Chương 8: Sổ đường bị xóa

Buổi trưa ngày nhận lệnh, Hùng và Thanh đứng trước một tấm da bò lớn đến mức phải dùng bốn viên đá chặn bốn góc. Trên đó, sông được vẽ bằng những đường mực xanh đã ngả xám. Núi là các nét răng cưa. Bến lớn có một vòng tròn, bến nhỏ chỉ là một chấm. Những đường bộ tỏa khỏi thành như rễ cây, nhưng càng ra xa càng thưa, có nơi đang liền bỗng dừng giữa khoảng da trống. Hùng đặt bốn thẻ tre mang bốn dấu họ đã tìm được lên bốn vùng khác nhau của tấm bản đồ. “Nếu đi theo đường quan, chúng ta phải quay về thành sau mỗi vùng.” Thanh cúi xuống, giữ một lọn tóc khỏi rơi vào nghiên mực. “Không phải quay về. Là bản đồ bắt chúng ta quay về.” “Khác nhau sao?” “Đường không biết trên da bò có vẽ nó hay không.” Hùng nhìn nàng. “Bậu mới được giao quyền ngang với Qua chưa đầy một buổi đã bắt đầu nói như quan Đào.” “Quan Đào sẽ vui nếu nghe câu ấy.” “Qua sẽ không cho ông ấy biết.” Thanh đưa ngón tay men theo một nhánh sông từ thành xuống phía nam. Dòng mực đi qua hai bến rồi nhạt dần, mất hẳn trước khi chạm vùng có dấu thứ nhất. Bên cạnh chỗ đứt là một lớp da sáng màu hơn xung quanh, rộng bằng hai ngón tay. Nàng không chạm vào đó. “Chỗ này không phải chưa từng có chữ.” Hùng nghiêng tấm da về phía cửa sổ. Ánh sáng xiên trên mặt da làm lộ những vết cạo nhỏ, đều và nông. “Bị xóa.” “Không chỉ một lần.” Họ cùng nhìn ra những khoảng sáng khác. Có chỗ người sửa đã phủ mực mới lên, vẽ dòng sông lệch sang bên. Có chỗ chỉ còn vết một bến tròn bị cạo đến mỏng da. Một đường nước từng nối hai vùng phía đông đã biến mất gần trọn, nhưng dưới ánh sáng vẫn còn dấu dùi dùng để chấm khoảng cách. Hùng đếm được mười ba chỗ bị xóa trước khi người giữ kho bản đồ trở lại. Đó là một người đàn ông nhỏ thó, lưng hơi còng vì nhiều năm cúi trên án. Ông ôm ba cuộn da và một bó thẻ, dùng khuỷu tay khép cửa để tránh gió lùa. Thấy tấm bản đồ đã được nghiêng lên, ông bước nhanh tới. “Xin Công Tự đặt xuống. Da cũ gặp nắng gắt sẽ cong.” Hùng đặt xuống ngay. Thanh kéo tấm phên tre che bớt cửa sổ. Người giữ kho thở nhẹ hơn. Ông tên Lẫm, nhưng mọi người trong dãy nhà gọi là bác Lẫm giữ đường. Khi nghe cách gọi ấy, Thanh đã tưởng ông từng đi nhiều. Giờ nhìn đôi chân gầy và làn da nhợt vì ít ra nắng, nàng hiểu ông giữ đường bằng tay nhiều hơn bằng chân. Hùng hỏi: “Ai đã xóa những chỗ này?” Bác Lẫm đặt các cuộn da lên giá. “Nước xóa trước, người xóa sau.” “Ai ra lệnh?” “Có chỗ có lệnh. Có chỗ không còn thẻ lệnh.” “Vậy vì sao vẫn xóa?” Bác Lẫm liếc bản lệnh đóng ấn đặt trên án, rồi nhìn sang Thanh như để xem nàng có thực sự đứng ngang Hùng hay chỉ đến chép lời. Thanh nhận ra ánh mắt ấy. Nàng không mở cuộn thẻ trong tay, chỉ nói: “Thiết Lẫm cứ kể theo điều Thiết Lẫm tận mắt biết. Phần nào nghe người trước truyền lại, chúng tôi sẽ ghi riêng.” Ông gật đầu chậm rãi. “Sông đổi sau mỗi mùa nước lớn. Một bãi bồi nổi lên, một lạch cũ chết đi. Nếu giữ nét cũ, người nhìn bản đồ sẽ tưởng còn đường. Có năm một thuyền lương mắc cạn ba ngày vì người lái tin dấu trên da hơn màu nước trước mũi thuyền. Sau lần ấy, quan coi kho bảo chỗ nào không còn chắc thì cạo bỏ.” Hùng chỉ một vệt sáng kéo dài. “Cạo sạch mà không ghi đường mới thì người sau biết đi đâu?” “Không biết.” Câu trả lời phẳng đến mức chàng phải ngẩng lên. Bác Lẫm nói tiếp: “Người biết đường được gọi đến để vẽ lại. Họ cãi nhau. Nhà thuyền bến Tràm nói phải men bờ đông. Nhà thuyền bến Sậy nói bờ đông có xoáy ngầm, chỉ người muốn làm chìm thuyền đối thủ mới chỉ lối ấy. Người giữ bến trên thì bảo cả hai cùng nói dối. Không ai chịu đặt tên dưới nét mực.” “Không kiểm tra được sao?” Thanh hỏi. “Người được cử đi kiểm tra đã chết.” “Bao lâu rồi?” “Mùa nước trước.” Bác Lẫm đặt tay lên khoảng da bị cạo. Đầu ngón tay ông dừng đúng nơi từng có một bến tròn. “Lão Dần dẫn đường cho thuyền quan hơn ba mươi năm. Lão thuộc từng doi cát, biết đoạn nào nghe tiếng mái chèo dội lại thì phải tránh. Năm trước, một thuyền chở gỗ lật ở cửa lạch. Lão kéo được hai người lên, người thứ ba kéo lão chìm theo.” Căn phòng bỗng yên. Ngoài sân, một người đang chẻ nan tre; mỗi tiếng dao bổ xuống nghe rõ mồn một. Hùng hỏi: “Lão Dần không để lại bản đường?” “Có.” Bác Lẫm mở bó thẻ vừa mang vào. Dây buộc đã sờn, những thẻ bên ngoài đen bóng vì tay người chạm nhiều. Ông lấy ra bốn thẻ, đặt cạnh nhau. Trên mỗi thẻ chỉ có vài dấu ngắn: một vạch xiên, ba chấm, hình giống chiếc móc câu và những nét Khoa Đẩu nhỏ đến mức phải ghé sát mới đọc được. “Đây là bản của lão?” “Là phần còn lại.” “Phần khác đâu?” “Chia cho bốn nhà thuyền để đối chiếu. Sau khi lão chết, họ nói đã trả. Kho không có dấu nhận.” Hùng khép mắt một nhịp. “Thiết Lẫm giữ đường bằng cách nào mà để bản duy nhất bị chia ra không có dấu nhận?” Vai bác Lẫm cứng lại. Thanh nhìn bàn tay ông. Ngón cái có một vết sẹo dài, cũ và trắng; móng tay ám màu mực. Trên giá sau lưng, hàng trăm cuộn da và bó thẻ nằm im, mỗi thứ có thể chứa một sai sót của người đã chết hoặc một quyết định của người còn sống. Nàng hỏi: “Việc chia bản xảy ra khi Thiết Lẫm đã giữ kho chưa?” “Chưa. Khi ấy tôi còn chép thẻ lương.” Hùng nhìn vai bác Lẫm cứng lại, rồi nhìn những khoảng trống trên giá. Chàng hiểu mình vừa bắt một người gánh lỗi của người đã chết. “Tôi xin lỗi.” Bác Lẫm không nói không sao. Ông chỉ vuốt lại sợi dây trên bó thẻ. “Người trước tôi bệnh rồi mất trong ba ngày. Tôi nhận kho, nhận luôn những chỗ trống. Mỗi lần hỏi, bốn nhà đều đưa ra một thẻ có nét giống của lão Dần, nhưng không thẻ nào khớp với dấu dùi trên bản đồ. Tôi không dám chép.” “Vì có thể là giả.” “Vì chắc chắn có người giấu.” Ông nhìn Hùng. “Giả còn dễ. Giấu mới khó. Họ không đổi hết con đường, chỉ bỏ đi một bến, đảo một khúc, khiến người lạ phải thuê thuyền nhà họ mới qua được.” Thanh chạm nhẹ lên bốn thẻ còn lại. “Những dấu này nghĩa là gì?” “Lão Dần chưa từng giải cho tôi.” “Ai có thể hiểu?” Bác Lẫm nhìn về phía tiếng nước vọng từ cuối thành. “Những người từng chèo cùng lão. Nhưng muốn họ cùng nói thật, hai người phải làm điều mà kho đường chưa làm được.” “Điều gì?” Hùng hỏi. “Khiến họ quên mất mình đang tranh đường với nhau.” • • • Bến dưới thành nóng hầm hập dù trời đã xế. Mùi bùn non, cá khô, dầu trám và mồ hôi trộn vào nhau. Những chiếc thuyền bụng rộng nằm sát bờ như một đàn trâu xuống uống nước; giữa chúng, thuyền độc mộc nhỏ luồn qua, người chèo vừa cúi tránh dây vừa chửi nhau vì bị chắn lối. Hùng dừng lại hai lần để nhường người khuân chum. Lần thứ ba, một người gánh hai sọt cá đi thẳng vào vai chàng, chỉ kịp nghiêng đòn gánh khi thấy miếng thẻ công vụ bên hông. “Xin Công Tự tránh cho. Cá mà đổ thì chức của người không nhặt lại được đâu.” Hùng né hẳn sang một bên. Người gánh cá đi qua, còn quay lại nói với người phía sau: “Đứng giữa bến mà ngắm nước, chắc nước hôm nay đẹp hơn hôm qua.” Thanh cắn môi, nhưng khóe mắt đã cong. “Bậu cứ cười.” “Qua không cười.” “Mắt Bậu vừa cười.” “Bậu nên nhìn đường. Ở đây có nhiều sọt cá hơn lời khen.” Bác Lẫm dẫn họ đến một mái lều dài dựng trên cọc. Bên dưới là nơi vá lưới và sửa mái chèo. Ba người đàn ông cùng một người đàn bà đã chờ sẵn, nhưng không ai ngồi gần ai. Khoảng trống giữa họ rộng đến mức đủ đặt thêm một chiếc thuyền. Người đàn bà lớn tuổi nhất, vai rộng, tóc cuộn sau gáy bằng một sợi dây gai, hỏi trước: “Ai trong hai người định bắt chúng tôi nộp đường?” Hùng đáp: “Không ai.” Một người đàn ông râu lưa thưa bật cười. “Mang ấn Kinh xuống bến mà nói không bắt.” Thanh tháo ống thẻ khỏi vai, đặt lên tấm ván giữa mọi người. “Bản lệnh cho phép chúng tôi xin xem, xin chép và lấy lời. Không cho phép lấy đường của nhà nào làm của quan.” “Chép xong thì khác gì lấy?” người đàn ông thứ hai hỏi. “Khác ở chỗ Thiết được biết chúng tôi chép gì, dùng vào việc gì và được nói rằng chúng tôi hiểu sai.” “Nói rồi các người có sửa không?” “Nếu có chứng để sửa.” Người đàn bà hừ một tiếng. “Vẫn là người cầm bút quyết.” Thanh nhìn bà. “Vậy Cư muốn quyết bằng gì?” “Bằng việc xuống thuyền.” Hùng lập tức nói: “Được.” Thanh quay sang. “Chúng ta chưa biết xuống thuyền của ai.” “Xuống cả bốn.” Người râu lưa thưa cười lớn hơn. “Công Tự có bốn cái mạng à?” “Ta chỉ cần một, nếu các người cùng chỉ một đường.” Tiếng cười tắt. Bốn người nhìn nhau, sự khó chịu ban đầu bỗng tìm được một vật chung để bám vào. Người đàn bà nói: “Thuyền nhà tôi không đi chung với thuyền nhà Sậy.” “Nhà tôi cũng không đi sau Cư Vịnh,” người ngồi xa nhất đáp. “Vậy từng nhà đưa một lộ trình,” Hùng nói. “Chúng ta đối chiếu.” “Để lộ chỗ tránh đá cho ba nhà kia nghe?” “Vậy chỉ nói riêng.” “Rồi ai biết Công Tự không đem lời nhà này đổi lấy lời nhà khác?” Mỗi lối Hùng mở ra đều lập tức bị một lối nghi ngờ chặn lại. Chàng bắt đầu hiểu câu bác Lẫm nói. Bốn nhà thuyền không thiếu đường. Họ thiếu một nơi để lời của mình đứng mà không biến thành lợi thế cho người khác. Thanh kéo một chiếc ghế thấp, ngồi xuống đầu tấm ván. “Không hỏi đường nữa.” Bốn người cùng nhìn nàng. “Vậy hỏi gì?” “Lão Dần.” Người đàn bà khoanh tay. “Người chết rồi.” “Nhưng các vị đều từng chèo với lão?” Không ai đáp. Ở bến, im lặng không bao giờ thật sự yên: nước vỗ mạn, búa gõ chốt chèo, trẻ con gọi nhau, dây chão rít qua cọc. Giữa những tiếng ấy, sự im lặng của bốn người lại hiện rõ hơn. Bác Lẫm lấy bốn thẻ còn lại đặt ra. Người râu lưa thưa vừa thấy chiếc móc câu đã đưa tay tới, rồi kịp dừng. Thanh hỏi: “Ông nhận ra?” “Giống dấu lão hay khắc lên cán chèo.” “Nghĩa là gì?” “Không biết.” Người đàn bà liếc ông. “Không biết mà vừa định chộp.” “Cư Vịnh biết thì nói đi.” “Ta biết ông hay nói dối.” Cuộc cãi chỉ cần một đốm đã bén. Họ kể lẫn lên nhau: ai từng bỏ thuyền mắc cạn, ai cắt dây lúc nước lên, ai dẫn thuyền lương vòng xa để thu thêm gạo. Những việc của mười năm trộn với chuyện mới sáng nay. Hùng cố hỏi từng người, nhưng câu nào cũng bị người khác bẻ ngang. Thanh không ngăn. Nàng lắng nghe cho tới khi một âm thanh lọt qua cuộc cãi. Ở mép nước, hai đứa trẻ đang kéo một thuyền nan mắc bùn. Đứa lớn đứng trên bờ nắm dây, đứa nhỏ chống sào dưới thuyền. Mỗi lần cùng kéo, chúng lại hát một câu ngắn để lấy nhịp. “Ba tay qua bãi Sậy—” “Năm tay né mỏ Cò—” “Nghe gà thì ôm bến—” “Thấy đỏ chớ sang đò—” Người đàn bà ngừng nói giữa chừng. Thanh quay đầu. “Các ấu học bài ấy ở đâu?” Đứa lớn thấy người lạ gọi thì buông dây. Thuyền nan trôi ngược ra một đoạn, đứa nhỏ hét lên, cả hai lại cuống cuồng kéo vào. “Cơ dạy!” đứa lớn đáp. Người đàn bà quát: “Kéo thuyền đi, đừng xen chuyện người lớn.” Hai đứa trẻ im ngay. Nhưng lúc ghì dây, chân chúng vẫn giẫm nhịp theo câu hát chưa xong. Thanh nhìn bốn thẻ. Ba chấm. Một vạch xiên. Chiếc móc. Những dấu không đủ thành lời nhưng có thể đủ giữ nhịp. “Lão Dần có hát khi chèo không?” Người râu lưa thưa đáp quá nhanh: “Ai chèo chẳng hát.” “Lão hát bài nào?” “Nhiều.” “Bài hai ấu vừa hát?” Không ai trả lời. Hùng hiểu ra sau Thanh một nhịp. Chàng hỏi: “Bài ấy đi từ bến nào tới bến nào?” Người đàn bà đứng bật dậy. “Công Tự đã nói không hỏi đường.” “Ta đang hỏi một bài hát.” “Đường nằm trong bài.” Vậy là bà đã trả lời. Ba người còn lại cùng quay sang. Bà biết mình lỡ lời, mặt sầm xuống. Thanh không dồn. Nàng cuộn lại bản lệnh, cất vào ống. “Chúng tôi không chép ở đây.” “Sợ chúng tôi giật bút à?” “Sợ các vị chỉ còn nhìn thấy người khác sẽ lấy gì của mình.” Nàng đứng lên. “Chúng tôi sẽ đi quanh bến. Ai muốn kể về lão Dần thì kể riêng một kỷ niệm, không cần nói đường. Chúng tôi không hỏi tên bến, chỉ hỏi câu hát. Cuối ngày, chúng tôi sẽ đọc lại phần trùng nhau trước cả bốn nhà. Phần riêng của nhà nào vẫn giữ riêng.” Người râu lưa thưa nheo mắt. “Làm thế để được gì?” “Để biết điều gì thuộc về lão Dần trước khi nó bị mỗi nhà kéo về phía mình.” “Nếu chẳng ai kể?” Thanh đeo ống thẻ lên vai. “Thì chúng tôi chỉ có thể ghi rằng bến này chưa sẵn lòng kể điều mình biết.” Hùng quay mặt đi, ho khẽ. Người đàn bà nhìn Thanh hồi lâu rồi ngồi xuống lại. “Công Thị nói sắc quá, có ngày tự cắt vào tay.” “Quân cũng nói gần như vậy.” “Ông ấy còn sống?” “Vâng.” “Vậy nên nghe.” Bà kéo một mái chèo đang sửa dở lại gần, tiếp tục quấn dây quanh cán. Nhưng trước khi Hùng và Thanh rời mái lều, bà nói với theo: “Lão Dần ghét người hát sai nhịp. Ai muốn hỏi thì đừng chỉ nghe chữ.” • • • Đến giữa chiều, họ nghe cùng một bài hát theo sáu cách. Một người vá lưới hát câu “thấy đỏ chớ sang đò” thành “thấy đỏ thì sang đò”. Một cô gái bán nước bỏ hẳn câu nghe gà. Một người chèo thuê quả quyết sau bãi Sậy phải là bảy tay chèo chứ không phải ba. Hai đứa trẻ chỉ biết bốn câu đầu nhưng giữ nhịp đều nhất. Hùng ghi các lời thành sáu hàng. Thanh không cho chàng gạch câu nào. “Rõ ràng có câu sai.” “Sai so với bản nào?” “Năm người nói ‘chớ sang’, chỉ một người nói ‘thì sang’.” “Có thể năm người cùng học từ một người.” “Bậu định giữ mọi thứ đến khi ống thẻ nặng chìm thuyền sao?” “Nếu Bậu muốn nhẹ, bỏ phần cơm trưa chưa ăn trước.” Hùng nhìn gói cơm treo bên hông. “Bậu cũng chưa ăn.” “Qua không than nặng.” Họ ngồi xuống một bậc gỗ cạnh cọc buộc thuyền. Bữa cơm chỉ còn hai nắm gạo nguội, ít muối vừng và một miếng cá nướng Thanh mua của người gánh sọt khi nãy. Chia xong, miếng cá về phía Hùng lớn hơn một chút. Chàng bẻ đôi phần chênh, đặt lại lên lá của nàng. “Bậu sợ Qua ghi vào bản rằng người giành phần cá lớn không đủ công bằng để giữ lời dân?” “Qua sợ Bậu đói sẽ càng khó chịu.” “Qua đang rất dễ chịu.” “Đúng. Người đàn bà lúc nãy chắc vẫn còn run.” Thanh định đáp, nhưng nhìn vẻ nghiêm túc giả vờ của chàng thì bật cười. Một con chim nước đang đậu trên mũi thuyền gần đó giật mình bay lên. Tiếng cười của nàng tan nhanh trong gió sông, song không mất hẳn; nó để lại trên gương mặt cả hai một sự nhẹ nhõm khó gọi tên. Ăn được nửa nắm cơm, Hùng gõ ngón tay theo lời hát. “Ba tay, năm tay. Có thể là số nhịp chèo giữa hai chỗ.” Thanh lắc đầu. “Quá ngắn.” “Nếu là nhịp để đổi hướng?” “Vậy ‘nghe gà’ là gì?” “Một làng nuôi gà gần sông.” “Hoặc tiếng nước qua đá giống gà gáy.” “Bậu vừa nói bản đồ không nghe được đường, giờ lại bắt nước gáy.” Thanh lấy một cọng lá nhỏ, thả xuống mép nước. Dòng chảy kéo nó xiên khỏi bờ, quay một vòng sau cọc rồi mới đưa ra xa. “Bài hát không chỉ giữ nơi chốn,” nàng nói. “Nó giữ việc phải làm ở nơi ấy. Qua bãi Sậy thì ba tay. Né mỏ Cò thì năm tay. Nghe gà thì ôm bến. Người không biết tên bến vẫn có thể làm theo.” Hùng trải bốn thẻ của lão Dần lên đầu gối. “Ba chấm là ba tay. Chiếc móc là ôm bến.” “Vạch xiên có thể là né.” “Vậy thẻ thứ tư?” Trên thẻ thứ tư là hai hàng Khoa Đẩu đã mòn, chỉ đọc được mấy tiếng rời: đất đỏ, nước trở, trăng non. Một giọng già nua cất lên sau lưng họ: “Đọc chữ mà không hát thì đến sáng mai cũng không ra.” Hùng và Thanh cùng quay lại. Một bà lão đang ngồi trong chiếc thuyền con áp bờ. Mái tóc bà trắng gần hết, cắt ngắn ngang vai. Trước mặt là một rổ củ nâu dùng nhuộm lưới. Bà không nhìn họ, chỉ lựa từng củ, dùng móng tay bấm bỏ phần thối. Thanh hỏi: “Tôn Thị từng chèo với lão Dần?” “Ta từng đánh lão bằng mái chèo.” Hùng đặt nắm cơm xuống. “Vì sao?” “Lão chê ta hát trễ một nhịp. Ta bảo lão giỏi thì tự chèo.” “Rồi sao?” “Lão tự chèo thật. Chèo cả đêm, sáng ra không nhấc nổi hai tay. Ta phải đút cơm.” Nhu cúi xuống rổ củ nâu. Nụ cười nơi khóe miệng tắt chậm hơn lời kể. Thanh ngồi thấp xuống để mắt ngang với bà, đợi một lúc rồi mới hỏi. “Tôn Thị là người nhà của lão?” “Không.” “Bạn thuyền?” “Có lúc.” “Xin Tôn Thị cho biết lời nào là điều Tôn Thị tận mắt nhớ, lời nào nghe người khác kể.” Bà lão lúc này mới nhìn nàng. “Công Thị thuộc nhà giữ chữ nào mà hỏi như đóng cọc vậy?” “Nhà giữ việc duy trì và phát triển tri thức.” “Tên?” “Thanh.” “Ta hỏi tên Công Thị, không hỏi chức nhà.” Thanh khựng lại. “Tôi là Thanh.” “Thế dễ nghe hơn.” Bà chỉ cằm sang Hùng. “Còn Công Tự?” “Hùng.” “Không Công Tự Công Thiếc gì à?” Hùng suýt sặc miếng cơm vừa nuốt. “Nếu Tôn Thị không cần.” “Ở bến, thuyền lật thì tước cũng chìm như tên.” Bà tự xưng là Nhu. Không ai gọi bà là chủ thuyền, nhưng lúc bà lên tiếng, những người vá lưới gần đó đều hạ giọng. Hai đứa trẻ kéo thuyền nan chạy tới, ngồi xổm bên mạn. Đứa lớn là ấu ngoại của bà. Thanh hỏi bà có thể hát trọn bài của lão Dần không. Bà Nhu tiếp tục lựa củ nâu. “Có thể.” “Tôn Thị Nhu có đồng ý để chúng tôi chép?” “Không.” “Vì sao?” “Vì hai người đang tìm một bài đúng nhất để đem về đặt lên bản đồ. Bài của lão Dần không có một bản đúng cho mọi mùa.” Hùng nói: “Nhưng phải có thứ tự bến.” “Thứ tự có. Việc làm ở mỗi bến thì đổi.” Bà cầm một củ nâu lành, ném sang rổ bên trái. “Mùa cạn, thấy đất đỏ thì tránh. Mùa nước, thấy đất đỏ nghĩa là nước đã che bãi cao, có thể cắt qua. Câu hát đổi một tiếng. Người chỉ giữ chữ mà không biết mùa sẽ tự đưa thuyền lên bùn.” Thanh nhìn sáu bản lời. Người duy nhất hát “thì sang” là một người chèo già. Năm người còn lại trẻ hơn. “Bản khác nhau không hẳn vì họ giấu.” “Có người giấu. Có người quên. Có người hát đúng cho một mùa rồi tưởng đúng cả đời.” Hùng đặt tấm bản đồ nhỏ bác Lẫm cho mượn cạnh bà. “Vậy làm sao ghi đường?” Bà Nhu nhìn tấm da rất lâu, nhưng không chạm vào. “Ghi người đã đi, đi mùa nào, nước cao đến đâu, thuyền nặng hay nhẹ. Ghi bài họ hát. Đừng cạo lời cũ chỉ vì lời mới khác nó.” Thanh và Hùng nhìn nhau. Điều bà nói gần như phần còn thiếu trong bản định việc của họ, nhưng cụ thể hơn, bẩn bùn hơn và không thể nằm gọn trong một nét mực. Hùng hỏi: “Tôn Thị Nhu có thể giúp chúng tôi xếp lại thứ tự bến không?” “Có.” “Đổi lại điều gì?” “Không đổi.” Bà Nhu nhặt một củ nâu thối, ném xuống nước. “Ta đặt điều kiện.” Thanh hơi mỉm cười. “Xin Tôn Thị Nhu nói.” “Bốn nhà thuyền phải cùng nghe. Không nhà nào được giữ riêng bản chép. Kho đường giữ một bản, bến giữ một bản. Sau mỗi mùa nước lớn, người đi về được quyền thêm lời mà không phải xin người ngồi trong thành tin trước.” Hùng nói: “Nếu ai cũng được thêm, bản sẽ đầy lời trái nhau.” “Thì ghi tên họ dưới lời họ.” Thanh nhìn chàng. Hùng biết ánh mắt ấy. Nó giống lúc nàng đẩy nghiên mực sang phía chàng ở ngày đầu viết bản định việc. “Ta đồng ý ghi nguồn,” chàng nói. “Nhưng việc đưa vào tuyến dùng cho đoàn phải được kiểm chứng.” Bà Nhu gật đầu. “Ít ra Hùng biết sợ chết.” “Tôi vẫn luôn biết.” “Người trẻ nào cũng nói thế cho tới lúc có người nhìn.” Bà chống tay đứng dậy. Hai đứa trẻ nhảy xuống thuyền giữ cho mạn khỏi chao. Bà bước lên bờ, lưng còng nhưng chân đặt rất chắc. “Gọi bốn nhà lại. Muốn nghe bài của lão Dần thì phải nghe lúc có mái chèo.” • • • Khi mặt trời chạm dãy cây bên kia sông, bốn nhà thuyền đem bốn chiếc thuyền ra khoảng nước trước bến. Không ai chịu ngồi cùng ai, nên bà Nhu bắt mỗi nhà cử một người đứng trên thuyền của mình. Bốn thuyền buộc song song bằng hai sợi chão dài. Mỗi người cầm một mái chèo, nhưng chỉ được khua khi bà gõ cán sào xuống ván. Hùng và Thanh ngồi trên cầu bến. Bác Lẫm trải thẻ. Dân quanh bến bỏ dần việc, tụ lại xem. Người đàn bà vai rộng ban đầu tỏ vẻ không quan tâm, cuối cùng vẫn tự cầm chèo. Bà Nhu gõ nhịp thứ nhất. Bốn mái chèo cùng xuống nước. Bà cất giọng. Giọng già, khàn và thấp, không đẹp theo kiểu người hát hội, nhưng vừa chạm mặt nước đã như tìm lại nơi thuộc về mình. “Ba tay qua bãi Sậy, Năm tay né mỏ Cò. Nghe gà thì ôm bến, Thấy đỏ chớ sang đò.” Đến câu cuối, người chèo già bên nhà Tràm hát khác: “Thấy đỏ thì sang đò.” Một vài người trên bờ cười. Bà Nhu gõ cán sào mạnh đến mức bốn mái chèo dừng giữa nước. “Cười gì?” Không ai đáp. “Nó hát bản mùa nước. Các người đang đứng bến mùa cạn mà tưởng miệng mình giữ được cả dòng sông.” Bà bắt đầu lại. Lần này, tới câu đất đỏ, bà tách bài làm hai. Một nửa người hát lời mùa cạn, nửa kia hát lời mùa nước. Hai câu đối nhau nhưng cùng rơi đúng một nhịp chèo. Sau đất đỏ là bến Cò Ngủ, rồi doi Ba Gốc, rồi một khúc không gọi bằng tên mà gọi bằng mùi: nơi nước có mùi lá mục thì ghìm thuyền sát bờ; nơi gió mang mùi đá ướt thì rời bờ trước khi nhìn thấy vách. Những chỗ trên bản đồ chỉ là nét cong, trong bài hát trở thành việc của mắt, tai, mũi và cánh tay. Thanh chép lời. Hùng đánh dấu thứ tự. Cứ qua một đoạn, họ dừng để hỏi ai từng tận mắt đi, mùa nào, thuyền gì. Cãi vã vẫn nổ ra, nhưng không còn trôi về những món nợ mười năm. Một người bảo cần sáu nhịp qua mỏ Cò; người khác nói thuyền nhẹ chỉ cần năm. Hùng ghi cả hai, đặt cạnh tải thuyền. Đến đoạn thứ bảy, bà Nhu chỉ vào chiếc thẻ có hình móc câu. “Đây không phải ôm bến. Đây là quay mũi đón dòng.” Người râu lưa thưa phản đối: “Lão Dần khắc dấu ấy ở bến Gà.” “Vì bến Gà phải quay mũi đón dòng.” “Vậy sao không ghi tên bến?” “Tên bến đổi khi làng dời. Dòng nước không biết làng gọi nó là gì.” Bác Lẫm ngồi bất động một lúc lâu. Rồi ông mở cuộn bản đồ, lấy một thẻ trắng thay vì cầm dao cạo. Ông chép: dấu móc - quay mũi đón dòng; người giải: Nhu; đối chứng: ba nhà đồng ý, một nhà chưa nhận; kiểm lại mùa nước. Hùng nhìn hàng chữ. “Thiết Lẫm không sửa trên da sao?” “Chưa.” “Vì chưa chắc?” “Vì da không còn chỗ chứa cách chúng ta biết.” Ông buộc thẻ mới vào đúng lỗ dùi bên mép bản đồ. Tấm da vốn phẳng giờ mang thêm một mảnh tre, nhỏ và nặng, khiến góc bản đồ hơi trĩu xuống. Bài hát kéo dài cho tới khi trời đỏ rồi tím. Những ngọn đèn dầu được thắp dọc bến. Ánh lửa lay trên nước, vỡ thành hàng trăm mảnh mỗi khi mái chèo động. Đến cuối bài, thứ tự bến hiện ra không thành một đường duy nhất mà thành hai dải theo mùa. Cả hai đều đi qua bốn điểm giống nhau: bãi Sậy, bến Gà, doi Ba Gốc và vũng Trăng Non. Từ vũng Trăng Non mới tách lối tới vùng có dấu đầu tiên mà Hùng và Thanh cần khảo xét. Bốn nhà thuyền đã giấu những lối tắt riêng, nhưng không nhà nào có thể phủ nhận bốn điểm chung. Chúng là phần con đường không thuộc riêng ai, bởi mọi thuyền muốn sống đều phải biết. Hùng đặt thẻ mang dấu của vùng đầu tiên cạnh tuyến bốn bến vừa xác nhận. Ba thẻ còn lại vẫn nằm ở những khoảng xa hơn trên bản đồ. Ít nhất, giữa Phong Thành và dấu đầu tiên đã hiện ra một trật tự có thể thử bằng chân người và đáy thuyền. Chàng không thấy nhẹ nhõm như tưởng tượng. Muốn đi con đường ấy, họ phải chọn một người dẫn. Chọn một nhà nghĩa là ba nhà còn lại sẽ tin họ đã thiên vị. Chọn bà Nhu thì chuyến đi có thể giết một người đã già. Thanh dường như cũng nghĩ vậy. Nàng hỏi: “Ai còn thuộc trọn hai bản mùa?” Bà Nhu chỉ vào người đàn bà vai rộng. “Vịnh.” Người đàn bà quay phắt lại. “Tôi không đi.” “Ta chưa hỏi.” “Tôn Thị Nhu chỉ trước mặt mọi người thì khác gì hỏi?” Bà Nhu chống sào. “Mày thuộc bài hơn chúng nó.” Vịnh siết tay trên cán chèo. “Thuộc không có nghĩa muốn đem đường nhà mình giao cho người trong thành.” Thanh nói: “Chúng tôi không cần Cư Vịnh trả lời tối nay.” “Công Thị cần trong bảy ngày.” “Hôm nay mới là ngày thứ nhất.” “Sáu ngày còn lại đủ để người có ấn tìm cách khiến một lời xin nghe như lệnh.” Thanh im lặng. Câu nói ấy không vô cớ. Bến này đã từng mất từng phần đường vào kho quan, rồi nhận lại một tấm bản đồ cạo trắng. Người ở đây không chỉ giữ bí quyết để tranh lợi; họ còn giữ nó vì đã thấy tri thức rời tay mình và trở về dưới hình một mệnh lệnh không còn chỗ cho họ sửa. Hùng tháo thẻ công vụ bên hông, đặt lên bản đồ. “Ngày mai, trước cửa thành, ta và Công Thị sẽ trình tuyến dự kiến với quan Khâm. Cư Vịnh có thể đến nghe.” Vịnh hỏi: “Nghe rồi sao?” “Nếu lời trình khác điều hôm nay các người xác nhận, Cư Vịnh cứ nói ngay trước mặt ông ấy.” “Một người bến sông được cắt lời quan trong thành à?” “Không cắt. Đối chứng.” “Lời đẹp.” Vịnh nhìn Thanh. “Công Thị có giữ lời ấy không?” Thanh không nhìn Hùng trước khi đáp. “Tôi sẽ ghi tên người phản đối ngay dưới tên người trình. Kể cả người trình là tôi.” “Còn nếu các người xuống thuyền rồi bắt người dẫn đi theo đường mình muốn?” Hùng nói: “Người dẫn có quyền dừng thuyền khi thấy nguy hiểm.” Vịnh cười nhạt. “Nguy hiểm cho người hay nguy hiểm cho điều các người muốn tìm?” Câu hỏi khiến Hùng chưa thể đáp ngay. Thanh nói: “Đó là điều chúng tôi phải định rõ trước khi ra khỏi thành.” Bà Nhu gõ cán sào xuống ván một tiếng khô. “Vậy định đi. Người đi đường chưa biết nhường tay cho người cầm lái thì bài hát có đúng cũng chỉ đưa tới chỗ chết.” Vịnh kéo thuyền mình khỏi sợi chão nối bốn nhà. Trước khi chèo vào bến, chị nói: “Sáng mai tôi sẽ tới cửa thành. Không phải nhận dẫn đường. Tôi tới nghe hai người thề mình định làm gì với con đường này.” • • • Đêm xuống, kho bản đồ chỉ còn một ngọn đèn. Bác Lẫm không cạo lại bất kỳ nét nào. Ông buộc mười hai thẻ lời hát dọc mép tấm da, chia rõ bản mùa cạn và bản mùa nước. Những mảnh tre va nhẹ vào nhau mỗi khi gió lùa, khiến tấm bản đồ phát ra tiếng lách cách như một vật vừa học được cách lên tiếng. Hùng ngồi đối diện Thanh, chép lại thứ tự bến lần cuối. Trên án, hai bản tuyến giống nhau ở bốn điểm và khác nhau ở ba điều kiện. Lần đầu, sự khác nhau không làm chàng thấy bản việc chưa hoàn thành. Nó làm con đường hiện rõ hơn. “Bậu biết sáng mai Vịnh sẽ hỏi gì không?” “Biết vài điều.” “Có câu trả lời chưa?” “Chưa đủ.” Hùng tựa lưng vào cột. Hai vai chàng đau vì một ngày cúi trên bản đồ rồi ngồi bến. “Qua cứ tưởng việc khó nhất là tìm ra đường bị giấu.” “Không.” Thanh xếp các thẻ đã khô mực. “Việc khó nhất là làm sao dùng con đường sau khi biết nó mà không biến người chỉ đường thành kẻ phải phục vụ mình.” “Nếu mọi quyết định đều phải chờ người dẫn đồng ý, chúng ta không còn quyền làm việc.” “Nếu không biết lúc nào phải nghe họ, chúng ta chỉ có quyền đi lạc.” Hùng nhìn nàng. Ánh đèn đặt giữa hai người, làm nửa gương mặt Thanh sáng ấm, nửa còn lại chìm trong bóng. Nàng mệt; một vệt mực nằm sát cổ tay, tóc đã xổ khỏi dây buộc. Nhưng giọng nói không còn sắc để thắng chàng như buổi sáng. Nó chỉ đặt một điều khó xuống giữa hai người và chờ cả hai cùng gánh. “Vậy chia thế nào?” chàng hỏi. Thanh suy nghĩ. “Bậu quyết điều cần kiểm chứng,” nàng nói chậm. “Người dẫn quyết con đường nào còn đi được. Còn Qua giữ lời của cả hai, để sau đó không ai có thể đổi nó theo ý mình.” “Nếu mục tiêu buộc phải qua chỗ người dẫn từ chối?” “Chúng ta tìm đường khác hoặc ghi rằng chưa thể đến.” “Nếu chỉ còn một cơ hội?” “Thì Bậu phải nói rõ cái giá trước khi ra lệnh, và tự chịu tên mình dưới lệnh ấy.” Hùng cầm bút, nhưng không viết ngay. Ngón tay chàng giữ thân bút chặt hơn, như thể lần đầu cảm thấy tên mình cũng có trọng lượng. “Bậu luôn tìm cách khiến tên Qua đứng cạnh những việc khó chịu.” “Tên Qua cũng ở đó.” Chàng nhìn khoảng trống cuối bản tuyến. “Ngày mai chúng ta cần một lời thề trước khi cần một người dẫn đường.” Thanh gật đầu. “Không thề rằng sẽ luôn đúng.” “Thề rằng khi sai, người khác có quyền giữ lại dấu sai ấy.” Bác Lẫm từ cuối án lên tiếng: “Nếu viết được câu đó, để cho kho đường một bản.” Hùng quay sang. Ông vẫn cúi trên tấm da, cẩn thận luồn dây qua một lỗ dùi cũ. “Thiết Lẫm định giữ lời thề cùng bản đồ?” “Không.” Ông kéo nút dây, treo thẻ cuối cùng vào chỗ từng bị cạo trắng. “Giữ để lần sau có người muốn xóa một con đường, họ phải nhớ mình còn có thể ghi vì sao nó đổi.” Ngoài kia, dòng sông trôi trong tối. Không ai nhìn thấy bãi bồi, mỏ đá hay những xoáy nước. Nhưng từ bến dưới thành, tiếng hai đứa trẻ lại vọng lên. Chúng hát nhỏ để chèo thuyền về nhà, sai một câu rồi cãi nhau, sau đó hát lại từ đầu. Tấm bản đồ trên án không còn im lặng như buổi trưa. Nó vẫn thiếu đường. Nhưng dọc những mép bị xóa, lời của người đã đi bắt đầu trở lại.
Chương trước Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ