Khi tiếng trống đầu ngày vang trên thành, tro từ phường gốm vẫn còn trong tóc Thanh.
Nàng chỉ kịp rửa mặt ở giếng sân trong rồi cùng Hùng đi về điện chầu. Mảnh gốm lấy từ chân cầu được bọc lại trong vải. Bản dập trên cán muỗng, bản vẽ đường nước chìm và tấm ván than của phường gốm đều ở nguyên nơi chúng thuộc về. Hai người chỉ mang theo các bản sao, những thẻ ghi lời chứng và một bó dây nhỏ buộc theo các nút Mộc đã dạy.
Bốn dấu vết đến từ bốn nơi không giống nhau: kho lương, nhà giữ giống, bến nước và lò gốm. Mỗi lần Hùng đặt các bản sao cạnh nhau, vài nét lặp lại lại hiện rõ hơn. Chưa thể nói chúng thuộc cùng một hệ thống; chỉ có thể nói chúng đã bắt đầu đặt ra một câu hỏi chung.
Hùng ôm chiếc hòm gỗ thấp. Thanh giữ chồng thẻ trước ngực. Cả hai đều không nói đến ba phiến đất còn nằm trong lò nứt.
Sân điện vừa được tưới nước. Những viên đá lát còn sẫm màu, phản chiếu chân các quan đang đi vào. Áo của họ chia thành từng mảng màu theo chức phận; số lông chim trên mũ nói rõ thứ bậc hơn mọi lời giới thiệu. Người áo nâu của kho lương đứng cùng hàng với quan thủy lộ. Người áo xám của công tượng ở phía bên kia. Giữa họ là khoảng trống rộng dẫn lên chỗ Kinh ngồi.
Mỗi người giữ một phần việc riêng. Kho lương biết hạt, thủy lộ biết nước, công tượng biết đất và lửa; không ai quen nhìn xuống nơi công việc của họ đã liên hệ với nhau. Khoảng trống giữa các hàng quan vì thế rộng và sạch, nhưng những bằng chứng Hùng đang ôm cho thấy ranh giới ấy không hoàn toàn tách biệt.
Hùng dừng trước bậc điện.
“Bậu còn mùi khói.”
Thanh không nhìn chàng. “Bậu cũng còn bùn ở gấu áo.”
“Qua có nên thay không?”
“Nếu thay, những người trong điện sẽ dễ quên chúng ta vừa từ đâu tới.”
Hùng nhìn vệt bùn đã khô dưới áo rồi bước tiếp.
Trên điện, Kinh ngồi sau một chiếc án thấp bằng gỗ sẫm. Ông không đội mũ cao, chỉ cài một vòng lông chim ngắn phía sau tóc. Bên phải Kinh là Thị Kinh. Bà không ngồi ngang hàng với các quan, cũng không lùi hẳn sau rèm. Trước mặt bà có một khay thẻ riêng, nhưng chưa có viên lại nào cầm bút thay.
Hùng và Thanh chắp tay.
“Thưa Kinh.”
Kinh nhìn chiếc hòm trong tay Hùng. “Nghe nói hai người đi tìm một đường nước, rồi suýt làm sập một lò gốm.”
Thanh đáp: “Lò đã nứt trước khi tôi đến. Tôi yêu cầu kéo người ra và mở ống sau. Một phần vai lò sập sau đó.”
“Vật hai người tìm?”
“Chưa biết còn hay mất.”
Một vài tiếng xì xào dậy lên trong hàng quan công tượng. Kinh giơ tay, điện lại yên.
“Trình từ đầu.”
Hùng đặt hòm xuống. Chàng không lấy mảnh gốm ra trước. Thứ đầu tiên chàng bày lên án nhỏ giữa điện là một thẻ kho lương đã sao lại: tên đường dẫn nước, ngày sửa nền, số người làm. Bên cạnh nó, chàng đặt bản vẽ ba khe đóng mở mà lão Cẩn đã chỉ dưới nền kho.
Chàng không xếp chúng thành một hàng thẳng. Từ thẻ kho lương, chàng tỏa các dây nhỏ sang bản dập giữ giống, dấu cọc bến và tấm ván than của phường gốm. Mỗi nhánh mang tên người đã tận mắt biết việc. Cách bày ấy khiến chiếc án giống một mặt đất bị rễ non đội lên: chưa thành cây, chưa đủ bền, nhưng không còn có thể coi từng đầu rễ là vật riêng biệt.
“Thưa Kinh, thẻ này ghi đường nước đã bị khóa. Nhưng không ghi dấu nào mở khe, dấu nào hạ dòng, cũng không ghi vì sao phải làm theo thứ tự. Tên của việc còn, cách làm mất.”
Chàng đặt xuống hai thẻ ghi cùng một tên giống, rồi hai nút dây khác nhau.
“Ở nhà giữ giống, hai dòng hạt được nhập chung vì hình dạng và tên gọi giống nhau. Một dòng phải hong gió trước khi ngâm, một dòng có thể ngâm ngay. Cách đánh thức từng dòng nằm trong nút buộc. Khi người nhận bỏ dây, thẻ vẫn đủ tên nhưng hạt chết trong lần thử.”
Tiếp đó là bản dập dấu trên cọc bến, bốn hình chiếc gáo và bản sao lệnh sửa chân cầu.
“Ở bến cũ, lệnh sửa cầu đúng phép nhưng đã bịt đường nước chìm. Sổ ghi cửa nước mặt, không ghi giếng thở và lượt nước đêm. Một bên thừa nước, một bên mất ẩm. Hai phường suýt thành kẻ thù vì mỗi bên chỉ nhìn thấy phần thiệt của mình.”
Cuối cùng, Hùng đặt lên án một mảnh ván mỏng. Thanh đã chép lại những nét than từ tấm ván ở phường gốm: cửa lửa, khe tro, ống sau và các đường nối giữa người nghe lò, người chia củi, người xếp chum.
“Ở lò gốm, tri thức không nằm trong một người. Trưởng lò biết giữ mẻ, nhưng không nghe được phần dưới nền. Người nghe lò không đứng ở cửa lửa. Người cảm được hơi nóng lại không có quyền ngắt tay trưởng lò. Khi mọi lời phải đi qua một miệng, cảnh báo đến chậm hơn vết nứt.”
Kinh hỏi: “Công Tự Hùng muốn nói bốn việc ấy là một?”
Hùng dừng lại.
“Tôi muốn nói chúng có cùng một chỗ đứt.”
“Ta hỏi có phải một hay không.”
“Tôi chưa biết.”
Điện chầu im đến mức Thanh nghe được tiếng nước nhỏ từ mái hiên xuống chiếc máng đá ngoài sân.
Quan coi kho lương tên Khâm bước ra. Áo ông màu nâu sẫm, mũ có sáu lông. Ông chắp tay về phía Kinh.
“Bẩm Kinh, Tần xin hỏi Công Tự. Một đường nước bị quên vì sửa kho, một hòm giống bị ghi thiếu, một lệ bến không vào sổ, một lò gốm dùng kinh nghiệm của thợ. Những việc vụn như vậy nơi nào chẳng có. Dựa vào đâu Công Tự gọi đó là một chỗ đứt?”
Hùng đáp: “Vì ở cả bốn nơi, tri thức vẫn tồn tại nhưng bị tách khỏi cách người ta lưu giữ nó. Có tên mà mất quan hệ. Có dấu mà mất người dùng. Có luật mà mất điều kiện để luật sống.”
Khâm hỏi tiếp: “Đó là lời giải thích của Công Tự. Chứng cứ đâu cho thấy chúng từng thuộc cùng một hệ thống?”
“Chưa có.”
“Có dấu nào cùng nghĩa?”
“Có vài hình gần nhau, nhưng chưa thể xác nhận cùng nghĩa.”
“Có người nào đọc được trọn?”
“Không.”
“Có thẻ nào gọi tên hệ thống ấy?”
“Không.”
Khâm quay về phía Kinh. “Bẩm Kinh, Tần chỉ thấy bốn sai sót riêng. Nếu vì bốn việc này mà nói tri thức trong nước đã thất tán từ một gốc, e rằng lấy nghi ngờ làm bằng chứng.”
Một vị quan áo xám ở hàng công tượng bước ra ngay sau đó. Ông tên Đào, coi việc đo lường và mẫu chuẩn trong thành.
“Tần lại cho rằng có thể giải quyết mà không cần biết chúng có cùng gốc hay không. Xin Kinh ban một mẫu sổ mới. Mọi phường phải ghi đủ vật liệu, thứ tự thao tác, thời giờ và người chịu trách nhiệm. Việc nào không vào sổ thì không được dùng trong kho công.”
Thanh nhìn ông. “Nếu thợ không thể đặt điều họ biết thành lời thì sao?”
Quan Đào quay sang nàng. “Công Thị đã ghi được tiếng lò, nút dây và đường nước. Người khác cũng ghi được.”
“Tôi chỉ ghi được phần họ chỉ cho tôi. Một thanh gỗ áp xuống nền không biến người cầm nó thành người biết nghe lò.”
“Vậy càng phải buộc họ giải thích đến khi người chép hiểu.”
“Có những điều chỉ hiểu sau khi làm.”
“Nhà nước không thể cai quản bằng câu ‘phải làm mới biết’.”
Thanh không lùi. “Nhà nước cũng không thể giữ tri thức bằng cách cấm mọi thứ mình chưa ghi hết.”
Tiếng bàn luận nổi lên. Quan Đào sa mặt. Ông chắp tay với Kinh nhưng lời nhắm thẳng vào Thanh.
“Bẩm Kinh, Công Thị đang đặt lời truyền của thợ ngang với phép nước.”
“Không,” Thanh nói. “Tôi nói phép nước cần biết mình đang cắt bỏ điều gì khi ép mọi tri thức vào một kiểu sổ.”
Kinh gõ một ngón tay lên mặt án.
“Công Thị Thanh.”
Thanh quay lại, chắp tay. “Thưa Kinh.”
“Công Thị Thanh đến đây để trình việc, không phải thắng lời.”
Thanh khựng lại một nhịp. “Tôi hiểu.”
“Vậy Công Thị Thanh hãy nói điều mình biết. Đừng nói điều mình muốn người khác thua.”
Thanh cúi đầu. Khi nói tiếp, giọng nàng đã bớt sắc.
Nàng hít một hơi, rồi tháo bó dây nhỏ.
“Xin Kinh cho phép tôi hỏi quan Đào một việc.”
Kinh gật.
Thanh đưa hai sợi dây cho viên lại đứng gần nhất. “Xin buộc hai nút này theo hình trên thẻ.”
Viên lại làm rất nhanh. Hai nút trông gần giống nút Mộc đã dạy. Thanh cầm lên, kéo nhẹ. Nút thứ nhất tuột ngay. Nút thứ hai siết chết, không để lại đầu dây để tháo.
“Hình vẽ đúng nét,” nàng nói. “Nhưng tay buộc chưa biết lực. Nếu dùng nút đầu cho túi giống, nó có thể bung khi vận chuyển. Nếu dùng nút sau, người mở phải cắt dây và mất luôn dấu. Sổ có thể giữ hình, nhưng chưa giữ được bàn tay.”
Quan Đào đáp: “Vậy ghi cả độ dài đầu dây và số vòng quấn.”
“Rồi phải ghi độ ẩm của dây, loại sợi, sức kéo và lúc nào người buộc dừng tay. Ghi thêm không sai. Nhưng càng ghi, ta càng thấy một dòng chữ không thể thay hết người làm.”
Một quan già ở hàng cuối bật cười khẽ. “Nếu thế thì giữ thợ ở nguyên phường, đừng đem tri thức đi đâu cả.”
Thanh nhìn ông. “Khi người biết chết thì sao?”
“Dạy các Ấu.”
“Nếu các Ấu bị gọi đi nơi khác? Nếu phường tan vì lũ? Nếu một người giữ hết mà không chịu truyền? Nếu người có tay nghề là cô thợ trẻ không được phép ngắt lời trưởng lò?”
Quan già không cười nữa.
Hùng đặt bàn tay lên mép chiếc hòm. Cuộc tranh luận đang tách thành hai phía: một bên muốn mọi điều thành sổ, bên kia muốn mọi nghề ở nguyên nơi cũ. Nhưng những gì họ thấy trong mấy ngày qua không đứng hẳn về phía nào.
“Thưa Kinh,” chàng nói, “chỉ giữ người thì tri thức chết cùng người. Chỉ giữ chữ thì tri thức có thể mất cách dùng. Có lẽ điều cần giữ là đường nối giữa người, vật, nơi chốn và phép thử.”
Quan Khâm hỏi: “Đường nối ấy ở đâu?”
Hùng nhìn những vật trên án. “Đó là điều tôi chưa biết cách gọi.”
“Lại chưa biết.”
“Vâng.”
Quan Khâm thở ra, quay về hàng. Một vài người mỉm cười vì Hùng đã tự làm yếu lời trình của mình. Một vài người khác tránh nhìn chàng, như sợ câu chưa biết ấy sẽ buộc họ xem lại chính những chồng thẻ dưới quyền.
Kinh ngồi yên.
Sau lưng ông, những cột gỗ lớn chống mái điện vươn thẳng lên, mỗi cột cách nhau một khoảng đều. Nhìn từ trong điện, chúng đứng riêng rẽ, sạch sẽ và có trật tự. Thanh chợt thấy cách sắp đặt ấy giống những hàng quan trước mặt: mỗi phần đều rõ vị trí, nhưng không cho thấy điều gì đang nối chúng lại.
Kinh hỏi: “Nếu ta cho rằng đây chỉ là bốn việc riêng, hậu quả là gì?”
Hùng đáp: “Ta sửa từng việc. Kho mở lại đường nước. Nhà giữ giống giữ nút dây. Bến cũ ghi lệ nước đêm. Phường gốm sửa lò. Nhưng ở nơi thứ năm, một cách biết khác vẫn có thể mất vì không ai nhận ra chỗ đứt.”
“Nếu ta cho rằng tất cả cùng một gốc?”
“Ta có thể ép những điều không liên quan vào một lời giải. Khi đó, chứng cứ nào trái ý cũng bị bỏ đi.”
“Vậy tin hay không tin đều có thể làm sai.”
“Vâng.”
“Công Tự Hùng xin ta làm gì?”
Hùng nhìn Thanh. Đây là câu họ chưa bàn trên đường đến điện. Họ đã chuẩn bị những gì tìm thấy, những gì chưa biết, cả những phản bác có thể gặp. Nhưng không ai trong hai người dám xác định thay Kinh rằng nhà nước phải làm gì với một nghi vấn chưa thành hình.
“Tôi xin Kinh cho thêm thời gian kiểm chứng,” chàng nói.
Quan Khâm lập tức hỏi: “Kiểm chứng ở đâu? Bốn nơi đều đã được Công Tự nhìn thấy.”
Hùng không đáp ngay.
Thanh hiểu điều chàng vừa nhận ra. Trong thành, mọi manh mối đã đi qua kho công, nhà giữ giống, bến có quan xét và phường làm hàng cho các kho. Chúng đều nằm gần nơi thẻ được lập, luật được ban và người có quyền có thể được gọi đến trong một buổi. Nếu muốn biết chỗ đứt có lan xa hơn hay không, họ không thể tiếp tục đi vòng quanh cùng một nền thành.
Nàng nói: “Phải ra ngoài thành.”
Các hàng quan lại động.
Kinh nhìn nàng. “Đi đâu?”
“Tôi chưa biết.”
Lần này tiếng cười bật ra rõ hơn. Quan Đào không cười, nhưng ông nói: “Hai người xin rời thành để tìm một điều chưa gọi được tên, ở một nơi chưa biết là đâu. Đó không phải việc triều đình có thể giao.”
“Đúng,” Thanh đáp. “Nếu giao theo cách ấy, không ai biết chúng tôi được phép làm gì và phải trở về khi nào.”
“Vậy Công Thị vừa bác đề nghị của chính mình.”
“Tôi chỉ chưa muốn giả một câu trả lời để lời xin nghe có vẻ trọn.”
Kinh nhìn hai người rất lâu. Ánh sáng ngoài sân đã lên cao, chiếu qua cửa điện thành một dải trắng trên nền. Đường sáng dừng trước chiếc án bày những bản sao, không chạm tới chân Kinh.
“Các quan còn ai có lời?”
Người coi lễ cho rằng nếu cho phép khảo sát lệ dân ngoài thành, các nơi phụ trách có thể cho rằng triều đình đang nghi ngờ sổ sách của họ. Người coi đường nói một đoàn không có đích rõ sẽ tốn lương và người dẫn. Quan thủy lợi Phác, vừa từ bến cũ lên, chỉ tâu một câu: nếu không có một đêm hoãn án, đường nước chìm đã bị khóa theo đúng luật.
Quan Khâm nhắc lại rằng một trường hợp cứu được không chứng minh một hệ thống thất truyền. Quan Phác thừa nhận đúng.
Không lời nào bác hẳn lời nào.
Buổi chầu kéo qua lúc nắng đứng bóng. Những thẻ trên khay viên lại dày lên, nhưng điều ở giữa điện vẫn không có tên.
Kinh ra hiệu ngừng tranh luận.
“Ta nghe đủ điều các vị biết. Phần còn lại chỉ là các vị sợ điều gì sẽ xảy ra nếu phía mình sai.”
Ông nhìn Hùng.
“Công Tự Hùng sợ chúng ta sửa bốn nơi rồi bỏ mất nơi thứ năm.”
“Vâng.”
Ông nhìn Thanh.
“Công Thị Thanh sợ một mẫu sổ mới sẽ cắt tri thức khỏi người giữ nó.”
“Vâng.”
Ông nhìn quan Khâm. “Quan Khâm sợ triều đình lấy nghi ngờ làm sự thật.”
Khâm chắp tay. “Bẩm Kinh, đúng.”
Ông nhìn quan Đào. “Quan Đào sợ thứ không đo được sẽ đứng ngoài phép quản.”
Đào cúi đầu. “Tần không dám giấu.”
Kinh dựa tay lên án. “Mỗi nỗi sợ đều có lý. Nhưng ghép bốn nỗi sợ lại vẫn không thành đáp án.”
Ông quay sang viên lại. “Ghi rằng buổi chầu hôm nay chưa kết luận các dấu ấy có chung nguồn. Không được gọi chúng là một hệ thống đã mất. Cũng không được đóng hồ sơ như bốn việc đã xong.”
Viên lại chần chừ. “Bẩm Kinh, vậy xếp thẻ vào mục nào?”
Kinh nhìn ông. “Lập một mục chưa định.”
Viên lại cúi xuống, nhưng bút dừng trên thẻ. Trong kho của triều đình, mọi bó thẻ đều phải có tên để đặt lên giá. Một mục chưa định không có chỗ sẵn.
Thị Kinh, từ đầu buổi gần như không nói, đưa tay lấy bốn thẻ trắng trên khay của mình.
Bà đặt một thẻ bên bản đường nước, một thẻ bên nút dây, một thẻ bên dấu cọc và một thẻ bên đường lửa. Sau đó bà dùng sợi dây Thanh mang tới, luồn qua lỗ ở đầu cả bốn thẻ rồi buộc lại.
“Chưa biết chúng cùng một gốc,” bà nói. “Nhưng đã biết chúng đặt cạnh nhau thì sinh ra một câu hỏi mà từng thẻ riêng không có.”
Quan Khâm chắp tay. “Thưa Thị Kinh, ghép thẻ cũng có thể khiến người sau tưởng chúng đã được xác nhận liên quan.”
“Vậy ghi bên ngoài: ghép để xét, chưa ghép thành nghĩa.”
Bà kéo nhẹ sợi dây. Nút giữ nhưng không siết chết.
“Một câu hỏi cũng cần có nơi để sống trước khi có đáp án.”
Kinh nhìn bó thẻ trong tay bà. “Nàng cho rằng nên để hai người này ra ngoài thành?”
Thị Kinh không nhìn Hùng trước khi trả lời. “Tôi cho rằng nếu chỉ xét trong Phong Thành, họ sẽ tiếp tục tìm thấy những nhánh đã đi qua tay triều đình. Muốn biết phía dưới còn nối hay không, phải đến nơi triều đình chưa sửa hộ người dân mọi dấu vết.”
“Đi không đích?”
“Không. Đi với câu hỏi rõ và quyền hạn hẹp.”
Quan Đào hỏi: “Ai định câu hỏi?”
“Hai người tìm thấy chỗ đứt phải nói họ cần kiểm chứng điều gì. Các quan định giới hạn để họ không biến việc khảo sát thành quyền can thiệp. Kinh quyết định có giao hay không.”
Hùng nhìn người chị của mẹ mình. Bà vẫn không nhìn lại. Nếu bà chỉ xin Kinh cho cháu đi, cả điện sẽ có lý do coi việc này là ân riêng. Bởi vậy, từng lời của bà đều đặt Thanh ngang với Hùng và đặt cả hai dưới một giới hạn chưa được phép tự chọn.
Kinh hỏi: “Nếu họ trở về không có gì?”
Thị Kinh đáp: “Không có gì sau khi đã biết cách tìm vẫn là một kết quả. Ít nhất triều đình sẽ không phải lấy nỗi sợ làm lệnh.”
Kinh im lặng. Ngoài sân, gió lay tán những cây cổ thụ trồng dọc tường điện. Không ai nhìn thấy rễ chúng. Chỉ có những viên đá lát hơi nhô lên ở vài chỗ, đủ cho người tinh mắt biết bên dưới vẫn có thứ đang lớn và tìm đường gặp nhau.
Cuối cùng, Kinh nói: “Chưa giao việc hôm nay.”
Hùng cảm thấy các quan phía sau cùng thở ra, người nhẹ nhõm, người thất vọng.
Kinh nói tiếp: “Công Tự Hùng và Công Thị Thanh, trong ba ngày phải trình một bản định việc. Ghi rõ câu hỏi cần kiểm chứng, nơi đầu tiên dự định đến, số người, số lương, cách lấy lời chứng và những quyền hai người không được có. Nếu bản ấy chỉ viết ‘đi tìm tri thức’, ta sẽ trả lại.”
Hùng chắp tay. Chàng im một nhịp trước khi đáp: “Tôi hiểu.”
Thanh cũng chắp tay. Giọng nàng thấp hơn khi đáp: “Tôi xin nhận.”
“Quan Khâm và quan Đào sẽ cùng xét bản ấy.”
Lần này cả Hùng lẫn Thanh đều ngẩng lên. Hai người phản bác họ mạnh nhất sẽ là người đọc giới hạn chuyến đi.
Kinh thấy vẻ mặt ấy nhưng không đổi giọng.
“Người đồng ý với hai người chỉ giúp lời xin dễ nghe. Người không tin sẽ buộc nó đứng được.”
Ông đứng dậy. Buổi chầu kết thúc mà không có lời xác nhận tri thức kia thuộc về đâu, không có tên cho hệ thống đã đứt, cũng không có lệnh cho họ rời thành.
Chỉ có ba ngày.
• • •
Khi các quan đã ra gần hết, Thanh trở lại án giữa điện để thu các bản sao. Bó bốn thẻ vẫn nằm trước Thị Kinh.
“Thưa Thị Kinh,” nàng nói, “nút ấy buộc đúng.”
Thị Kinh nhìn sợi dây. “Ta đã học từ người giữ túi thuốc khi còn nhỏ. Không phải nút của nhà giữ giống, nhưng nó để tháo được mà không cần cắt.”
“Ngài muốn giữ bó thẻ lại?”
“Không. Ta muốn viên lại tìm cho nó một chỗ không làm người sau lầm rằng câu hỏi đã thành kết luận.”
Hùng bước đến. Trước mặt người khác, chàng vẫn chắp tay theo lễ.
“Thưa Thị Kinh, vì sao ngài đề nghị cho chúng tôi đi?”
Bà nhìn chàng lúc ấy.
“Ta chưa đề nghị cho hai người đi. Ta đề nghị để hai người chứng minh mình biết phải đi làm gì.”
“Nếu bản định việc không được chấp thuận?”
“Thì ở lại.”
Hùng nhìn theo những hàng quan đã khuất ngoài cửa điện, rồi mới thả lỏng vai. Chàng cười bất lực. “Ngài không thể nói một câu dễ nghe hơn sao?”
“Ở đây ta là Thị Kinh. Công Tự Hùng đừng mong ta nói với Công Tự như Diêu nói với Ấu trong nhà.”
Thanh cúi mắt để giấu một nụ cười.
Thị Kinh quay sang nàng. “Công Thị cũng đừng vui sớm. Ba ngày không dài. Quan Đào sẽ muốn mọi thứ thành thước. Quan Khâm sẽ không chấp nhận một mối liên hệ chưa có chứng. Công Thị phải nói rõ cách giữ lời dân mà vẫn cho người khác kiểm tra được.”
“Tôi sẽ làm.”
“Còn một việc.”
“Xin ngài dạy.”
“Hôm nay Công Thị suýt biến việc trình bày thành cuộc đấu với quan Đào. Ra ngoài thành, người không tin Công Thị sẽ nhiều hơn. Nếu mỗi lần bị nghi ngờ đều phải thắng một người, Công Thị sẽ không còn tai để nghe những người khác.”
Thanh nhớ lời Kinh đã chặn nàng giữa điện.
“Tôi hiểu.”
“Hiểu trong điện dễ hơn làm ngoài đường.”
Thị Kinh giao bó thẻ cho viên lại rồi rời đi.
Hùng và Thanh mang chiếc hòm xuống bậc điện. Nắng ngoài sân làm cả hai nheo mắt. Những gì họ trình lên không được gọi là đúng, cũng không bị phán là sai. Không ai ban cho họ câu trả lời về các dấu, về nguồn gốc hay về nơi phải tìm.
Nhưng lần đầu tiên, sự thiếu vắng câu trả lời không còn là một khoảng trống để người ta lấp bằng điều tiện nhất.
Nó đã trở thành một việc phải làm.
Thanh hỏi: “Ba ngày. Bậu định bắt đầu từ đâu?”
“Từ câu quan Đào sẽ bác trước.”
“Còn Qua bắt đầu từ điều chúng ta không được phép làm.”
Hùng nhìn nàng. “Bậu đã nghĩ đến điều kiện rồi?”
“Nếu không khóa quyền hạn trước, chuyến đi sẽ biến chúng ta thành người đến đâu cũng đòi mở kho, gọi dân và lấy vật.”
“Qua cần xem sổ nghề.”
“Đúng. Nhưng xem không có nghĩa được mang đi.”
Hai người vừa bước qua sân vừa tranh luận. Sau lưng họ, viên lại vẫn loay hoay tìm chỗ cho bó thẻ chưa định. Cuối cùng ông không đặt nó lên một giá riêng. Ông buộc nó dưới thanh ngang nối hai giá thẻ khác nhau, nơi không thuộc hẳn kho lương, thủy lộ, giữ giống hay công tượng.
Bó thẻ khuất dưới bóng gỗ.
Sợi dây mảnh giữ bốn đầu thẻ ở gần nhau, như những rễ non vừa chạm được trong đất tối. Chưa ai biết chúng sẽ liền thành một mạng sống hay chỉ tình cờ vướng nhau dưới nền.
Muốn biết, họ không thể chỉ xem những dấu đã đi qua tay triều đình. Họ phải ra ngoài thành, tới nơi tri thức còn được nuôi bằng nghề, mùa và ký ức của người dân.
Nhưng từ hôm ấy, mỗi khi một viên lại cúi xuống lấy thẻ ở hai giá bên cạnh, người ấy đều phải nhìn thấy câu hỏi đang treo ở giữa.