Sáng ngày thứ nhất, bản định việc đã có bảy thẻ tre, ba nét gạch bỏ và một vệt mực loang bằng đầu ngón tay.
Vệt mực là của Hùng.
Chàng chống tay lên án, đọc lại hàng chữ vừa viết: “Được xem sổ nghề tại những nơi có dấu hiệu liên quan.”
Thanh ngồi đối diện, dùng sống dao nhỏ cạo lớp mực trên một thẻ khác. “Bậu viết thế thì quan Đào sẽ hỏi ai nhận ra dấu hiệu liên quan.”
“Chúng ta.”
“Vậy ông ấy sẽ gạch.”
“Quan Khâm?”
“Sẽ hỏi dựa vào chứng nào.”
Hùng nhấc ngón tay khỏi vệt mực. “Bậu đã biết họ sẽ nói gì, sao không viết luôn?”
Thanh thổi bụi tre khỏi mặt thẻ. “Vì Qua đang chờ Bậu nhận ra câu ấy không đứng được.”
Chàng nhìn nàng. Đôi mắt Thanh vẫn đặt trên thẻ, nhưng khóe môi đã hơi động. Hai người thức gần trọn đêm, đủ mệt để sự giữ lễ trở nên mỏng hơn thường ngày, mà chưa ai chịu nhận mình đang cáu.
Ngoài hành lang, những người quét sân kéo chổi qua nền đất nện. Lớp đất ven dãy nhà đã bị giẫm cứng đến mức nước đêm không thấm nổi. Bánh xe, guốc gỗ, chân trần và móng gia súc đã đi qua đó nhiều năm, ép những hạt đất rời thành một lối bền chắc. Không ai ban lệnh cho con đường hình thành. Nó có mặt vì người ta cần đi.
Thanh đặt thẻ đã cạo sạch xuống giữa hai người.
“Viết thế này: chỉ được xem sổ khi người giữ sổ đồng ý, hoặc khi người có thẩm quyền tại nơi ấy chứng kiến. Không mang bản gốc khỏi chỗ giữ. Mọi bản chép phải có người đối chứng.”
Hùng cân nhắc. “Nếu người giữ sổ từ chối vì sợ lộ bí quyết nghề?”
“Ghi lý do từ chối.”
“Thế thì chúng ta có thể đi cả tháng chỉ để ghi rằng người ta không cho xem.”
“Còn hơn đi một ngày rồi khiến cả vùng giấu sổ.”
Hùng quay thẻ tre trong tay. Những thớ mảnh bắt sáng như những dòng nước khô. “Bậu luôn nghĩ người ta sẽ sợ chúng ta.”
Thanh ngẩng lên. “Còn Bậu luôn nghĩ chỉ cần mình hỏi đúng thì người ta sẽ trả lời.”
“Qua không nghĩ vậy.”
“Hôm qua Bậu nói cần xem sổ nghề trước khi hỏi ai giữ sổ.”
Hùng định đáp, rồi thôi. Tiếng chổi ngoài hành lang đi qua cửa, xa dần.
Chàng kéo một thẻ trắng về phía mình. “Được. Ghi cả quyền được hỏi lẫn quyền từ chối trả lời.”
Thanh không cười nữa. Nàng đặt con dao xuống. “Không chỉ thế.”
“Còn gì?”
“Qua phải được trực tiếp lấy lời chứng.”
“Đương nhiên.”
“Không đương nhiên.” Nàng chạm đầu ngón tay lên bản dự thảo. “Trong bản này, Bậu là người đối chiếu dấu, chọn nơi cần đến và trình kết quả. Qua được ghi lời, giữ bản sao và kiểm tra cách dùng chữ. Nếu Kinh phê đúng như thế, Qua chỉ là người cầm thẻ đi sau Bậu.”
Hùng đọc lại. Lúc viết, chàng chỉ chia việc theo sở trường: mình xét hình và trật tự, Thanh giữ lời kể khỏi bị chép sai. Trên thẻ, sự phân chia ấy trông gọn gàng. Qua giọng nàng, nó bỗng giống một cánh cửa chỉ mở về một phía.
“Qua không có ý đặt Bậu đi sau.”
“Nhưng chữ sẽ đặt.”
Hùng im lặng một lúc rồi hỏi: “Bậu muốn sửa thế nào?”
“Hai người đều có quyền đề nghị nơi khảo sát, trực tiếp hỏi và dừng việc lấy lời nếu thấy cách hỏi làm sai nghĩa. Kết luận phải có tên người đưa ra. Nếu bất đồng, ghi cả hai ý.”
“Một bản trình có hai kết luận sẽ bị coi là chưa làm xong.”
“Một bản trình giấu bất đồng mới là bản chưa làm thật.”
Hùng dựa lưng, nghe khớp vai mình kêu nhỏ. “Quan Khâm sẽ thích câu ấy.”
“Qua không viết để ông ấy thích.”
“Qua biết.” Chàng lấy bút. “Nhưng lần đầu tiên từ sáng đến giờ, Qua cũng thích.”
Thanh nhìn xuống để giấu vẻ dịu đi trong mắt. Nàng đẩy nghiên mực sang phía chàng, vừa đủ để tay họ không chạm nhau.
Họ viết đến khi nắng rọi qua song cửa, chia mặt án thành những vạch sáng tối. Bản định việc có thêm cách lấy lời chứng, cách giữ vật, cách trả vật và những điều họ tuyệt đối không được làm: không tự gọi dân bỏ việc; không mở kho nếu thiếu người coi giữ; không lấy vật thờ, vật truyền đời hoặc dụng cụ đang nuôi sống một nhà; không dùng danh Kinh ép ai xác nhận điều họ không biết.
Đến gần trưa, một người hầu của nhà Thanh đứng ngoài cửa. Ông không bước vào, chỉ cúi đầu báo rằng phụ thân nàng đợi ở nhà dùng bữa.
Thanh nhìn khay cơm nguội chưa ai động tới bên cửa sổ.
“Ông ấy biết tôi đang làm việc.”
Người hầu cúi thấp hơn. “Thưa Công Thị, chủ nhà nói chính vì biết nên mới mời người về.”
Hùng đặt bút xuống. “Qua có thể sửa phần lương và người đi trước.”
Thanh cuộn bản dự thảo lại. “Không. Phần quyền tiếp cận chưa xong.”
“Bậu định mang về?”
“Nếu để lại đây, lúc Qua trở lại có khi Bậu đã viết thêm ba quyền cho mình.”
“Chỉ ba?”
Lần này nàng bật cười. Tiếng cười ngắn vì mệt, nhưng làm căn phòng bớt giống một nơi tra xét.
• • •
Nhà Thanh nằm gần khu giữ văn bản, nơi các mái ngói xếp sát nhau và đường đi luôn sạch bụi hơn ngoài bến. Trong sân không có cây lớn; rễ có thể đội nền kho. Chỉ có những chum nước mưa đặt dưới mái và dãy giá phơi thẻ tre thơm mùi nắng.
Phụ thân nàng ngồi ở gian giữa. Trên án trước mặt ông là ba bản phả nghề, hai ống đựng thẻ và bữa cơm đã nguội. Ông không bảo dọn đi.
“Ấu ngồi xuống.”
Thanh ngồi đối diện. Ở ngoài công vụ, nàng vẫn là ấu của ông; nhưng cuộn thẻ trong tay khiến nàng không thể trở lại làm người chỉ cần nghe lời như những năm còn học chép chữ.
Ông nhìn cuộn thẻ. “Bản định việc?”
“Vâng.”
“Đưa ta xem.”
Thanh đặt nó lên án nhưng chưa đẩy sang. “Đây là bản chưa trình.”
“Ta không hỏi nó đã trình chưa.”
“Ấu biết.”
Ông nhìn tay nàng giữ trên cuộn thẻ. Gương mặt ông không giận; chính sự điềm tĩnh ấy làm gian nhà nặng hơn.
“Sáng nay đã có người tới hỏi nhà ta có định để một Công Thị đi cùng Công Tự Hùng tới từng phường nghề, từng bến sông hay không.”
“Ai hỏi?”
“Người không cần biết câu trả lời nhưng muốn nhìn cách ta trả lời.”
Thanh buông cuộn thẻ. “Quân đã nói gì?”
“Ta nói chưa có lệnh.”
“Đó là sự thật.”
“Sự thật không ngăn người ta hiểu điều họ muốn hiểu.” Ông mở nắp một ống thẻ rồi đóng lại, không lấy gì ra. “Nhà ta giữ việc duy trì và phát triển tri thức nhiều đời. Người ngoài có thể chấp nhận chúng ta đọc sổ của họ vì họ tin ta giữ ranh giới. Nếu Ấu theo một cuộc tìm kiếm chưa biết đích, mở sổ nghề, hỏi lệ cũ, chạm vào bí quyết truyền nhà, mọi lời Ấu nói sẽ mang theo danh của cả nhà.”
“Vì vậy Ấu mới ghi giới hạn.”
“Giới hạn không xóa được tiếng đồn.”
“Nếu sợ tiếng đồn hơn chỗ tri thức đang mất đi, chức phận của gia tộc còn để làm gì?”
Ông nhìn thẳng vào nàng. “Đừng lấy lời lớn để đẩy người đối diện vào chỗ không thể trả lời.”
Câu ấy khiến Thanh nhớ lời Thị Kinh trong điện: nếu mỗi lần bị nghi ngờ đều phải thắng một người, nàng sẽ không còn tai để nghe người khác.
Nàng hít vào, chậm hơn.
“Ấu xin nói lại.” Thanh đặt hai tay lên đầu gối. “Quân sợ điều gì nhất?”
Sự giận dữ vừa hiện trong mắt ông ngừng lại. Có lẽ ông không ngờ nàng sẽ hỏi.
“Ta sợ Ấu bị dùng làm dấu xác nhận cho một kết luận đã có sẵn.”
“Còn gì nữa?”
“Ta sợ khi việc thất bại, người ta sẽ nói nhà giữ tri thức đã mang chuyện vụn của dân ghép thành điều huyễn hoặc.”
Ông nhìn xuống bàn tay nàng. “Và ta sợ đường xa không giống phòng chép. Ở đây, một nét sai còn cạo đi được. Ngoài kia, một lời sai có thể khiến cả làng quay lưng, một trận mưa có thể cuốn thuyền, một người có quyền có thể lấy danh Kinh ép Ấu im miệng.”
Lần đầu từ lúc bước vào nhà, Thanh nghe trong giọng ông không chỉ có chức phận. Có cả nỗi sợ của một người cha đã quen bảo vệ con bằng những bức tường yên tĩnh.
Nàng mở bản dự thảo, trải từng thẻ lên án.
“Ấu cũng sợ.”
Ông không nói.
“Ấu sợ mình chỉ được đi để chép lời người khác rồi nhìn một người khác quyết định lời nào đáng giữ. Ấu sợ bản chép của Ấu sẽ sạch sẽ đến mức không còn ai sống trong đó.” Nàng chỉ vào một hàng chữ. “Vì vậy Ấu yêu cầu được tự hỏi, tự dừng và ghi rõ khi bất đồng. Không ai được dùng tên Ấu để xác nhận điều Ấu không thấy.”
“Nếu điều Ấu thấy sai?”
“Thì người khác phải có quyền kiểm chứng và ghi rằng Ấu sai.”
“Ấu chấp nhận để tên mình đứng cạnh một điều sai?”
Thanh nhớ mảnh muỗng giữ giống, dấu nước dưới kho, tiếng lò gốm và những lời trong điện. Mỗi thứ từng trông chắc chắn cho đến khi đặt cạnh đời sống của người khác.
“Nếu tên Ấu chỉ được đứng cạnh điều đúng sau khi mọi người đã biết nó đúng, thì tên ấy không gánh việc gì cả.”
Ngoài sân, một người làm lật các thẻ đang phơi. Tiếng tre chạm nhau lách cách, khô và nhẹ.
Phụ thân nàng cầm bản dự thảo. Ông đọc từng thẻ rất lâu. Khi đến điều cấm mang bản gốc khỏi nơi giữ, ngón tay ông dừng lại.
“Thiếu một điều.”
Thanh chờ.
“Không được tách lời khỏi người nói. Phải ghi người ấy nói trong tư cách nào: thợ, chủ phường, người giữ lệ, người nghe kể hay người tận mắt thấy.”
Ông lấy một thẻ trắng, viết thêm bằng những nét đều và hẹp.
“Một câu qua ba đời không kém giá trị, nhưng nó không thể đứng giả làm lời của người tận mắt.”
Thanh nhìn hàng chữ mới. “Quân đồng ý cho Ấu đi?”
“Ta đồng ý rằng nếu Ấu đi, Ấu không được đi như một cái bóng cầm bút.”
“Còn danh của nhà?”
Ông đặt bút xuống. “Danh không phải mái nhà để người trong đó không bao giờ dính mưa. Nó là món nợ khiến mình phải bước ra khi điều mình có thể giữ đang bị thất lạc.”
Rồi ông đẩy bát cơm nguội về phía nàng.
“Ăn đi. Người định giữ lời thiên hạ mà quên nuôi thân mình thì chưa đi hết con đường đã ngã.”
Thanh cầm bát. Cơm đã se mặt, canh chỉ còn hơi ấm. Nàng ăn hết mà không nói thêm. Có những lời được chấp thuận bằng một nét bút; có những lời nằm trong việc một người vẫn để phần cơm chờ đến nguội.
• • •
Chiều ngày thứ hai, quan Khâm đọc bản định việc từ đầu đến cuối mà không hỏi một câu. Quan Đào thì hỏi ngay từ thẻ thứ nhất.
“Hai người cùng có quyền chọn nơi khảo sát. Nếu mỗi người chọn một hướng thì đoàn đi đâu?”
Hùng đáp: “Nơi nào có ít nhất hai dấu độc lập cùng chỉ tới.”
“Ai định chúng độc lập?”
“Hai người phải ghi nguồn. Nếu cùng từ một lời truyền hoặc một bản sao, chỉ tính là một.”
Đào gõ móng tay lên án. “Nếu Công Tự và Công Thị không thống nhất?”
Thanh nói: “Chọn nơi ít cần quyền can thiệp hơn. Nếu vẫn ngang nhau, trình lại người được giao giám sát trước khi đổi tuyến.”
Quan Đào ngước nhìn nàng. “Công Thị đem cả sự bất đồng của mình vào bản lệnh?”
“Nếu không ghi từ đầu, nó vẫn đi cùng chúng tôi, chỉ là không ai kiểm soát.”
Quan Khâm khẽ chuyển mắt sang Hùng. “Công Tự chấp nhận?”
Hùng đáp sau một nhịp ngắn: “Tần chấp nhận. Một người tự quyết nhanh hơn, nhưng hai người để lại dấu vì sao mình quyết thì người sau mới biết chỗ nào cần xét lại.”
Khâm lấy một thẻ riêng. “Ta sẽ thêm một điều: mỗi mười ngày, nếu có trạm chuyển tin, hai người phải gửi bản lược về. Không chỉ gửi điều tìm thấy; phải gửi cả điều đã bác bỏ.”
Hùng nhíu mày. “Mười ngày có thể quá ngắn ở nơi đường nước đổi theo mùa.”
“Vậy ghi: tại trạm đầu tiên có thể đến sau mỗi khoảng mười ngày. Ta cần biết hai người đang sửa giả thuyết hay chỉ đang chạy theo nó.”
Thanh nói: “Tần đồng ý.”
Hùng quay sang. “Bậu đồng ý nhanh thật.”
“Vì lần này quan Khâm đúng.”
Khâm không cười. Quan Đào thì bật một tiếng qua mũi, không rõ là vui hay chế nhạo.
Cuộc xét kéo dài đến khi ánh nắng bò khỏi chân cột. Họ cắt hai quyền, thêm ba giới hạn và đổi chữ “thu thập” thành “xin chép hoặc ghi nhận”. Quan Đào buộc Hùng tính lại lương cho từng người; quan Khâm bắt Thanh phân biệt lời tận mắt với lời truyền. Mỗi lần một câu bị gạch, bản định việc bớt vẻ oai của mệnh lệnh và giống một con đường hơn: không mang được họ đến mọi nơi, nhưng cho biết chân được đặt ở đâu và mép vực nằm chỗ nào.
Khi hai quan đứng dậy, Hùng nhìn chồng thẻ bị sửa đến sẫm màu.
“Bản này còn đủ chỗ để đi không?”
Quan Đào vuốt râu. “Nếu Công Tự cần một cánh đồng để đặt chân, tốt nhất đừng ra khỏi thành.”
Quan Khâm buộc các thẻ theo thứ tự. “Sáng mai trình Kinh. Đêm nay đừng thêm điều gì nếu hai người không cùng có mặt.”
Thanh hỏi: “Vì sao?”
“Vì đến lúc này, điều đáng tin nhất trong bản không phải bốn dấu kia.” Ông kéo nút dây vừa đủ chặt. “Là việc không ai trong hai người được lặng lẽ biến câu hỏi của mình thành lệnh cho người kia.”
Ông rời phòng. Quan Đào theo sau, nhưng đến cửa còn quay lại.
“Và ăn tối đi. Ta không muốn ngày mai Kinh tưởng mình giao việc cho hai bóng ma.”
Hùng chờ tiếng chân họ xa hẳn mới hỏi: “Bậu có nghe thấy quan Đào vừa lo cho chúng ta không?”
“Không. Qua chỉ nghe ông ấy sợ phải xét lại bản lần nữa nếu chúng ta ngất trong điện.”
“Vậy cũng là một dạng lo.”
Thanh xếp các thẻ bị loại sang một bên. “Bậu giữ lấy cách hiểu ấy. Có lúc nó sẽ giúp Bậu sống vui hơn.”
• • •
Sáng ngày thứ ba, mưa bụi phủ lên sân điện một lớp ẩm mỏng. Đường đất từ dãy nhà làm việc tới bậc đá in đầy dấu chân mới chồng lên dấu cũ.
Kinh đọc bản định việc trong im lặng. Thị Kinh ngồi bên phải ông. Quan Khâm và quan Đào đứng sau Hùng, Thanh, không lên tiếng đỡ lời.
Đọc đến điều cho phép cả hai trực tiếp lấy lời chứng và ghi bất đồng, Kinh hỏi: “Ai đòi điều này?”
Thanh chắp tay. “Bẩm Kinh, Tần.”
“Vì sao?”
“Nếu chỉ được ghi, Tần sẽ chịu trách nhiệm về chữ mà không có quyền chịu trách nhiệm về nghĩa. Tần không thể nhận việc như thế.”
“Nếu quyền ấy khiến Công Thị Thanh cản trở Công Tự Hùng giữa lúc cần quyết nhanh?”
“Bản đã ghi trường hợp nguy cấp do Công Tự quyết việc bảo toàn người và vật. Nhưng sau đó phải ghi lại lý do. Còn với kết luận về tri thức, nhanh không làm điều sai thành đúng.”
Kinh nhìn Hùng. “Công Tự Hùng nghĩ sao?”
Hùng chắp tay. “Bẩm Kinh, Tần từng nghĩ chia việc như vậy sẽ gọn. Công Thị Thanh chỉ ra rằng sự gọn ấy đặt một người thành tay của người kia. Tần xin giữ điều đã sửa.”
“Hai người chưa ra khỏi thành đã bất đồng. Đi xa sẽ còn nhiều hơn.”
“Vâng.”
“Vậy vì sao ta nên giao việc?”
Hùng nhìn những thẻ tre trên án. Ba ngày trước, chàng muốn chứng minh bốn dấu có thể nối nhau. Bây giờ, điều chàng cầm tới lại là những giới hạn không cho phép mình nối chúng quá sớm.
“Vì Tần và Công Thị Thanh đã biết bất đồng phải để lại dấu, không được giấu nó dưới một kết luận chung.”
Kinh quay sang Thanh. “Công Thị Thanh còn điều kiện nào chưa viết?”
Nàng cảm thấy phụ thân, gia tộc, các kho chữ và cả những người chưa từng gặp đang đứng phía sau câu hỏi ấy.
“Có một điều.”
Quan Đào khẽ nhắm mắt. Hùng quay hẳn sang nàng.
Thanh nói: “Những người cung cấp lời kể hoặc cho xem sổ phải được biết lời của họ sẽ dùng vào việc gì. Khi có thể quay lại, Tần và Công Tự Hùng phải cho họ biết mình đã hiểu ra sao. Không được lấy lời dân rồi biến mất như thể tri thức chỉ có giá trị sau khi vào thành.”
Trong điện lặng đi.
Kinh hỏi: “Điều đó có thể làm chậm chuyến đi.”
“Vâng.”
“Có nơi hai người không thể quay lại.”
“Thì ghi rằng chưa trả được lời.”
“Có người sẽ đổi lời khi biết cách hai người dùng nó.”
“Sự đổi ấy cũng là một điều cần biết.”
Kinh đặt bản thẻ xuống. “Quan Khâm?”
“Tần cho rằng điều kiện ấy khiến lời chứng khó thu hơn, nhưng sạch hơn.”
“Quan Đào?”
Đào thở ra. “Tần cho rằng rồi đây kho sẽ đầy những bản ghi chưa trả lời được. Nhưng ít nhất chúng ta sẽ biết mình còn nợ ai.”
Thị Kinh nhìn Thanh. Ánh mắt bà không khuyến khích cũng không ngăn cản; nó chỉ xác nhận rằng nàng đã tự đặt tên mình dưới điều kiện ấy.
Kinh cầm bút. Ông viết thêm một hàng ngắn vào cuối bản rồi đóng ấn.
“Ta giao Công Tự Hùng và Công Thị Thanh khảo xét những dấu tri thức đang tồn tại ngoài hệ ghi chép của thành. Hai người được cùng quyết định phương pháp trong phạm vi bản này. Không ai là người đi theo để xác nhận cho người kia.”
Hùng và Thanh cùng cúi người. Cả hai lần lượt thưa: “Tần xin lĩnh việc.”
Kinh nói tiếp: “Nơi đầu tiên phải được chọn từ đường đi và lời chứng có thể kiểm tra, không phải từ một cái tên hai người muốn tìm. Trong bảy ngày, trình tuyến dự kiến và người dẫn đường.”
Ấn trên thẻ còn ướt. Màu son thấm vào thớ tre, không nằm trọn trong đường viền.
Khi ra khỏi điện, mưa đã ngừng. Thanh bước xuống bậc trước, Hùng đi bên cạnh chứ không đi trước nàng như những lần đầu họ cùng qua sân.
“Bậu giữ lại một điều đến phút cuối,” chàng nói.
“Nếu viết đêm qua, quan Đào sẽ bắt chúng ta thức thêm.”
“Qua tưởng Bậu không ngại tranh với ông ấy.”
Thanh nhìn lớp đất đầy dấu chân. “Qua đang học không phải cuộc nào cũng cần thắng trong phòng.”
Hùng gật đầu. “Còn Qua đang học một con đường không phải thứ mình vạch ra rồi bắt người khác bước.”
Nàng nghiêng mắt nhìn chàng. “Bậu học nhanh hơn Qua nghĩ.”
“Bậu khen người cũng giống đang xét lỗi.”
“Vậy Bậu đừng quen.”
Họ đi qua sân. Dưới chân, đất ven đường nhận từng bước mà không giữ riêng bước của ai. Nó chỉ nén lại, mở lối cho người sau.
Trong tay Thanh, bản lệnh mới không cho họ một con đường.
Nó cho họ quyền đi tìm đường — và buộc họ nhớ rằng con đường ấy đã có dấu chân của người khác từ trước.