Chương 5: Ngọn lửa trong lò gốm

Người chạy tin tên Rạ dẫn Thanh men theo chân thành về phía nam. Trời mới sáng nhưng con đường đã phủ một lớp tro mỏng. Mỗi bước chân giẫm xuống đều để lại dấu xám trên đất ướt. Càng gần phường gốm, mùi bùn sông càng nhường chỗ cho mùi rơm cháy, gỗ tươi và đất nung. Khói không bay thành cột. Nó bò thấp qua mái nhà, quẩn trong những giàn phơi bát rồi tràn ra đường như sương bẩn. Thanh hỏi: “Lò nứt từ lúc nào?” “Cuối canh đêm.” “Vì sao đến giờ mới báo?” Rạ bước nhanh hơn, không quay lại. “Lúc đầu chỉ nghe một tiếng nhỏ. Trưởng lò bảo trét lại được. Đến khi vết nứt ăn qua vai lò, ông mới cho người đi gọi thợ đắp. Mộc Nương nghe chuyện, biết Công Thị đang ở bến nên bảo tôi chạy tìm.” “Trong lò có gì?” “Một mẻ chum đựng giống, hai mẻ vò của kho muối, với mười hai vật thử đất.” “Có người ở trong không?” Rạ khựng chân một nhịp. “Không ai ở trong bụng lò. Nhưng cửa lửa phải có người giữ.” Câu trả lời không làm Thanh nhẹ đi. Nàng nhìn hai cánh tay Rạ. Lông tay cậu đã sém quăn, mu bàn tay có một vệt phồng mới nổi. Phường gốm hiện ra sau một hàng cây dầu. Những mái lò lớn nhô lên khỏi dãy nhà thấp, tròn và sẫm như các gò đất. Lò đang gặp nạn nằm cuối bãi, nửa chìm trong sườn gò. Quanh nó, hơn ba mươi người chạy qua chạy lại, người gánh đất nhão, người chuyền củi, người kéo những vò nước từ giếng. Không ai đổ nước vào lò. Nước chỉ dùng để nhào đất bịt vết nứt. Vết nứt bắt đầu từ gần cửa lửa, chạy xiên lên vai lò rồi mất hút dưới lớp khói. Đất trét mới trên miệng nứt đã khô trắng, co lại và rơi từng mảng. Mỗi lần bên trong dội ra một tiếng ù, đường nứt lại nhả một sợi lửa mảnh. Một người đàn ông ngực trần đứng sát cửa lò. Tóc ông cháy cụt ở một bên, da vai đỏ rực. Ông không nhìn Thanh khi nàng đến. “Rạ, thêm củi vào cửa đông.” Cậu trai vừa định chạy thì Thanh giữ lại. “Cậu ấy vừa từ bến về.” Người đàn ông quay sang. Mắt ông đỏ vì khói, nhưng giọng vẫn chắc. Lưu quay sang. Khói làm hai mắt ông đỏ quạch, nhưng giọng vẫn cứng như đất đã qua lửa. “Công Thị được mời đến xem dấu trên vật thử. Còn lò sống hay chết, xin để người của lò lo.” “Ông là trưởng lò?” “Tôi là Lưu.” “Vết nứt đã qua vai. Vì sao còn cho thêm củi?” Lưu nhìn nàng như nhìn một người vừa hỏi tại sao nước phải chảy xuống thấp. “Lửa tụt thì cả mẻ chết.” “Nếu lò sập?” “Chum chết trước.” Thanh nghe rõ tiếng những người quanh đó im đi. Họ không ngừng tay, nhưng ai cũng đang đợi xem nàng sẽ dùng địa vị ép trưởng lò hay lùi ra ngoài. Nàng buông tay Rạ. “Tôi không biết giữ lò. Tôi cần biết ai đang nghe được nó.” Lưu chỉ một bà lão ngồi dưới mái che cách lò hơn mười bước. Bà có đôi mắt phủ một lớp đục mỏng, trước mặt đặt sáu thanh gỗ dài ngắn khác nhau. Một đầu mỗi thanh tì xuống đất, đầu kia ghé gần tai bà. “Mụ Sên nghe lò,” ông nói. “Công Thị muốn hỏi gì thì hỏi nhanh. Đến giữa buổi phải mở lỗ xem lửa.” Thanh đến bên bà lão. Mụ Sên không ngẩng đầu. “Đừng đứng chắn gió.” Thanh bước sang một bên. “Mụ đang nghe gì?” “Nghe một lò bị người ta cho ăn quá no.” Lưu ở phía xa quát: “Cửa đông đang thiếu!” Mụ Sên nhếch miệng, để lộ hàm răng ám khói. “Miệng thiếu, bụng thừa. Nó đang tức đấy.” Lưu quát từ xa: “Lò đất thì biết tức với ai?” “Với kẻ cứ nhét củi vào bụng nó mà không chịu nghe nó thở.” Bà đáp, mắt vẫn không rời mặt đất. Bà đưa cho Thanh thanh gỗ ngắn nhất. “Đặt xuống đây.” Thanh tì đầu thanh gỗ vào một phiến đá chôn nửa dưới đất. Nàng ghé tai vào đầu còn lại. Thoạt đầu chỉ có tiếng người, tiếng gánh đất và tiếng củi va nhau. Rồi dưới tất cả những âm ấy hiện ra một nhịp trầm, đều như ai đập tay lên một chiếc chum lớn. Cứ sau bốn nhịp lại có một tiếng rít mảnh kéo dài. “Tiếng rít là hơi qua vết nứt?” nàng hỏi. “Một phần.” “Phần còn lại?” “Lửa đang trèo.” Thanh bỏ thanh gỗ xuống. “Lửa chỉ có thể bốc lên.” “Một ngọn thì bốc. Nhiều ngọn phải giành đường.” Mụ Sên dùng đầu ngón tay gõ lên mặt đất. Bà nói lò có bảy đường lửa chạy từ ba cửa thấp, ôm quanh những chồng chum rồi gặp nhau dưới vòm. Nếu củi được thêm đều, lửa chia nhau len qua các khoảng trống. Nếu một cửa bị thúc quá mạnh, luồng nóng chiếm đường rộng, dồn các luồng còn lại sang vai lò. Chỗ đang nứt chính là nơi hai đường lửa ép nhau tìm lối thoát. “Lưu có biết không?” “Nó biết cách đã cứu ba mẻ trước. Ba mẻ trước không xếp chum như mẻ này.” Thanh nhìn qua lỗ quan sát nhỏ ở thân lò. Bên trong chỉ là một màu đỏ khiến mắt đau nhói. Nàng không thấy chum nào, càng không thấy được những đường lửa vô hình mụ Sên vừa tả. “Mụ biết cách xếp trong ấy?” “Ta sờ từng đáy chum trước khi người ta bít cửa.” “Có bản xếp lò không?” Mụ Sên cười khàn. “Có. Nằm trong chân, vai, tai và những vết bỏng của người làm.” Thanh mở túi thẻ mang theo, rồi dừng lại. Nàng có thể ghi bảy đường lửa, ba cửa thấp, bốn nhịp một tiếng rít. Nhưng những con số ấy chưa cho nàng nghe được một cái lò. Nàng hỏi: “Mụ dạy một người mới bằng cách nào?” “Cho nó gánh củi.” “Sau đó?” “Cho nó chẻ củi.” “Rồi?” “Cho nó đứng ngoài một mẻ, ngồi cạnh một mẻ, cháy lông mày ở mẻ thứ ba. Nếu sau ba mẻ vẫn chỉ hỏi ‘rồi sao’, ta đuổi.” Thanh cất thẻ đi. • • • Giữa buổi, vết nứt dài thêm một gang tay. Đất mới trét không còn bám. Lưu cho dựng một giàn chống bằng những thân cây dầu còn tươi, đầu chèn vào vai lò. Nhựa cây gặp nóng sôi lên, chảy thành những giọt trong rồi hóa đen. Người phường gốm khiêng thêm các thân khác đến, chen kín quanh lò như một rừng cây bị đốn mà vẫn cố đứng. Thanh đi cùng một cô thợ trẻ tên Dọi qua từng cửa lửa. Dọi không biết giải thích màu nóng bằng lời. Cô nhặt ba mảnh gốm, đặt cách cửa những khoảng khác nhau rồi bảo Thanh nhìn. Mảnh gần nhất đỏ lên trước nhưng màu đỏ chạy loang. Mảnh ở giữa nóng chậm, đều từ cạnh vào tâm. Mảnh xa nhất chỉ sẫm lại ở một đầu. “Mẻ tốt giống mảnh nào?” Thanh hỏi. Dọi chỉ mảnh ở giữa. “Vì sao?” Cô gái suy nghĩ, lắc đầu, rồi kéo bàn tay Thanh đến gần cửa lửa. Hơi nóng ép lên lòng bàn tay thành từng đợt. Dọi di chuyển tay nàng từ trái sang phải. Ở giữa cửa, sức nóng mạnh nhưng phẳng. Sát cạnh phải, nó giật từng cơn như hơi thở gấp. “Chỗ này đang ăn củi,” Dọi nói. Đó là câu dài nhất cô nói từ lúc Thanh đến. Thanh nhìn chồng nhiên liệu. Củi ở cửa phải là những cành nhỏ, khô và thẳng; củi ở cửa giữa to hơn, còn vỏ; cửa trái dùng gỗ cong lẫn rễ cây. Lưu đã sai người gom mọi thứ cháy được vì muốn giữ mẻ. Nhưng mỗi thứ cho lửa một nhịp khác nhau. “Ai chia củi?” “Trước đây mụ Sên. Hai mùa nay là bác Lưu.” “Ông ấy chia sai?” Dọi lập tức lùi nửa bước. “Tôi không nói.” “Nhưng cô biết.” Cô gái nhìn về phía trưởng lò. “Biết không có nghĩa được quyền ngắt tay người giữ lửa.” Thanh hiểu một cái lò không chỉ có những đường nóng tranh nhau. Quanh nó cũng có những tiếng nói đang tranh chỗ để được nghe. Lưu đứng ở cửa chính nên mọi mệnh lệnh đều đi qua ông. Mụ Sên nghe được phần dưới đất nhưng không còn giữ quyền chia củi. Dọi cảm lửa bằng bàn tay mà chỉ được chuyền đất. Rạ chạy nhanh nhất nên bị sai đến bất cứ chỗ nào đang thiếu người, không ở đâu đủ lâu để học trọn một việc. Một tiếng nổ khô vang lên trong lò. Mọi người cùng quay lại. Từ lỗ quan sát, một vệt sáng trắng lóe lên rồi tắt. Sau đó là tiếng vật gì đổ liên tiếp, không lớn nhưng kéo dài. Lưu nhắm mắt một thoáng. “Một chồng vò đã nghiêng.” Mụ Sên chống tay đứng dậy. “Không phải vò. Tầng kê phía đông gãy.” “Mụ ngồi ngoài thì thấy gì?” “Ta nghe vật nhỏ rơi trước, vật lớn chạm sau. Vò nghiêng thì miệng chạm nhau trước.” Lưu không đáp. Ông ghé lỗ nhìn, rồi bảo Rạ chuẩn bị mở cửa thử. Mụ Sên quát: “Mở lúc này, gió lùa vào chỗ gãy. Lửa sẽ xuyên thẳng lên vai!” “Không mở thì không biết vật thử còn nguyên không.” Thanh hỏi: “Vật thử ấy là gì?” Lưu nhìn nàng. Lần đầu tiên vẻ cứng rắn trên mặt ông lay động. “Mười hai phiến đất lấy từ nền một nhà cũ bên bãi nam. Khi nung đúng nhiệt, dấu chìm mới hiện. Chín phiến đã vỡ trong các lần thử trước. Mẻ này còn ba.” “Dấu giống mảnh ở chân cầu?” “Cùng ba lớp màu. Người của nhà giữ giống nói có thể liên quan vật Công Thị đang tìm.” Đó là lý do họ không chịu dừng. Không chỉ vì chum, vò hay công sức cả phường. Trong bụng lò đang có ba vật mà Thanh đã đi từ nhà giữ giống đến bến cũ để lần theo. Nếu chúng sống qua mẻ nung, nàng có thể nhìn thấy một cách tạo dấu mà những người chép thẻ không biết. Nếu tắt lò lúc này, đất đang nung dở sẽ co không đều; dấu chưa hiện, phiến thử có thể nứt thành bùn vụn. Nàng đến sát cửa quan sát. Qua khe hẹp, giữa những thân chum đỏ rực, nàng thấy trên một bệ thấp có ba vật mỏng dựng nghiêng. Một phiến đã cong. Hai phiến còn lại tối hơn phần xung quanh, như đang giữ trong mình một màu chưa chịu lộ. Lưu nói: “Chỉ cần giữ thêm đến khi nắng đứng bóng.” Mụ Sên đáp: “Vai lò không giữ được.” “Nếu hạ lửa, mọi thứ chết ngay.” “Giữ lửa, có người chết cùng.” Những người đang chuyền đất chậm tay. Không ai bỏ vị trí. Họ đã làm quanh chiếc lò này từ nhỏ, đã sống nhờ những mẻ nung thành công và trả nợ bằng những mùa lửa hỏng. Với họ, bỏ một mẻ không đơn giản là để mất đồ. Đó có thể là kho giống thiếu chum trước mùa mưa, kho muối thiếu vò, cả phường phải gánh phần đất và củi đã vay. Thanh hỏi Lưu: “Nếu giữ thêm, ông cần ai ở lại?” “Tôi, Rạ, Dọi và bốn người cửa lửa.” “Nếu vai lò sập?” “Chúng tôi chạy.” Mụ Sên nhổ xuống đất. “Lửa chạy nhanh hơn chân.” Lưu quay sang Thanh. Lần đầu tiên vẻ cứng rắn trên mặt ông rạn ra, để lộ nỗi sợ của một người đã đặt cả mùa làm ăn vào trong bụng lò. “Công Thị đến tìm tri thức. Ba phiến kia có thể là thứ Công Thị cần.” Ông nuốt khan. “Xin đừng vì một vết nứt mà bắt cả phường tự tay chôn công sức của mình.” Thanh cảm thấy mảnh gốm bọc trong vải đang cấn vào hông. Khi ở nhà giữ giống, nàng đã trách người lập sổ vì bỏ đi những nút dây. Ở bến cũ, nàng đã xin giữ lại lời của người canh gáo. Nếu bây giờ ra lệnh tắt lò, chính nàng có thể là người làm mất một dấu vết không bao giờ tạo lại được. Nhưng trước mặt nàng là Rạ với cánh tay phồng rộp, Dọi với đôi bàn tay biết điều miệng không được phép nói, và những người đang chống cả thân mình vào các cây dầu tươi. Nàng hỏi mụ Sên: “Có cách nào cứu người mà không dập cả lò không?” Bà lão nghiêng đầu nghe. Nhịp trầm dưới đất đã nhanh hơn. Tiếng rít không còn đến sau bốn nhịp; nó chen vào giữa nhịp thứ ba. “Mở đường cho lửa thoát lên ống sau,” bà nói. “Bỏ cửa đông, kéo hết người khỏi vai lò. Lửa sẽ yếu ở chỗ đặt vật thử. Có thể mất chúng. Nhưng lò chưa chắc sập.” Lưu lắc đầu. “Ống sau bị bịt từ ba mùa trước. Mở phải phá lớp vòm phụ.” “Vậy phá.” “Mẻ này sẽ không đủ nhiệt.” Thanh nhìn ông. “Ông vừa nói nếu hạ lửa, mọi thứ chết. Mụ Sên nói mở ống sau có thể giữ được lò và cứu phần chum ở dưới. Hai điều không giống nhau.” Lưu siết hàm. “Công Thị muốn tôi tự bỏ ba phiến?” Thanh nghe tiếng rít trong lò lùa qua từng kẽ răng. “Tôi muốn ông kéo người ra.” “Người kéo ra rồi còn sống.” Lưu nhìn những dãy chum sau lưng. “Nhưng nợ đất, nợ củi, nợ gạo cũng sống theo. Công Thị có mang chúng về thành giúp chúng tôi không?” Thanh siết tấm thẻ trong tay. Nàng đã tưởng mình chỉ phải chọn giữa vật và người. Đến lúc ấy, nàng mới hiểu người thợ không được phép lựa chọn gọn gàng như thế. “Công Thị không có quyền giữ lò.” “Đúng. Tôi cũng không có quyền coi mạng người trong phường là giá phải trả cho thứ tôi đang tìm.” Nàng quay sang Rạ và Dọi. “Hai người rời cửa lửa. Báo mọi người tránh khỏi vai lò. Ai biết vị trí ống sau?” Dọi giơ tay. Lưu chặn trước mặt cô. “Ta chưa cho phép.” Dọi đứng yên. Khói làm nước mắt chảy trên má cô, nhưng lần này cô không lùi. “Bác Lưu,” cô nói, “từ lúc tiếng rít đổi nhịp, cửa đông không còn ăn củi. Nó đang phun ngược. Bác đứng cửa chính nên không thấy.” Rạ nói tiếp: “Lúc tôi chui xuống lấy tro, đất dưới ống sau còn nóng. Chưa bịt chết hẳn.” Một người thợ lớn tuổi ở hàng chuyền đất lên tiếng: “Tôi có búa đá.” Rồi một người khác bảo biết lớp vòm phụ mỏng ở đâu. Những lời ấy bật ra từ nhiều phía, như các cành từng bị che dưới một tán lớn nay tìm được khoảng sáng. Lưu nhìn quanh. Mệnh lệnh không còn chỉ đi từ miệng ông xuống những bàn tay khác. Ông quay mặt về lò, nghe một tiếng rạn dài chạy qua vòm. “Kéo người,” ông nói. • • • Họ mở ống sau bằng sáu nhát búa. Nhát thứ nhất làm đất tróc. Nhát thứ hai lộ lớp gạch cũ. Nhát thứ ba khiến lò rung, tất cả cùng lùi. Đến nhát thứ sáu, một luồng lửa phụt khỏi lỗ vừa phá, dài quá đầu người. Nó cuốn tro, mảnh đất và lá khô lên trời. Mấy cây dầu gần đó cháy xém một phía, chim trong tán đồng loạt bay khỏi bãi. Áp lực ở vai lò giảm xuống gần như ngay lập tức. Tiếng rít tắt, nhưng những thanh chống vẫn kêu cót két. Lưu ra hiệu đóng cửa đông. Dọi và Rạ dùng đất ướt lấp khe, rồi chạy khỏi vùng nóng. Một đoạn vai lò sụp xuống sau họ. Đất nung vỡ tung, lộ một khoang đỏ quạch. Hai cây chống gãy, đầu cháy sáng như đuốc. Không ai đứng dưới đó. Lửa thoát qua ống sau suốt một lúc rồi ngắn dần. Mẻ nung không tắt hẳn, nhưng sức nóng đã rời khỏi tầng đặt vật thử. Qua lỗ quan sát, Thanh thấy bệ thấp nghiêng xuống. Một phiến đất rơi vào than. Hai phiến còn lại bị mảnh vòm phủ kín. Lưu ngồi xuống đất. Không ai nói với ông rằng lựa chọn vừa rồi là đúng. Những chum ở tầng dưới có thể còn dùng được, nhưng mẻ vò kho muối đã hỏng quá nửa. Ba phiến thử gần như mất chắc. Cái giá hiện ra trước mắt, còn những mạng người được giữ lại vẫn đang đứng đó nên dễ bị coi như chưa từng gặp nguy. Thanh đến bên ông. “Tôi sẽ ghi rõ quyết định mở ống sau là của tôi.” Lưu cười, nhưng tiếng cười vỡ ra giữa chừng vì khói. “Ghi thế thì kho có trả lại củi cho chúng tôi không?” “Không.” “Có xóa được nợ chum?” “Không.” “Vậy đừng dùng một hàng chữ để nhận hết phần của người đã đập vòm.” Thanh im lặng. Lưu chống hai tay lên gối. “Công Thị chọn cứu người. Tôi không trách. Nhưng người sống rồi vẫn phải ăn, phải trả đất, trả củi. Nếu muốn ghi, hãy ghi cả điều ấy.” “Tôi sẽ ghi.” “Và ghi rằng tôi đã nghe mụ Sên mà không chịu tin.” Mụ Sên đứng sau lưng họ, đưa thanh gỗ ngắn cho Lưu. “Chưa cần ghi.” Bà hất cằm về phía nền lò. “Mẻ sau mày tự nghe.” Lưu nhận lấy. Bàn tay ông đen tro, bàn tay bà đầy những đốt cong. Không ai xin lỗi, nhưng lần đầu tiên ông đặt đầu thanh gỗ xuống đúng chỗ bà vẫn ngồi. Lưu quay lại. Bà lão đưa cho ông thanh gỗ ngắn nhất. Ông nhận. • • • Đến chiều, thân lò đủ nguội để người ta lại gần nhưng chưa thể mở. Phường gốm không giải tán. Họ dựng mái che mới, phân người canh lửa tàn và kiểm số chum có thể cứu. Dọi vẽ sơ đồ xếp mẻ bằng than lên một tấm ván. Rạ đặt cạnh mỗi cửa một bó củi mẫu: cành nhỏ, thân vừa, rễ cong, gỗ còn vỏ. Mụ Sên không cho họ ghi “củi” chung một tên. Thanh ngồi giữa họ, lần này mới mở túi thẻ. Nàng không bắt đầu bằng ba phiến đất đã mất. Nàng ghi tên từng người đã nghe thấy một phần của cái lò. Mụ Sên nghe nhịp dưới nền. Dọi cảm luồng nóng ở mép cửa. Rạ biết các khe tro và đường ống thấp. Người chẻ củi biết loại nào cháy bùng, loại nào giữ than. Người xếp chum biết khoảng trống nào phải để lại cho lửa đi. Lưu biết lúc nào cả phường có thể chịu mất một mẻ và lúc nào không. Không ai trong số họ biết trọn chiếc lò. Điều giữ được lò không nằm trong một người, càng không nằm trong một hàng chữ. Nó tồn tại như một rừng lớn: thân nào cũng tìm ánh sáng, nhưng rễ dưới đất phải chạm được nhau thì cả bãi mới đứng qua gió. Thanh không ghi câu ví von ấy. Nàng chỉ vẽ các đường nối giữa từng việc, rồi hỏi mọi người xem chỗ nào còn thiếu. Lưu nhìn bản vẽ rất lâu. “Trước đây, tên trưởng lò đặt ở giữa,” ông nói. “Nếu đặt ông ở giữa, mọi đường đều phải qua ông.” “Không phải sao?” Dọi lấy một mẩu than, vẽ thêm đường từ cửa đông đến chỗ mụ Sên ngồi. “Tiếng ở đây đến tai mụ trước khi bác nghe.” Rạ vẽ đường từ khe tro sang người chẻ củi. Người lớn tuổi có búa đá vẽ thêm vị trí vòm phụ. Bản vẽ dần không còn một trung tâm. Nó giống những nhánh cây chạm nhau trên cao, mỗi nhánh mở về một khoảng khác. Khi Hùng từ bến cũ đến, nắng đã lệch khỏi bãi. Chàng dừng trước phần vai lò sập, nhìn các thân cây chống cháy dở rồi nhìn Thanh. Tro bám từ tóc xuống tận gấu áo nàng. “Công Thị có bị thương không?” “Không.” “Vật thử?” “Có lẽ mất.” Hùng không hỏi tại sao nàng không cứu nó. Chàng ngồi xuống cạnh tấm ván đầy nét than. “Đây là đường lửa?” “Một phần. Còn là đường một lời cảnh báo phải đi qua trước khi có người chịu nghe.” Hùng nhìn Lưu đang ghé tai vào thanh gỗ của mụ Sên. “Công Thị tìm được cách đọc dấu nhiệt chưa?” “Chưa đọc được dấu trên phiến đất.” Thanh chỉ những người quanh lò. “Nhưng ta đã biết vì sao không thể chỉ mang một mảnh nung về rồi đoán. Dấu nhiệt không do lửa một mình tạo ra. Nó do cách xếp, loại củi, đường gió và những bàn tay biết lúc nào phải ngừng.” Hùng nhặt mảnh gốm lấy từ chân cầu ra khỏi lớp vải. Dọi gõ vào hai đầu, rồi đưa cho mụ Sên. Bà lão áp nó lên mặt ván, gõ lại ba lần. “Mặt đỏ gặp lửa thẳng,” bà nói. “Lớp đen bị ngạt giữa chừng. Mặt xám nằm sau một vật khác.” Thanh hỏi: “Có thể làm lại không?” “Có thể thử. Không chắc giống.” “Cần ba phiến cũ không?” “Có thì tốt. Không có thì đất vẫn còn, người vẫn còn, lò vẫn còn một nửa.” Lưu nghe vậy, khép mắt. Lần đầu từ lúc vai lò sập, ông thở ra mà không giống người vừa mất tất cả. Đêm xuống, lửa trong lò chỉ còn ánh đỏ âm ỉ. Ba phiến đất chưa được lấy ra. Không ai biết chúng còn nguyên hay đã vỡ. Thanh để khoảng trống ấy trên thẻ, không viết “mất”, cũng không viết “còn”. Trước khi rời phường gốm, nàng nghe Dọi dạy Rạ phân biệt hai nhịp nóng bằng cách đưa bàn tay qua mép cửa đã nguội. Lưu ngồi bên mụ Sên, thanh gỗ áp vào tai. Những người khác tiếp tục thêm nét lên tấm ván, không ai xóa phần của ai. Trên đường về, Hùng hỏi: “Nếu ba phiến còn nguyên, Công Thị sẽ mang chúng đi chứ?” “Không.” “Vì sao?” “Ta sẽ để chúng được mở ngay tại lò, trước những người biết chúng đã đi qua thứ lửa nào.” Hùng gật đầu. Hai người đi một quãng trong im lặng. Sau lưng họ, lò nứt thỉnh thoảng lại phát ra một tiếng co nhỏ. Trước đây, Thanh có thể đã tưởng đó chỉ là tiếng đất nguội. Bây giờ nàng biết mỗi âm đều có thể là một lời, nhưng không phải lời nào cũng dành cho một người nghe riêng lẻ. Muốn giữ được điều một cái lò biết, trước hết phải giữ cho những người quanh nó còn nghe được nhau.
Chương trước Đã hết chương
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ