráo hay thay chui mà không ghi chép lại, làm sao mấy ông biết được?” Trình Hạo ngước mắt nhìn La Khải, giọng lạnh đi: “Thì phải so sánh ảnh chụp với hiện trạng. Nhưng không phải cứ khác nhau là có người cố tình thay đổi. Đồ xài qua mấy chục năm, hỏng đâu thay đó là chuyện bình thường.” “Vậy anh có thể cho chúng tôi xem ảnh ban đầu không?” La Khải giục “Được chứ, nhưng phải nhờ bên lưu trữ mở dữ liệu,” Trình Hạo gật đầu, giọng điệu thản nhiên. “Tôi không có quyền tự ý mang hồ sơ ra ngoài.” Tuy nhiên, khi nhân viên đưa đến danh sách các bộ phận đã tháo ra trong quá trình phục chế, Trình Hạo xem khá nhanh rồi dừng lại ở một dòng ghi số hiệu. Hắn nói cần đối chiếu lại vì số hiệu trong danh sách có thể không khớp với ảnh chụp ban đầu. La Khải lập tức ghi lại con số đó. Sau khi Trình Hạo rời đi, Hoài An dặn Lục Thành nên giữ nguyên mấy phần còn lại cho đến khi kiểm tra xong. Lục Thành đồng ý rồi giục cậu nhân viên tiếp tục lục kho. Đến gần trưa, họ mới tìm được một bản danh mục viết tay, ghi nhận những vật dụng được chuyển khỏi căn nhà họ Tần. Danh mục không có nhiều thông tin nhưng xác nhận chiếc khung dệt từng được sử dụng trong chính căn nhà ấy trước khi được đưa về trung tâm. “Ít nhất cũng biết được nơi cần tìm rồi” La Khải đóng quyển sổ tay lại “Giờ vào làng hỏi người sống cùng thời với Tần Chiêu. Tôi không tin cả làng lại chẳng còn ai nhớ.” Lục Thành gọi điện ngay cho một ông cụ tên Phùng Đức Thịnh, người từng làm nghề dệt khi còn trẻ. Ông cụ sống ở khu làng cũ, tuổi đã cao nhưng vẫn còn minh mẫn. Nghe chúng tôi muốn hỏi về nhà họ Tần, ông đồng ý tiếp chuyện vào buổi chiều. Trước khi rời trung tâm, cả lũ ăn trưa ở một quán nhỏ gần con suối. Tôi vừa ngồi xuống đã duỗi chân phải ra, loay hoay tìm cách đặt sao cho mắt cá không bị cạ vào chân bàn. Hoài An thấy vậy liền kéo chiếc ghế kế bên lại gần: “Cứ kê lên đây. Ngồi co chân suốt lát nữa lại đau hơn.” Tôi nhìn chiếc ghế rồi nhìn hắn. “Cậu cũng có lúc tử tế ghê.” “Cậu nói nhỏ thôi, để người khác nghe được lại tưởng tôi thường xuyên ngược đãi cậu.” “Thế thì cậu phải thể hiện tốt hơn nữa mới được.” Hoài An bật cười, gọi thêm cho tôi một bát canh. La Khải ngồi đối diện, vừa ăn vừa lướt điện thoại, thi thoảng lại dừng ở một trang tin cũ. Tôi hỏi hắn đang xem gì, hắn bảo chỉ tìm thử những bài viết liên quan đến lịch sử làng nghề, xem có ai từng nhắc đến nhà họ Tần hay không. “Ông tìm được gì chưa?” “Chưa. Trên mạng toàn bài giới thiệu làng dệt, kỹ thuật làm tơ với mấy câu chuyện về nghề truyền thống. Chuyện riêng một gia đình từ mấy chục năm trước thì ai mà thèm viết.” "Vậy lát vào làng nhớ phải hỏi cho kỹ, đừng có mà hỏi mấy chuyện tào lao đấy?" La Khải úp điện thoại xuống. “Tôi làm nghề này bao nhiêu năm rồi, còn cần cậu dạy à?” “Cần chứ. Tối qua ai vừa bị thương đã đòi giật tít khung cửi ma ám?” La Khải chỉ vào tôi, tuyên bố rằng sau khi vụ này kết thúc, hắn nhất định sẽ viết một bài riêng về những người bạn không biết trân trọng tài năng của phóng viên. Tôi bảo cứ viết nhưng nhớ gửi bản thảo cho tôi đọc trước, kẻo hỏng hình tượng trai đẹp của tôi. “Tôi không thèm cãi với cậu, nhưng cái tên Tần Chiêu … tôi thề là tôi đã đọc qua ở đâu rồi, ấn tượng lắm.” La Khải ăn nốt thìa cơm, vẻ mặt bắt đầu trầm xuống suy nghĩ. Ăn xong, cả nhóm theo Lục Thành đến nhà ông Phùng. Căn nhà nằm cuối một con ngõ nhỏ, trước sân có vài bó tơ đang phơi và một chiếc khung dệt cũ đặt sát hiên. Ông cụ tóc bạc phơ, lưng hơi còng nhưng bước đi vẫn còn nhanh nhẹn. Nghe Lục Thành giới thiệu xong, ông mời chúng tôi vào nhà, rót trà mời chúng tôi uống rồi hỏi thẳng mục đích. Hoài An trình bày chiếc khung dệt của nhà họ Tần vừa xảy ra sự cố trong lúc kiểm kê, trung tâm muốn xác minh thêm nguồn gốc và những người từng sử dụng nó. Ông Phùng nghe đến họ Tần thì ngẫm nghĩ một lúc, sau đó mới hỏi: “Các cậu muốn hỏi nhà họ Tần hay muốn hỏi con bé Tần Chiêu?” La Khải lập tức ngồi thẳng người. “Ông biết Tần Chiêu ạ?” “Biết chứ.” Ông Phùng gật gù, ánh mắt đăm đắm nhìn ra cỗ khung dệt ngoài hiên “Hồi đó nó là một trong những đứa con gái dệt giỏi nhất làng. Người ta mang tơ đến nhờ nó dệt, có khi phải chờ mấy ngày mới lấy được hàng. Nó làm cẩn thận, tay nhanh thoăn thoắt mà đường tơ lại đều tăm tắp. Mấy tấm bạch ty nó dệt mỏng dính, cầm nhẹ bẫng tưởng như không có gì nhưng người khác bắt chước mãi cũng không được.” Ông kể chuyện như thể đang nhắc đến người cháu hàng xóm mới gặp hôm qua. Trong ký ức của ông, Tần Chiêu gắn liền với những sào tơ phơi ngoài sân, những buổi chiều ngồi cặm cụi bên khung dệt và ánh đèn vẫn sáng đến muộn màng khi những gia đình khác đã nghỉ ngơi. “Cô ấy sống ở căn nhà nào vậy ông?” Hoài An hỏi. “Cuối con đường phía đông, qua cây cầu nhỏ rồi rẽ vào. Căn nhà có cái sân rộng lắm, trước cửa ngày xưa trồng một cây dâu. Bây giờ nhà đó bỏ hoang lâu rồi, chắc chỉ còn bức tường cũ với mái ngói thôi.” “Hồi đó trong nhà gồm những ai hả ông?” “Cha mẹ nó mất sớm. Nhà chỉ còn hai chị em, Tần Chiêu và thằng em trai tên Tần Mậu. Con bé hơn em nó nhiều tuổi nên từ nhỏ đã một tay quán xuyến hết việc trong nhà. Sau này nó làm dệt vải lụa kiếm tiền, còn thằng em đi học.” Chúng tôi nhanh chóng trao đổi ánh mắt với nhau. Cái tên Tần Mậu là một phát hiện mới, lần đầu tiên chúng tôi nghe thông tin về người em trai này. Trước đó, hồ sơ của trung tâm không ghi rõ gia đình có bao nhiêu người, còn Lục Thành cũng chỉ biết những lời truyền miệng về cô gái dệt bạch ty. “Tần Mậu học ở đâu vậy ông?” La Khải hỏi. “Lúc đầu học ngay trường trong vùng, sau nghe nói muốn lên thành phố học tiếp. Chuyện học hành của nó thì tôi không biết rõ lắm, chỉ nhớ chị nó làm lụng vất vả cực kỳ. Có hôm trời đã tối, sương xuống lạnh buốt mà nó vẫn ngồi bên khung dệt. Tôi đi bắt ếch đêm đi ngang qua nhà nó, có hỏi sao nó chưa ngủ, nó bảo cố làm cho xong mớ hàng này, sau nhận thêm việc thì mới đủ tiền gửi cho em.” “Một mình cô ấy nuôi em trai ăn học sao ông?” “Thời đó nhà nó còn ai thân thích nữa đâu.” Ông Phùng nhấp ngụm trà chát, thở dài “Người trong làng ai cũng biết con bé chịu thương chịu khó. Chị lo cho em ăn học là chuyện thường tình, nhà nào nghèo thì phải thắt lưng buộc bụng mà đùm bọc lấy nhau thôi.” Trong mắt dân làng thời đó, chuyện một người chị kiếm tiền nuôi em trai ăn học không phải chuyện gì đáng để ngạc nhiên. Không ai nghĩ việc hy sinh ấy có thể trở thành gánh nặng tàn nhẫn đè lên cuộc đời một cô gái. “Thế những năm cuối cùng Tần Chiêu ở đây thì sao hả ông?” La Khải trầm giọng hỏi tiếp. Ông Phùng lại đăm chiêu, ngón tay nhăn nheo gõ nhè nhẹ lên thành bàn gỗ: “Nó vẫn dệt vải thôi nhưng sau đó thì nhà ấy xảy ra biến cố. Đầu đuôi thế nào tôi chẳng rõ thực hư, chỉ biết tin nó đột ngột qua đời ngay trong căn nhà ấy. Mới hôm trước còn thấy nó đang dệt vải bên cửa sổ, hôm sau đã nghe tin nó chết. Tang sự diễn ra chớp nhoáng lắm. Còn thằng Tần Mậu thì … sau đám tang chị nó ít lâu cũng khăn gói rời làng đi biệt, từ đó không thấy quay lại nữa.” “Cô ấy chết vì bệnh hay vì tai nạn?” Tôi tò mò hỏi. Ông Phùng lắc đầu. “Tôi không rõ. Lúc ấy trong làng cũng có người xì xầm bảo cái chết của nó không bình thường nhưng cụ thể ra sao thì chẳng ai rõ, chắc chỉ có Tần Mậu là rõ nhất thôi. Dân làng cứ lời ra tiếng vào được dăm ba bữa, rồi ai lại lo việc nấy, chuyện cũ cứ thế trôi dần rồi chẳng ai buồn nhắc lại nữa.” “Còn Tần Mậu?” La Khải hỏi. “Sau khi rời làng, ông ấy có trở về lần nào nữa không?” “Tôi chưa từng nghe thấy” Ông cụ thở dài “Nó đi biền biệt luôn, không thấy bén mảng về làng lần nào. Đám trẻ thời đó cứ dắt díu nhau lên thành phố làm ăn, đứa thì thi thoảng gửi dăm lá thư về, đứa thì bặt âm vô tín. Thằng Mậu rơi vào cảnh nào thì tôi không biết.” La Khải ghi lại từng chi tiết. Hắn hỏi thêm về những người từng dự đám tang nhưng ông Phùng chỉ nhớ một vài cái tên, trong đó có Chu Vĩnh Sơn, người sống cách nhà họ Tần không xa và lớn lên từ nhỏ cùng Tần Chiêu. “Vĩnh Sơn vẫn còn sống đấy” ông cụ nói. “Nó bây giờ ở phía nam làng. Nếu muốn hỏi chuyện riêng của Tần Chiêu, có lẽ nó biết nhiều hơn tôi.” Lục Thành gật đầu, hứa lát rời đây sẽ dẫn chúng tôi sang đó. Trước khi rời đi, Hoài An hỏi liệu ông Phùng có từng nghe chuyện chiếc khung dệt xảy ra điều gì lạ hay không. Ông cụ nhìn hắn, vẻ mặt khó hiểu: “Chiếc khung ấy làm sao cơ? Nó dùng mấy mươi năm thì cũ kỹ hỏng hóc là chuyện bình thường, chứ tôi sống bằng tuổi này chưa từng nghe chuyện ma quỷ gì bám vào nó cả.” Câu trả lời khiến tôi không biết nên nói gì hơn. Nếu chiếc khung vốn chỉ là một vật dụng gia truyền bình thường, vậy cái quái gì đã xảy ra đêm qua? Chúng tôi vẫn chưa có cơ sở để trả lời. Hoài An cũng biết ý không hỏi thêm, chỉ lịch sự cảm ơn ông Phùng rồi đứng dậy xin phép đi về. Nhà Chu Vĩnh Sơn nằm ở phía nam làng. Trước sân có giàn cây leo che gần nửa mái hiên, bên cạnh cửa là một chiếc ghế gỗ đã mòn bóng ở tay vịn. Người mở cửa là một ông già gần bảy mươi mấy tuổi, lưng thẳng tắp. Ông nhận ra Lục Thành, sau đó mới nhìn sang chúng tôi. “Có chuyện gì vậy cháu?” Lục Thành nhanh nhảu giới thiệu rằng Hoài An đang giúp trung tâm kiểm tra chiếc khung dệt cũ, còn chúng tôi muốn hỏi thêm chút chuyện về gia đình họ Tần. Nghe đến tên ấy, Chu Vĩnh Sơn chỉ đứng yên một lúc rồi nghiêng người chừa khoảng trống mời chúng tôi vào nhà. Căn nhà không rộng nhưng đồ đạc được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp. Trên kệ gần cửa sổ đặt một tấm ảnh cũ được lồng trong khung nhỏ. Trong ảnh là một cô gái trẻ, tóc buộc gọn sau gáy, trên người mặc chiếc áo vải giản dị. Cô không nhìn thẳng vào ống kính mà hơi nghiêng đầu về phía người chụp, khóe miệng nở một nụ cười rất nhẹ. Chu Vĩnh Sơn nhận ra ánh mắt tôi dừng ở tấm ảnh, bèn lấy xuống đặt lên bàn. “Tần Chiêu đấy.” Hoài An nhìn tấm ảnh rồi hỏi: “Ông là người thân của cô ấy?” “Cô ấy là vợ sắp cưới của tôi.” Câu trả lời khiến cả căn phòng bỗng trở nên yên lặng. Chu Vĩnh Sơn đặt tấm ảnh trở lại kệ, thong thả rót mấy chén trà nóng mời chúng tôi rồi ngồi xuống chiếc ghế đối diện. “Tôi và Tần Chiêu lớn lên cùng nhau. Nhà tôi chỉ cách nhà cô ấy vài bước chân. Hồi bé, sáng nào Chiêu cũng mang tơ ra sân phơi, còn tôi đi học ngang qua. Có hôm thấy nặng tôi giúp cô ấy bê hộ thùng nước, hôm nào tiện tay cô ấy dúi cho tôi một nắm hạt rang.” Ông mỉm cười xót xa khi nhắc lại những kỷ niệm vụn vặt ấy. Tần Chiêu trong lời kể của ông không phải một người phụ nữ chỉ biết hy sinh, mà là cô gái trẻ tràn đầy sức sống, cũng từng tranh phần bánh ngon, biết bật cười mỗi khi thấy ông làm hỏng việc và từng ngồi bên bờ mương đợi ông đi làm về để luyên thuyên dăm ba câu chuyện chẳng đâu vào đâu. Lớn lên, mối duyên ấy cứ thế tự nhiên đơm hoa. Chu Vĩnh Sơn nhận làm đủ thứ việc lặt vặt trong làng, còn Tần Chiêu ngày càng bận với nghề dệt. Ông từng gom hết dũng khí ngỏ lời muốn rước cô về làm vợ. Cô chưa từng từ chối nhưng lần nào ông dạm hỏi chuyện cưới xin, Tần Chiêu cũng nhìn ông bằng đôi mắt áy náy rồi bảo hãy đợi thêm một thời gian nữa. Cô muốn kiếm đủ tiền để Tần Mậu có thể vững vàng học hành trên thành phố. “Ông có biết Tần Mậu sau này đi đâu không?” Hoài An hỏi. “Lên thành phố. Tôi nghe nói nó muốn học tiếp nhưng sau đó không có tin tức gì. Tôi không biết nó sống ở đâu, làm nghề gì. Lúc ấy trong nhà xảy ra chuyện, mọi người đều bận, tôi cũng không thể cứ chạy theo hỏi mãi.” “Chuyện xảy ra trước khi Tần Chiêu mất, ông có biết không?” Chu Vĩnh Sơn cúi nhìn bàn tay mình, ngón cái chậm rãi miết lên khớp ngón trỏ. “Tôi chỉ biết trước đó Tần Chiêu có chuyện buồn. Tôi có hỏi mấy lần, cô ấy đều bảo không sao, kêu tôi đừng lo. Khi ấy tôi cứ nghĩ cô ấy lại đang lo chuyện gia đình, nghĩ bụng đợi cô ấy tịnh tâm, lúc nào muốn nói thì tôi nghe. Ai ngờ …” Chu Vĩnh Sơn dừng lại, hai bàn tay đan vào nhau, hồi lâu mới nói tiếp. “Hôm cô ấy mất, tôi không có ở đó. Đến lúc nghe tin chạy qua thì đã muộn rồi.” Hoài An im lặng nghe một lúc rồi hỏi: “Hôm đó rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì? Người đầu tiên phát hiện ra cô ấy là ai?” “Là Tần Mậu. Khi tôi hay tin chạy đến thì Tần Chiêu đã mất rồi.” Chu Vĩnh Sơn siết hai bàn tay, giọng khàn đi. “Cô ấy tự tử, mất ngay bên khung cửi. Áo cưới đã được dệt xong, đặt ngay bên cạnh.” Tôi nhìn ông. “Áo cưới? Vậy lúc đó hai người đã định ngày cưới rồi sao?” Ông gật đầu, ánh mắt vô định “Cô ấy đã nói với tôi bao nhiêu lần rằng muốn tự tay dệt áo cưới. Tôi cứ nghĩ cô ấy may xong rồi thì chẳng bao lâu nữa chúng tôi sẽ thành thân. Nào ngờ …” Ông nghẹn lại, hồi lâu mới nói tiếp. “Tôi không hiểu. Nếu đã quyết định lấy tôi, đã chuẩn bị áo cưới xong rồi, tại sao cô ấy vẫn chọn con đường đó? Rốt cuộc cô ấy đã gặp chuyện gì mà đến tôi cũng không thể nói được?” Ông dừng lại, đưa tay vuốt mặt. Bầu không khí trong phòng chùng hẳn xuống, chẳng ai lên dám lên tiếng. La Khải vốn định hỏi tiếp, nhưng nhìn vẻ mặt Chu Vĩnh Sơn, hắn cũng đành nén câu hỏi lại. “Sau này ông có nghe được chuyện gì khiến cô ấy nghĩ quẩn không?” Hoài An hỏi. “Không.” Ông lắc đầu. “Tôi đã cố tìm hiểu nhưng những gì nghe được đều không rõ ràng. Tôi chỉ biết cô ấy đã chịu đựng chuyện gì đó trước khi mất. Còn chuyện ấy là gì, vì sao cô ấy không nói với tôi … tôi không biết.” Ông cúi nhìn hai bàn tay mình. “Điều khiến tôi day dứt nhất là hôm ấy tôi không ở bên cô ấy. Tôi cứ nghĩ chỉ cần đợi thêm một thời gian, chúng tôi sẽ được sống những ngày tháng bình yên như mong ước. Tôi đâu ngờ cô ấy đã không còn chờ được nữa.” Ông cúi gằm mặt, ngón tay run run miết liên tục lên đầu gối. Một lúc sau, ông mới kể tiếp, giọng nghẹn lại: “Chúng tôi đã chốt xong cả ngày cưới. Cô ấy còn bảo muốn tự dệt một tấm vải thật đẹp để may áo cưới. Tôi bảo mua vải ngoài tiệm cho nhanh nhưng cô ấy không chịu, nhất định muốn tự tay làm. Tôi cứ nghĩ còn thời gian, đợi cô ấy thu xếp xong chuyện của Tần Mậu rồi cưới cũng chưa muộn. Tôi còn định bụng sẽ đưa cô ấy ra chợ chọn đôi hoa tai mà cô ấy thích …” Ông ngồi lặng đi rất lâu, rồi khẽ thầm thì như nói với chính mình: “Đến giờ tôi vẫn nghĩ, giá mà hôm đó tôi đến tìm cô ấy, giá mà cô ấy chịu nói với tôi một câu thôi … Có khó khăn gì thì hai đứa cùng nghĩ cách, sao tôi lại để cô ấy một mình chịu đựng đến mức ấy …Vậy mà đến cuối cùng, tôi lại chẳng kịp làm gì cho cô ấy cả.” La Khải ngẩng đầu hỏi, giọng có phần bất ngờ: “Vậy ông chưa từng lập gia đình ạ?” “Chưa.” “Sao vậy ông? Mấy mươi năm rồi, ông không nghĩ đến chuyện tìm người đồng hành khác sao?” Chu Vĩnh Sơn nhìn hắn, cười nhạt: “Người mình muốn lấy đã không còn nữa thì lấy ai?” La Khải gãi gãi đầu, nhất thời không biết đáp lại như thế nào. Chu Vĩnh Sơn cũng chẳng để ý, ông thong thả quay đầu đưa mắt nhìn ra khoảng sân trước nhà. “Hồi đó tôi hứa với cô ấy nhiều chuyện lắm. Tôi bảo sau này cưới nhau rồi, tôi sẽ gánh vác mọi việc lớn nhỏ trong nhà để cô ấy không phải vất vả như trước nữa. Hai đứa sẽ dành dụm ít tiền, sửa lại căn nhà cho đàng hoàng rồi trồng thêm mấy luống hoa ngoài sân. Cô ấy còn bảo muốn có một khung cửi mới … Tôi cứ nghĩ những chuyện ấy còn nhiều thời gian để làm. Ai ngờ đến cuối cùng, tôi chẳng làm được cho cô ấy chuyện gì cả.” Trước khi chúng tôi ra về, Chu Vĩnh Sơn nhắc đến Tần Mậu. “Sau đám tang, Tần Mậu rời làng. Tôi có tìm hỏi vài người quen nhưng chẳng ai biết cậu ta đi đâu.” Chu Vĩnh Sơn chợt nhớ ra chuyện gì đó, ngập ngừng một lát rồi nói: “Trước khi Tần Chiêu mất, tôi từng thấy một người đàn ông lạ đến nhà họ mấy lần. Ăn mặc khá giả, tuổi cũng lớn hơn Tần Mậu nhiều. Có lần tôi hỏi, Tần Mậu bảo đó là thương nhân thường đến mua vải trong làng. Ông ta thấy cậu ta học hành tốt, nhà lại khó khăn nên có ý giúp đỡ, muốn đầu tư cho cậu ta ăn học.” “Ông có biết người đó tên gì không?” La Khải hỏi. Chu Vĩnh Sơn chầm chậm lắc đầu. “Tôi chưa từng nói chuyện với người đó, chỉ gặp thoáng qua mấy lần. Hồi đó Tần Mậu kể ông ta muốn tài trợ nó ăn học, còn bảo sau này có thể theo ông ta lên thành phố tiến thân. Tôi chỉ nhớ Tần Mậu vui lắm, gặp tôi là nói mãi chuyện được tiếp tục đi học. Sau này cậu ta rời làng, tôi cứ nghĩ chắc đã theo người thương nhân ấy đi rồi. Trước đó cậu ta chẳng nhắc đến chuyện rời đi vậy mà sau đám tang lại đi ngay, tôi nghĩ chắc hai người đã thu xếp từ trước.” Trên đường trở về, những gì Chu Vĩnh Sơn vừa kể về Tần Chiêu cứ quẩn quanh mãi trong tâm trí tôi. Cô gái ấy còn quá trẻ, đã ấn định ngày thành thân với người mình yêu, thậm chí còn có những dự định cho cuộc sống sau này. Vậy mà cuối cùng, cô lại tự kết liễu đời mình ngay bên khung cửi, nơi cô đã gắn bó suốt bao năm. Dân làng bấy lâu nay vẫn nhớ đến cô như một người chị tần tảo, hết lòng hy sinh vì tương lai của em trai. Nhưng qua cuộc gặp với Chu Vĩnh Sơn, tôi nhận ra cô ấy cũng có những mong muốn của riêng mình. Cô từng ao ước được khoác lên mình chiếc áo cưới, mong mỏi một mái ấm giản đơn bên người mình yêu. Vậy mà tất cả những ước mơ dịu dàng ấy cuối cùng lại vỡ tan thành từng mảnh vụn. Điều gì đã ép một cô gái đang tràn đầy hy vọng vào tương lai phải tìm đến con đường không lối thoát ngay trên chính chiếc khung cửi này? Buổi chiều, tôi đang chợp mắt ở khách sạn thì La Khải gọi điện đến. “Bây giờ hai người đang ở đâu? Tối nay đi ăn với tôi một bữa. Tôi vừa phát hiện chi tiết khá thú vị đấy.” Hoài An hỏi hắn đã tìm hiểu được chuyện gì. “Qua điện thoại nói không tiện. Bảy giờ tối, quán ăn gần cầu đá. Tôi kể cho hai người nghe.” Hoài An đồng ý nhưng không quên dặn dò hắn đừng tự ý chạy đến những nơi nguy hiểm. La Khải cười khà khà qua điện thoại, bảo hắn biết chừng mực rồi cúp máy. Tôi xoay người quay sang Hoài An. “Không biết lần này lão ấy lại đào được chuyện gì.” “Đợi tối gặp rồi biết.” Hoài An cất điện thoại “Hy vọng lần này lão chịu kể đầu đuôi trước khi tự chạy đi tìm chuyện khác.”
Chương trước Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ