Chương 9: Lời thề trước cửa thành

Vịnh đến khi cửa thành vừa mở được một cánh. Vịnh không đi một mình. Sau lưng Vịnh là bà Nhu, bác Lẫm và người của cả bốn nhà thuyền. Hai đứa trẻ hôm trước cũng theo tới, mỗi đứa ôm một mái chèo ngắn, chen giữa đám người lớn như hai con cá nhỏ lách qua một mẻ lưới. Lính giữ cửa đang kiểm sọt hàng. Thấy hơn hai chục người bến sông dồn tới, người đứng đầu hàng lính giơ ngang cán giáo. “Ai có việc thì nói. Không tụ trước cửa.” Vịnh dừng lại. “Chúng tôi đến nghe lời trình đường.” “Có thẻ gọi không?” “Không.” “Không thẻ thì tránh lối cho người vào chợ.” Vịnh không tránh. Những người phía sau cũng đứng nguyên. Không ai gây tiếng, nhưng sự im lặng của họ làm dòng người mang rau, cá và củi phải tách sang hai bên. Hùng cùng Thanh vừa từ trong thành bước ra thì nhìn thấy cảnh ấy. Chàng gọi: “Họ đến theo lời ta.” Người lính quay lại, nhận ra miếng thẻ công vụ bên hông Hùng liền hạ cán giáo. “Thưa Công Tự, bề tôi không nhận được lệnh cho dân bến vào.” “Không cần vào. Việc sẽ làm ở đây.” “Ngay trước cửa thành?” Thanh nhìn khoảng sân đất giữa hào và cổng. Người vào thành, người ra bến, xe bò, gánh hàng đều phải qua đây. Không phải nơi yên tĩnh để đọc một bản trình. Cũng chính vì thế, nó không thuộc trọn về những người ngồi trong thành hay những người sống ngoài bến. “Ở đây phù hợp,” nàng nói. Người lính nhìn nàng rồi nhìn Hùng. “Bề tôi phải giữ lối.” “Can cứ giữ,” Hùng đáp. “Chúng ta đứng sang bên giếng.” Vịnh cười nhạt. “Mới tới cửa đã phải nhờ Công Tự cho đứng. Lời thề hôm nay chắc nghe hay lắm.” Hùng định đáp, nhưng Thanh đã bước xuống bậc đất. “Cư Vịnh nói đúng. Hôm qua chúng tôi mời Cư Vịnh tới nghe, lại không báo người giữ cửa. Lỗi ở chúng tôi.” Người lính vội nói: “Thưa Công Thị, bề tôi chỉ làm phận sự.” “Tôi không trách Can.” Thanh quay sang Vịnh. “Nhưng nếu Công Tự không nhận họ đến theo lời mình, Cư Vịnh và mọi người sẽ bị đuổi khỏi đây. Đó cũng là điều chúng ta phải ghi rõ: quyền được đến đối chứng không thể chỉ nằm trong miệng người mời.” Vịnh nhìn nàng lâu hơn một nhịp rồi mới nói: “Ít nhất Công Thị không giả vờ việc này đã được sắp sẵn.” Bà Nhu chống sào xuống đất. Không hiểu bà mang chiếc sào dài từ bến lên để làm gì ngoài việc khiến lính giữ cửa phải để mắt, nhưng khi bà gõ đầu sào một tiếng, cả đám người bến sông tự tản sang khoảng đất cạnh giếng. “Đứng chắn chợ thì người ta chửi đúng,” bà nói. “Muốn nghe lời đẹp cũng phải chừa đường cho gạo đi.” Hai đứa trẻ ôm mái chèo chạy theo. Đứa lớn quay đầu nhìn cổng thành đến suýt vấp viên đá kê bánh xe. Đứa nhỏ túm áo kéo lại, cả hai cười khúc khích rồi lập tức im khi Vịnh liếc sang. Trên khoảng đất cạnh giếng, một người thợ đang mài lại lưỡi dao cho lính. Bánh đá quay dưới chân, rít lên từng hồi mảnh và sắc. Người thợ thấy quan cùng dân kéo tới thì định dọn đồ, nhưng quan Khâm từ trong cổng bước ra, bảo ông cứ làm tiếp. Quan Đào đi bên cạnh Khâm, mặt thiếu ngủ hơn mọi hôm. Ông nhìn đám đông, nhìn hai mái chèo, rồi nhìn Hùng. “Công Tự trình tuyến hay mở hội bến sông?” “Bẩm ngài, người đối chứng đã đến.” “Hai người xin bảy ngày. Mới qua một ngày đã gọi đông thế này. Ta nên mừng vì việc chạy nhanh hay lo vì các người lại quên ăn?” Thanh đáp: “Hôm qua chúng tôi có ăn.” Quan Đào nhướng mày. “Vậy là tiến bộ lớn nhất đến lúc này.” Một vài người bật cười. Sự căng cứng trước cửa thành dịu đi đôi chút, nhưng Vịnh vẫn đứng khoanh tay. Vịnh không đến để được làm cho dễ chịu. Quan Khâm hỏi: “Bản tuyến đâu?” Bác Lẫm mở ống da mang trên lưng. Ông trải tấm bản đồ nhỏ lên một phiến đá cạnh giếng rồi buộc các thẻ lời hát dọc mép. Những mảnh tre va vào nhau trong gió sớm. “Bốn bến chung đã được đối chiếu,” Hùng nói. “Có hai cách đi theo mùa cạn và mùa nước. Tuyến đầu sẽ qua bãi Sậy, bến Gà, doi Ba Gốc và vũng Trăng Non. Từ đó mới tách vào vùng có dấu cần khảo xét.” Quan Khâm xem từng thẻ. “Ai xác nhận?” “Bốn nhà thuyền xác nhận thứ tự bến. Các điều kiện nước và tải thuyền còn ba chỗ bất đồng.” “Người dẫn?” Hùng nhìn Vịnh. “Chưa nhận lời.” Quan Đào thở dài. “Vậy Công Tự chưa có tuyến. Công Tự có một bài hát, một đám người cãi nhau và một người chưa chịu đi.” “Bài hát giữ được thứ tự tốt hơn bản đồ trong kho,” bác Lẫm nói. Đào quay sang. “Thiết là ai?” “Tôi là Lẫm, giữ kho đường.” “Thiết Lẫm đang tự nhận kho mình thua một bài hát?” Bác Lẫm nuốt khan. Những người bến sông nhìn ông. Hôm qua, ông còn là người của kho quan tới hỏi đường họ. Sáng nay, đứng trước quan, ông phải chọn sẽ bảo vệ sự ngay ngắn của kho hay điều chính tay mình đã chép. “Bẩm ngài,” ông nói, “kho thua ở những chỗ đã cạo đường cũ mà không giữ lý do. Bài hát còn giữ được lời khác nhau của từng mùa.” Quan Đào nhìn ông một lúc rồi hỏi: “Ai cho phép Thiết Lẫm buộc thẻ vào bản đồ?” “Chưa ai.” “Vậy Thiết Lẫm tự ý sửa vật trong kho?” Hùng bước lên. “Hạ quan yêu cầu Thiết Lẫm giữ các thẻ đối chứng.” Thanh nói gần như cùng lúc: “Hạ quan đồng ý cách ghi ấy.” Hai giọng chồng lên nhau. Quan Khâm ngẩng khỏi tấm bản đồ. “Ai quyết?” Hùng đáp: “Cả hai.” “Ai đề nghị trước?” “Thiết Lẫm tự làm,” Thanh nói. “Hạ quan thấy việc ấy hợp lý nên cùng Công Tự Hùng giữ lại.” “Nếu ta cho rằng không hợp lý?” “Xin ngài chỉ ra chỗ nào làm sai chứng cứ.” Quan Đào hừ khẽ. “Một đêm ở bến sông mà Công Thị đã học được cách buộc người khác nói lý do.” “Bẩm ngài, Hạ quan đang tập.” Lần này Đào không biết nên khó chịu hay buồn cười. Ông kéo một thẻ lời hát lên xem rồi trả lại đúng vị trí. Quan Khâm quay sang Vịnh. “Vì sao Cư Vịnh chưa nhận dẫn đường?” “Vì chưa biết xuống thuyền rồi ai có quyền bắt thuyền đi.” “Người được Kinh giao việc.” Vịnh nhìn thẳng vào ông. “Nếu người ấy bảo đi vào lạch tôi biết sẽ lật thuyền thì sao?” “Cư Vịnh trình bày nguy hiểm.” “Họ không nghe?” “Người ra quyết định chịu trách nhiệm.” “Chịu trách nhiệm sau khi người khác chết có làm người ấy sống lại không?” Những người đứng quanh giếng im đi. Bánh đá vẫn quay. Lưỡi dao áp vào mặt đá tóe ra vài đốm sáng nhỏ, tắt trước khi chạm đất. Quan Khâm không nổi giận. “Vậy Cư Vịnh muốn người dẫn đường có quyền quyết mọi việc?” “Không. Tôi không biết họ tìm dấu gì, cũng không biết dấu nào đáng đổi đường. Nhưng nước trước mũi thuyền là việc của người cầm lái.” “Nếu Cư Vịnh lấy cớ nguy hiểm để giấu một lối nhà mình?” Hùng hỏi. Vịnh quay sang chàng. “Đấy. Công Tự đã nghĩ tôi sẽ làm thế.” “Tôi phải nghĩ tới.” “Vậy tôi cũng phải nghĩ Công Tự sẽ lấy cớ việc Kinh để ép thuyền đi.” “Tôi đã mời Cư Vịnh tới đây để định ranh giới.” “Vì Công Tự cần người dẫn.” Lời nói rơi xuống sắc như mảnh kim loại vừa mài. Hùng cảm thấy mọi ánh mắt hướng về mình. Chàng có thể viện bản lệnh, nói rõ quyền hạn, chứng minh Vịnh đang đặt nghi ngờ lên một việc chưa xảy ra. Nhưng làm vậy chỉ xác nhận điều Vịnh vừa nói: người có quyền luôn có nhiều chữ hơn để biến sự ép buộc thành lý lẽ. Chàng hỏi: “Cư Vịnh muốn tôi chứng minh bằng gì?” Vịnh chỉ vào bản thẻ Thanh đang cầm. “Bằng lời có tên người dưới đó. Đừng thề chung rằng sẽ nghe dân. Nói ai được quyết việc gì. Khi hai người bất đồng, ai thắng?” Thanh mở cuộn thẻ. Đêm qua, nàng và Hùng đã viết sáu điều. Nhìn dưới nắng sớm, những dòng Khoa Đẩu ngay ngắn bỗng mềm yếu hơn lúc ở trong kho. Nàng đọc: “Một: đoàn không dùng danh Kinh buộc người dân giao vật, mở sổ hoặc xác nhận điều họ không biết. “Hai: người dẫn đường quyết định cách đưa đoàn qua nơi nguy hiểm. “Ba: người khảo cứu quyết định dấu nào cần kiểm tra. “Bốn: mọi lời kể phải ghi nguồn và trả lại cách hiểu khi có thể. “Năm: khi bất đồng, phải ghi cả hai ý. “Sáu: trong nguy cấp, Công Tự Hùng quyết việc bảo toàn người và vật, sau đó ghi lý do.” Vịnh hỏi ngay: “Điều hai và điều sáu cùng xảy ra thì nghe ai?” Thanh chưa đáp. Đó chính là chỗ đêm qua họ đã đi vòng quanh mà chưa cắt được. Hùng nói: “Nguy cấp cần một người quyết nhanh.” “Vậy điều hai chỉ đúng lúc chưa nguy cấp,” Vịnh đáp. “Mà lúc người dẫn cần quyền nhất lại là lúc nguy cấp.” “Nếu mỗi người cùng giành tay lái, tất cả sẽ chết.” “Nên tay lái phải ở trong tay người biết nước.” “Còn nếu nguy hiểm không từ nước? Cháy thuyền, cướp bến, sạt bờ, người trong đoàn bị thương?” “Công Tự quyết người của mình. Tôi quyết thuyền của tôi.” “Một đoàn không thể có hai mệnh lệnh.” “Một chiếc thuyền cũng không thể có người không biết lái ra lệnh cho người cầm lái.” Giọng họ mỗi lúc một gắt. Người quanh giếng bắt đầu chia ánh mắt về hai phía như đang xem một sợi dây bị kéo căng. Thanh muốn chen vào, nhưng nàng biết nếu chỉ tìm một câu làm cả hai dịu đi, cái nút sẽ còn nguyên dưới lớp lời đẹp. Bà Nhu gõ sào xuống đất. “Đưa một cái thuyền lên đây mà cãi tiếp.” Quan Đào nhíu mày. “Bà nói gì?” “Họ đang cãi về một chiếc thuyền không có ở đây. Trên đất, ai cũng lái giỏi.” Bà gọi hai đứa trẻ. “Hai ấu, lấy dây.” Hai đứa lập tức đặt mái chèo xuống, tháo cuộn dây nhỏ mang sau lưng. Chúng trải dây thành hình một chiếc thuyền dài trên đất, dùng bốn hòn đá đánh dấu mũi, lái và hai mạn. Bà Nhu chỉ Hùng đứng ở giữa, Vịnh đứng sau lái, Thanh ngồi mũi. Quan Khâm không ngăn. Quan Đào lẩm bẩm rằng chưa từng xét bản tuyến theo cách trẻ con chơi thuyền, nhưng ông vẫn bước lại gần. Bà Nhu nói: “Nước đẩy từ trái sang. Trước mặt có đá. Sau lưng có một người ngã gãy chân. Công Tự muốn ghé bờ cứu người. Vịnh biết ghé ngay sẽ ép mạn vào đá. Ai quyết?” Hùng đáp: “Vịnh quyết cách ghé. Ta quyết phải cứu.” “Nếu không thể vừa tránh đá vừa cứu ngay?” “Tôi cần biết chậm bao lâu.” Vịnh nói: “Một khúc sông.” “Người gãy chân có thể chảy máu chết trước đó.” “Ghé ngay có thể lật cả thuyền.” Bà Nhu hỏi Thanh: “Công Thị làm gì?” Thanh nhìn sợi dây dưới chân. “Tôi hỏi Vịnh có cách nào giữ người bị thương sống qua một khúc sông, và hỏi Hùng căn cứ nào cho rằng người ấy không chờ được.” “Không đủ lúc để hỏi dài.” “Vậy mỗi người nói một câu ngắn nhất: nguy hiểm nào chắc hơn và xảy ra trước.” Hùng nhìn nàng. “Rồi ai quyết?” “Người đang giữ thứ không thể giao sang tay khác. Vịnh giữ thuyền. Công Tự giữ mục tiêu cứu người. Nếu hai việc không cùng làm được, người giữ thuyền quyết động tác tức thời; Công Tự quyết việc tiếp theo ngay khi thuyền thoát nguy hiểm.” Vịnh hỏi: “Nếu Công Tự vẫn ra lệnh ghé?” “Cư Vịnh có quyền không làm và yêu cầu tôi ghi lệnh ấy cùng lời từ chối.” “Chỉ ghi thôi?” Thanh nhìn Vịnh. “Nếu Công Tự giành tay lái, tôi sẽ cản.” Đám đông xao động. Hùng quay hẳn sang nàng. “Bậu vừa tự cho mình quyền cản qua?” “Không. Qua đang nói điều bản định việc đã cho phép: dừng việc khi cách làm sai nghĩa hoặc gây hại. Chỉ là đến giờ chúng ta chưa nói rõ nó có áp dụng với nhau hay không.” “Dừng một câu hỏi khác với cản mệnh lệnh giữa nguy cấp.” “Vậy bậu muốn điều kiện chỉ buộc người khác, còn khi bậu cho rằng gấp thì mọi giới hạn đều biến mất?” Hùng cảm thấy máu nóng dồn lên mặt. “Qua muốn đoàn sống.” “Qua cũng muốn.” “Nhưng bậu vừa nói sẽ cản người chịu trách nhiệm bảo toàn đoàn.” “Nếu người ấy đang làm điều đe dọa cả đoàn.” “Dựa vào phán đoán của bậu?” “Dựa vào lời người biết việc mà bậu bỏ qua.” Hai người nhìn nhau. Khoảng đất cạnh giếng, đám đông và cả tiếng bánh đá như lùi ra xa. Từ khi gặp nhau, họ đã bất đồng nhiều lần, nhưng phần lớn vẫn có một việc bên ngoài để cùng chống lại: dấu sai, sổ thiếu, câu hỏi của quan. Lần này, điều phải cắt nằm giữa chính hai người. Hùng nói chậm hơn: “Bậu vẫn nghĩ cuối cùng qua sẽ dùng chức được giao để ép người khác theo kết luận của mình.” Thanh không né. “Có.” Câu trả lời đau hơn nếu nàng tìm cách làm nhẹ. “Vậy vì sao bậu còn nhận đi cùng qua?” “Vì bậu biết tự sửa khi thấy mình sai.” “Đó không phải câu trả lời cho việc bậu không tin qua.” “Tin một người không có nghĩa giao cho người ấy quyền không bị cản.” Hùng siết bàn tay rồi buông ra. “Bậu muốn đi bên cạnh để kiểm soát qua?” Thanh nghe sự tổn thương bị giấu dưới câu hỏi. Nàng có thể đáp bằng lý lẽ. Nhưng ba ngày qua đã dạy nàng rằng lý lẽ dùng để thắng thường để lại người đối diện đứng một mình. “Một phần,” nàng nói. “Và qua muốn bậu kiểm soát qua.” Hùng im lặng. Thanh tiếp: “Qua biết mình có thể bám vào lời người kể chỉ vì sợ làm họ tổn thương; có thể giữ mọi dị bản đến mức không dám bỏ điều sai. Qua cũng có thể dựa vào danh nhà giữ tri thức, khiến người ta tưởng cách chép của mình luôn công bằng. Khi qua làm thế, bậu phải chỉ ra.” Nàng nhìn thẳng chàng. “Nếu qua chỉ cần một người luôn tin mình, qua không cần đi cùng bậu.” Sự nóng giận trong Hùng chưa mất. Nhưng giữa nó mở ra một khoảng khác: nàng không đặt chàng ở vị trí người có thể phản bội còn mình đứng ngoài mọi nghi ngờ. Nàng đã đặt cả tên mình vào cùng một lưỡi cắt. Chàng hỏi: “Vậy khi chúng ta bất đồng về kết luận, ai có lời cuối?” “Không ai.” “Kinh sẽ không nhận một bản trình không có kết luận.” “Có kết luận, nhưng ghi rõ nó thuộc phần nào.” Thanh nhặt hai mái chèo trẻ con để dưới đất, đặt chéo nhau. “Bậu xét cấu trúc: dấu nào nối được với dấu nào, giả thuyết nào giải thích được nhiều chứng cứ hơn, tuyến nào cần đi để kiểm tra. Qua xét đường truyền: lời từ ai, qua mấy đời, bản chép đổi ở đâu, ai được lợi khi một nghĩa được giữ hay bị xóa.” Nàng tách hai mái chèo ra, đặt song song. “Mỗi người có quyền kết luận trong phần của mình. Nhưng trước khi trình, người kia phải kiểm tra xem kết luận ấy có bước sang phần không thuộc mình không.” Hùng nhìn hai mái chèo. “Nếu cấu trúc chỉ đúng khi một lời truyền bị coi là sai?” “Bậu đưa chứng. Qua kiểm tra cách lời ấy truyền tới chúng ta. Nếu vẫn không thống nhất, ghi hai khả năng và tìm việc có thể bác một trong hai.” “Nếu không còn thời gian kiểm chứng?” “Ghi mức chắc chắn. Đừng biến thiếu thời gian thành sự chắc chắn giả.” Quan Khâm lên tiếng lần đầu sau một lúc lâu: “Chia quyền như vậy có thể khiến hai người đi chậm.” Hùng đáp: “Bẩm ngài, đi nhanh theo một kết luận sai có thể khiến cả đoàn mất nhiều tháng quay lại.” Thanh nói: “Và khiến nơi sau không còn ai chịu mở lời.” Quan Đào gõ đầu ngón tay lên cuộn thẻ. “Nghe rất đẹp. Nhưng hai người vẫn chưa giải quyết lúc nguy cấp.” Vịnh bước vào giữa sợi dây hình thuyền. “Có rồi. Người giữ việc gì quyết động tác thuộc việc ấy. Người cầm lái quyết thuyền đi thế nào. Công Tự quyết đoàn cần cứu gì, giữ gì, bỏ gì. Công Thị ghi ai đã nói gì và có quyền dừng việc lấy lời, lấy vật. Không ai được mượn phần mình để cướp phần người khác.” Hùng hỏi: “Nếu phần việc chồng lên nhau?” “Nói điều mình sợ mất nhất. Người kia cũng nói. Chọn cách không làm mất tất cả.” “Không phải lúc nào cũng rõ.” “Thì không có lời thề nào làm nước sông đứng yên cho Công Tự.” Bà Nhu cười khùng khục. “Con bé nói được một câu nghe như người từng lật thuyền.” Vịnh cau mặt. “Tôi chưa lật.” “Vì mày biết sợ.” Người thợ mài dao nhấc lưỡi kim loại khỏi bánh đá. Âm thanh rít kéo dài bỗng dừng, để lại một khoảng yên lạ lẫm. Ông nhìn sống dao, lật mặt, rồi áp lại vào đá ở một góc khác. Hùng nhìn động tác ấy. Một lưỡi sắc không thành bởi cứ ép mãi một mặt. Nó phải được lật, phải chịu đá mài ở cả hai bên; lệch một chút là mép dao quằn, sắc đó mà gãy đó. “Ta đồng ý chia quyền xét như Công Thị nói,” chàng nói. “Ta xét cấu trúc. Công Thị xét đường truyền. Cả hai kiểm chứng chéo. Với đường đi, người dẫn quyết động tác điều khiển thuyền và có quyền từ chối lối thấy không an toàn. Ta quyết mục tiêu của đoàn và việc bảo toàn người, tài liệu, lương. Nếu hai phần xung đột, phải nói rõ nguy hiểm trước mắt, chọn cách không làm mất cả đoàn.” Thanh hỏi: “Còn quyền cản?” Hùng nhìn nàng. “Mỗi người có quyền yêu cầu dừng một quyết định khi đưa ra được nguy hiểm cụ thể mà người quyết chưa xét. Dừng để xét, không phải dừng vô hạn. Sau khi nghe đủ, người giữ phần việc quyết và ghi tên mình.” “Nếu nguy hiểm là không thể lấy lại?” “Người trực tiếp giữ sinh mạng hoặc phương tiện có quyền từ chối.” Vịnh hỏi: “Công Tự có đặt tay vào mái chèo của tôi không?” “Không, trừ khi Cư Vịnh không còn cầm được và bảo tôi cầm.” “Có lấy đường nhà thuyền làm đường quan rồi cấm chúng tôi sửa?” “Không. Kho giữ bản đối chứng. Bến giữ một bản. Mỗi lần sửa phải giữ lời cũ và lý do đổi.” “Có gọi tôi là người chống lệnh nếu tôi từ chối lạch nguy hiểm?” “Không, nếu Cư Vịnh nêu nguy hiểm. Nếu tôi cho rằng Cư Vịnh giấu đường, tôi sẽ ghi nghi vấn và tìm người kiểm chứng; không giành lái.” Vịnh quay sang Thanh. “Còn Công Thị?” “Tôi sẽ không chép sự im lặng thành đồng ý. Không đổi lời Cư Vịnh cho vừa kết luận. Nhưng Cư Vịnh cũng phải chấp nhận tên mình đứng dưới điều đã nói, kể cả khi điều ấy bị chứng minh là sai.” “Tôi chấp nhận.” Quan Khâm đưa tay. “Bút.” Thanh trao bút cho ông. Khâm không viết. Ông đặt nó vào tay Hùng. “Hai người tự viết. Đây không phải lời quan trên ban xuống.” Hùng nhìn cuộn thẻ sáu điều cũ. Rồi chàng lấy một thẻ trắng. “Viết hai bản,” Thanh nói. “Một cho kho, một cho bến?” “Không. Một bản bậu viết, một bản qua viết. Nếu câu chữ khác nhau, sửa trước khi thề.” Quan Đào khẽ bật cười. “Cuối cùng Công Thị cũng tìm được cách kéo buổi trình qua bữa trưa.” “Bẩm ngài, Hạ quan sẽ cố hoàn thành trước khi ngài phải nhắc lần thứ ba.” Họ ngồi hai bên phiến đá, mỗi người một thẻ. Không ai nhìn bản của người kia. Hùng viết nhanh hơn, nét rộng và đậm. Thanh viết chậm, dừng ở từng động từ: hỏi, quyết, dừng, từ chối, ghi, trả lời. Đám đông ban đầu còn thì thầm, sau cũng im. Chỉ còn tiếng chợ qua cổng, tiếng đá mài và tiếng bút sột soạt trên tre. Khi viết xong, họ đổi thẻ. Hùng đọc bản của Thanh trước. Nàng viết: “Không mang lời giải có sẵn đặt lên dân.” Chàng viết: “Không buộc lời chứng phục vụ giả thuyết chưa được kiểm.” Ý gần nhau nhưng không trùng. Hùng thích câu của mình vì rõ việc khảo cứu. Thanh giữ câu của nàng vì nó bao gồm cả cách họ đối xử với người không có sổ hay lời chứng. “Giữ cả hai,” Vịnh nói. “Một câu ngăn đầu các người. Một câu ngăn tay các người.” Hùng ngước nhìn Vịnh. “Cư Vịnh bắt đầu quyết chữ từ khi nào?” “Từ lúc chữ định quyết đường của tôi.” Thanh che một nụ cười bằng cách cúi xuống chấm mực. Hai bản còn khác ở một chỗ. Hùng viết “người giữ phần việc có lời cuối”. Thanh viết “người chịu cái giá trực tiếp có quyền từ chối”. Họ tranh luận tới khi bà Nhu giật lấy một thẻ trắng, dù không ai mời. Bà bảo Thanh viết theo lời mình: “Người giữ việc quyết cách làm. Người gánh hậu quả không bị buộc im.” Quan Đào hỏi: “Nếu người gánh hậu quả là cả đoàn?” “Thì cả đoàn phải biết trước điều có thể mất,” bà đáp. “Không cần ai cũng cầm lái. Nhưng không được bị chở vào chỗ chết trong khi tưởng đang đi chợ.” Hùng thêm: “Trước mỗi chặng nguy hiểm, phải nói rõ mục tiêu, điều đã biết và nguy hiểm người dẫn dự liệu. Người trong đoàn được quyền xin rời trước khi vào chặng, trừ khi đang làm nhiệm vụ không thể tự ý bỏ.” Vịnh nhìn chàng. Lần đầu từ sáng, vẻ đề phòng trong mắt Vịnh bớt đi một ít. “Câu ấy dùng được.” Khi hai bản đã trùng từng chữ, Thanh dùng dây buộc chúng với bản tuyến. Bác Lẫm chép một bản thứ ba cho kho đường. Vịnh yêu cầu một đứa trẻ chép bản thứ tư để mang về bến. Đứa lớn cầm bút bằng cả bàn tay, viết chậm đến mức quan Đào phải quay đi xem người thợ mài dao ba lần. Không ai giục nó. Đứa trẻ viết sai dấu Khoa Đẩu ở chữ “từ chối”. Nó hoảng hốt nhìn Thanh. “Cạo đi được không?” Thanh nhìn vết mực còn ướt. “Được. Nhưng đừng cạo mất cả thớ tre.” “Nếu vẫn còn dấu?” “Thì người sau biết Ấu đã sửa.” Đứa trẻ cẩn thận dùng sống dao nhỏ cạo một lớp mỏng. Vết chữ sai vẫn còn bóng mờ dưới chữ mới. Bác Lẫm nhìn nó rất lâu, như nhìn thấy trong một vết sửa nhỏ điều kho đường đã quên suốt nhiều năm. • • • Mặt trời lên khỏi mái cổng khi lời thề được đọc. Không có đàn lễ, không trống, không hương. Chỉ có phiến đá cạnh giếng, bụi đường bám chân và dòng người vẫn đi qua cổng thành. Quan Khâm cùng quan Đào đứng chứng. Người bến sông đứng một phía, lính giữ cửa đứng một phía. Giữa họ là tấm bản đồ có những mép thẻ tre lay trong gió. Hùng đọc trước: “Ta, Hùng, nhận việc khảo xét những dấu tri thức ngoài hệ ghi chép của thành. Ta không mang lời giải có sẵn đặt lên dân; không buộc lời chứng phục vụ giả thuyết chưa được kiểm. Ta chịu trách nhiệm xét cấu trúc của dấu, chọn điều cần kiểm chứng và nói rõ cái giá của quyết định thuộc phần mình.” Chàng dừng lại, nhìn Vịnh rồi nhìn những người phía sau Vịnh. “Ta không giành quyền của người giữ đường, không biến sự im lặng thành thuận theo, không xóa lời bất đồng khỏi bản trình. Khi bị chỉ ra một nguy hiểm cụ thể, ta phải dừng đủ để xét. Nếu vẫn quyết, tên ta phải đứng dưới quyết định ấy.” Thanh đọc tiếp: “Tôi, Thanh, nhận việc giữ đường truyền của lời và vật chứng. Tôi không sửa lời người khác cho vừa điều mình muốn tin; không giữ mọi dị bản như nhau chỉ vì sợ lựa chọn. Tôi phải ghi người nói trong tư cách nào, lời qua bao nhiêu người, đã đổi ở đâu và ai chịu hậu quả nếu một nghĩa được dùng.” Nàng quay sang Hùng. “Tôi có quyền kiểm tra kết luận của Công Tự Hùng và chấp nhận để Công Tự kiểm tra kết luận của tôi. Khi bất đồng chưa thể giải, chúng tôi giữ cả hai khả năng, ghi mức chắc chắn và tìm chứng cứ có thể bác bỏ. Không ai được lặng lẽ biến phần việc của mình thành quyền nói thay người kia.” Vịnh đặt tay lên mái chèo. “Tôi, Vịnh, nhận dẫn đoàn qua đường nước tôi biết. Tôi không giấu nguy hiểm để giữ lợi cho nhà thuyền; không đổi đường vì thù riêng; không dùng sự sợ hãi của người không biết nước để buộc họ phụ thuộc vào mình. Tôi quyết động tác của thuyền và có quyền từ chối lối tôi xét là không an toàn, nhưng phải nói rõ điều tôi thấy.” Vịnh hít một hơi. “Tôi chấp nhận để lời mình được kiểm chứng. Nếu sai, tên tôi vẫn ở dưới lời sai.” Bà Nhu hỏi lớn: “Người đi cùng có được biết mình sắp vào đâu không?” Cả ba đáp: “Có.” “Người gánh hậu quả có bị buộc im không?” “Không.” “Đường đổi thì bản cũ có bị cạo mất không?” “Không.” “Vậy đủ để bắt đầu. Chưa đủ để đi hết.” Quan Khâm cầm từng bản xem dấu tên. Ông không đóng ấn Kinh lên lời thề. Thay vào đó, ông viết tên mình ở hàng người chứng kiến. Quan Đào đứng bên cạnh hồi lâu rồi cũng cầm bút. “Ta ký không phải vì tin ba người sẽ giữ được mọi câu,” ông nói. “Ta ký để khi các người phá một câu, có người biết phải hỏi từ đâu.” Người lính giữ cửa ban nãy bước tới. “Bề tôi có được ghi một lời không?” Quan Đào nhìn anh. “Can là người giữ cửa. Nói đi.” “Sáng nay dân bến đến theo lời mời nhưng không có thẻ. Nếu lần sau người đối chứng bị chặn, họ phải làm sao?” Thanh đáp: “Trên bản gọi đối chứng phải ghi tên hoặc dấu của người được mời. Một bản gửi trước cho cửa, một bản do người ấy giữ.” Hùng thêm: “Nếu không kịp gửi, người mời phải ra nhận như hôm nay và việc bị chậm tính vào trách nhiệm của người mời, không phải lỗi người đến.” Người lính cúi đầu. “Bề tôi xin nhận bản ấy khi có.” Vịnh nhìn anh rồi nhìn Hùng. “Lời thề bắt đầu có việc để làm rồi đấy.” “Tôi hy vọng lần sau nó làm việc trước khi Cư Vịnh phải đứng chắn cửa.” “Tôi không chắn. Tôi chỉ đứng ở nơi các người buộc phải nhìn thấy.” “Khác nhau sao?” “Đường không biết trên da bò có vẽ nó hay không,” Thanh nói. Hùng quay sang nàng. Nàng đã trả lại chính câu nói từ hôm qua, nhưng lần này khóe môi không giấu cười. “Bậu nhớ lời người khác rất lâu.” “Việc của qua mà.” • • • Sau khi đám đông tan, Hùng và Thanh ở lại dưới bóng cổng để chia người, lương và vật mang theo. Vịnh đồng ý dẫn tới vũng Trăng Non. Từ đó, Vịnh sẽ quyết có tiếp tục vào nhánh sông nhỏ hay tìm người địa phương thay. Bác Lẫm không đi; ông phải ở lại sửa cách giữ sổ đường. Bà Nhu càng không đi. Bà tuyên bố chân mình chỉ còn đủ sức đá những người hát sai nhịp ở bến. Hai đứa trẻ nằng nặc xin theo. Nghe chúng hứa có thể chèo, nấu cơm, buộc dây và không cãi nhau, Vịnh hỏi: “Sáng nay ai làm rơi cuộn dây xuống giếng?” Đứa lớn chỉ đứa nhỏ. Đứa nhỏ chỉ ngược lại đứa lớn. “Ở nhà.” Cả hai tiu nghỉu ôm mái chèo. Bà Nhu kéo chúng đi, miệng mắng rằng chưa biết giữ một cuộn dây đã đòi giữ mạng người. Nhưng qua được mấy bước, bà quay lại bảo Vịnh mang cho chúng một viên đá ở bến đầu tiên. Hai đứa lập tức sáng mặt, cãi nhau xem viên đá phải tròn hay có vân đỏ. Quan Khâm giao thêm bốn người: hai lính bảo vệ, một người coi lương và một người biết chữa thương. Quan Đào cắt bớt một xe chở đồ Hùng đã tính mang. “Đường nước nhỏ không nuôi nổi thói quen mang cả căn phòng theo Công Tự.” “Tôi chỉ mang dụng cụ đo, thẻ chép, lương, dây và vật đổi.” “Ba hòm thẻ chép?” “Một hòm bản trắng, một hòm bản đối chứng, một hòm—” Thanh ngắt lời: “Một hòm là đủ. Bản đối chứng chia vào ống chống nước. Bản trắng chỉ lấy một nửa.” Hùng quay sang. “Chúng ta có thể đi ba năm.” “Chúng ta đang chuẩn bị chặng đầu, không dọn nhà khỏi thành.” Quan Đào vuốt râu, vẻ hài lòng hiện rõ đến mức Hùng khó chịu. “Qua đồng ý một hòm,” chàng nói. “Nhưng thêm da bọc.” “Đồng ý.” “Hai túi mực.” “Một túi mực, mang nguyên liệu pha thêm.” “Hai.” “Một túi rưỡi.” Hùng nhìn nàng. “Bậu định đong nửa túi thế nào?” “Qua định xem bậu có biết nhượng hay chỉ biết chia đôi chữ.” Vịnh đang kiểm dây gần đó bật cười thành tiếng. Hùng thở dài. “Hai túi nhỏ.” “Được.” Quan Khâm đưa cho họ một thẻ niêm. “Sáng ngày thứ ba, rời thành trước khi chợ mở. Đoàn đi theo dòng nước nhỏ phía nam tới bãi Sậy. Trình bản lược tại trạm đầu tiên có thể đến sau khoảng mười ngày.” Hùng nhận thẻ. “Hạ quan lĩnh việc.” Thanh cũng cúi người. “Hạ quan lĩnh việc.” Khi hai quan đã đi, khoảng đất cạnh giếng chỉ còn những vết chân, một ít mùn tre và vòng dây hình chiếc thuyền chưa ai cuộn lại. Người thợ mài dao thử lưỡi kim loại lên một sợi cỏ. Sợi cỏ đứt gọn, nhưng ông vẫn lắc đầu, lật sang mặt kia mài thêm. Hùng cúi nhặt sợi dây. Thanh giữ đầu bên kia. Họ cuộn từ hai phía, mỗi người đi dần về giữa. “Lúc nãy bậu nói thật chứ?” chàng hỏi. “Điều nào?” “Bậu nhận đi cùng một phần để kiểm soát qua.” Thanh không tránh mắt. “Thật.” “Và để qua kiểm soát bậu?” “Qua dùng chữ kiểm tra.” “Nghe dễ chịu hơn.” “Nhưng không nhẹ hơn.” Hai người đã cuộn tới gần nhau. Giữa họ còn một đoạn dây bị thắt nút từ lúc làm thuyền giả. Hùng kéo thử. Nút càng siết. Thanh đặt tay lên. “Đừng giật.” “Qua biết gỡ nút.” “Bậu vừa chứng minh ngược lại.” Nàng nới một vòng dây, Hùng giữ phần còn lại khỏi siết. Không ai gỡ được nếu chỉ kéo về phía mình. Một lúc sau, nút bung. Hùng nói: “Qua không thích việc bậu nghĩ qua có thể lạm quyền.” “Qua cũng không thích nghĩ thế.” “Nhưng bậu vẫn nghĩ.” “Vâng.” Thanh cuộn nốt đoạn dây. “Có lẽ sau này qua sẽ bớt nghĩ. Có lẽ bậu sẽ có lúc chứng minh qua đúng. Lời thề không được viết cho ngày chúng ta đang dễ chịu với nhau.” Hùng nhìn vết mực trên ngón tay nàng, rồi nhìn thẻ lời thề buộc cạnh bản tuyến. “Qua cũng chưa tin bậu sẽ bỏ được một lời kể khi nó không còn đứng vững.” Thanh khựng lại rất nhẹ. “Vậy bậu nhớ nói khi thấy.” “Qua sẽ nói.” “Qua có thể sẽ giận.” “Qua biết.” “Bậu chưa thấy qua giận thật đâu.” Hùng đưa cuộn dây đã gỡ xong cho nàng. “Qua bắt đầu thấy chuyến đi nguy hiểm ở chỗ nào rồi.” Thanh muốn giữ vẻ nghiêm, nhưng không được. Tiếng cười bật ra trong lúc nàng quay đi, làm câu đáp sắc sẵn trên môi tan mất. Ở phía bến, Vịnh gọi họ xuống thử thuyền trước khi nước đổi. Ngoài cửa thành, con đường đất dẫn tới dòng sông đã đông người, nhưng giữa những dấu chân vẫn còn một dải hẹp chưa bị giẫm. Hai ngày nữa, họ sẽ rời nơi này. Không ai trong họ biết con đường sẽ dài ba năm. Lúc ấy, điều họ có chỉ là bốn bến, một người dẫn chưa hoàn toàn tin họ, hai bản lời thề gốc giống từng chữ và một nguyên tắc vừa được mài sắc đủ để cắt sự rối ren trước mắt. Lưỡi sắc ấy chưa dùng để chống kẻ thù. Nó được đặt giữa những người sắp đồng hành, để mỗi người biết quyền của mình dừng ở đâu trước khi bước qua cửa thành.
Chương trước Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ