Mưa đến trước giờ mở cửa thành.
Không phải trận mưa lớn. Nó chỉ rơi dày, xiên và lạnh, đủ để biến nền đất đã bị giẫm cứng thành một lớp bùn trơn trên mặt. Nước theo rãnh đá chảy qua sân, luồn dưới các bánh xe, nhỏ đều từ đầu những cây giáo dựng bên cổng.
Hùng đứng dưới mái hiên, nhìn đoàn xe đã xếp hàng từ lúc trời còn tối.
Chàng đã xin một hòm thẻ. Quan Đào cho một hòm. Thanh đã cắt số mực còn hai túi nhỏ. Vịnh bỏ lại một cuộn dây mà nàng cho là đã mục. Sau tất cả những lần bớt ấy, đồ mang theo vẫn chất đầy hai xe bò và một chiếc thuyền bụng rộng đang đợi ở dòng nước ngoài thành.
Trước đoàn có hai người cầm cờ lệnh. Sau họ là bốn lính, dù quan Khâm chỉ giao hai người đi hết chặng. Hai người còn lại sẽ hộ tống tới bến đầu. Một chiếc trống nhỏ được buộc trên xe trước, phủ da tránh mưa. Người coi lễ nói khi cửa mở sẽ đánh ba tiếng để dân tránh đường.
Vịnh đứng ngoài mưa, nhìn tất cả bằng vẻ mặt của người thấy ai đó đem giường ngủ lên thuyền đánh cá.
“Công Tự bảo chúng ta đi khảo xét hay đi rước dâu?”
Hùng không quay lại. “Nghi trượng do người coi lễ sắp.”
“Cờ có chống được thuyền mắc cạn không?”
“Không.”
“Trống có kéo xe khỏi bùn không?”
“Có thể gọi người tới kéo.”
Vịnh hừ một tiếng. “Gọi bằng miệng nhẹ hơn.”
Thanh từ dãy nhà bên kia sân đi tới. Nàng mặc áo đi đường màu nâu sẫm, vạt gọn trên mắt cá, ngoài khoác một tấm lá đan chống mưa. Phụ thân nàng đi bên cạnh, tự tay ôm ống thẻ nhỏ bọc da.
Ông không nói nhiều. Đến trước Hùng, ông trao ống thẻ cho Thanh chứ không giao qua chàng.
“Bên trong có bản lời thề, danh sách người đã cho lời và mười thẻ trắng đã sấy dầu. Không để chung với mực.”
Thanh nhận bằng hai tay. “Ấu nhớ.”
Ông nhìn dây đeo trên vai nàng, kéo nút lên cao thêm một chút để ống thẻ không đập vào hông khi đi. Động tác quen thuộc như những năm nàng còn nhỏ mang bảng học ra sân.
“Đường xa không giống phòng chép,” ông nói.
“Quân đã dặn.”
“Ta biết. Người sắp đi thường nghe mọi lời dặn thành tiếng gió.”
Thanh muốn nói mình sẽ cẩn thận, nhưng lời ấy nhỏ quá so với quãng đường chưa biết. Nàng chỉ đáp: “Ấu sẽ gửi bản lược ở trạm đầu tiên có thể tới sau mỗi khoảng mười ngày.”
“Gửi cả điều chưa tìm thấy.”
“Vâng.”
Ông gật đầu. Khi quay sang Hùng, vẻ mặt đã trở lại điềm tĩnh của người giữ chức phận.
“Công Tự.”
“Thưa Thiết.”
“Ta không nhờ Công Tự giữ ấu của ta khỏi mọi nguy hiểm. Lời nhờ ấy không ai làm được.”
Hùng chờ.
“Ta chỉ nhờ khi ấu nói có điều chưa đủ chứng, Công Tự đừng dùng sự gấp gáp biến nó thành đã đủ. Và khi Công Tự nói phải đi, hãy cho ấu biết cái giá trước lúc bước.”
“Tôi xin nhớ.”
“Đừng xin. Cứ làm.”
Mưa chảy từ mép mái thành một tấm rèm mỏng. Phụ thân Thanh nhìn con gái thêm một lần, như muốn khắc vào trí nhớ dáng nàng đang đứng nguyên vẹn dưới mái hiên. Rồi ông quay đi trước khi sự chần chừ của một người cha có thể thành sợi dây níu chân người con.
Thanh nhìn theo đến khi ông khuất sau dãy cột.
Hùng nói khẽ: “Bậu có thể đi tiễn thêm một đoạn.”
“Không. Nếu đi, Quân sẽ lại tìm một nút dây cần sửa.”
Nàng cúi kiểm tra ống thẻ. Nút buộc ông vừa chỉnh chắc đến mức không thể xê dịch.
“Và qua sẽ để Quân sửa.”
Hùng không nói thêm.
Ở phía cổng, người coi lễ hô mở đường. Chiếc trống được dỡ lớp da phủ. Người cầm dùi mới giơ tay thì từ ngoài thành vang lên một tiếng gỗ gãy rất lớn.
Sau đó là tiếng người la.
Vịnh chạy trước tất cả.
• • •
Chiếc cầu qua con lạch nhỏ ngoài hào thành đã gãy một nhịp giữa.
Hai cây dầm lâu năm không chịu nổi nước dồn cùng sức nặng của một xe chở chum. Bánh trước xe sụp xuống khoảng trống, thùng xe nghiêng gần nửa. Ba chiếc chum lăn khỏi ổ rơm, một chiếc rơi xuống lạch vỡ tan, hai chiếc mắc lại ở mép cầu. Con bò kéo xe trượt chân, dây ách siết vào cổ, mắt trợn trắng vì hoảng.
Người đánh xe bám dây cương, vừa kéo vừa gào. Mấy người bên bờ muốn xông lên nhưng sợ nhịp cầu còn lại gãy tiếp.
Vịnh quăng tấm áo mưa, trườn sát mặt cầu.
“Đừng kéo đầu nó! Cắt dây bên trái!”
Người đánh xe không nghe rõ trong mưa. Hùng lao tới mép cầu.
“Lính đâu, giữ dầm!”
Hai lính đặt giáo xuống, nằm ép người lên phần ván còn chắc. Vịnh bò tới chỗ con bò, một tay nắm ách, tay kia rút dao cắt dây. Con vật giãy dữ, móng sau đập vào gỗ.
Thanh thấy chiếc xe trượt thêm một gang. Nàng quay lại đoàn.
“Tháo dây ở xe chúng ta! Nối thành vòng!”
Người coi lương vội mở nút. Một lính định đem dây tới Hùng, nhưng Thanh chặn lại.
“Buộc vào trục sau xe. Kéo xe, không kéo người.”
“Công Thị biết xe sẽ chịu không?”
“Không. Hỏi người đánh xe.”
Người đàn ông trên cầu nghe gọi, nhìn qua rồi hét: “Trục gỗ lim! Chịu được!”
Thanh bảo mọi người móc dây. Người đi chợ quanh đó cùng nhập vào. Mười người kéo, chân trượt trên bùn. Chiếc xe nhích lùi. Vịnh cắt đứt dây ách bên trái, con bò đổ nghiêng nhưng không bị kéo xuống lạch.
Hùng bò ra thêm một đoạn. Ván dưới đầu gối kêu răng rắc.
Vịnh quát: “Công Tự đứng lại!”
“Con vật mắc chân!”
“Tôi thấy.”
“Tôi tới được.”
“Ván trước mặt Công Tự rỗng ruột.”
Hùng dừng. Cách mũi tay chàng không xa, nước mưa đọng trên một vết nứt đen chạy dọc thớ gỗ. Chàng không nhìn thấy phần mục bên trong, nhưng Vịnh nhìn cách tấm ván võng dưới sức nặng.
“Cần gì?” chàng hỏi.
“Đẩy cho tôi cây sào.”
Hùng không tranh. Chàng lấy cây sào một người dưới bờ đưa tới, đẩy dọc mặt cầu. Vịnh luồn sào dưới dây ách, dùng nó nhấc phần dây khỏi chân bò rồi hét mọi người kéo.
Chiếc xe lùi được nửa thân. Con bò vùng lên, trượt về phía bờ và ngã vật xuống bùn. Người đánh xe ôm lấy cổ nó. Hai chiếc chum mắc mép cầu rơi tiếp; một chiếc vỡ, chiếc kia chìm xuống dòng nước đục.
Nhưng không người nào rơi theo.
Khi Vịnh bò trở lại bờ, cánh tay chị rớm máu vì bị dằm gỗ cứa. Hùng đưa tay kéo. Chị nắm lấy, vừa đứng vững đã chỉ vào vết nứt.
“Lúc nãy nếu Công Tự bước thêm một bước, lời thề ngày hôm qua đã có việc đầu tiên để ghi.”
Hùng thở gấp. “Tôi đã dừng.”
“Sau khi tôi quát.”
“Và hỏi Cư Vịnh cần gì.”
Vịnh nhìn chàng rồi gật một cái. “Được. Ghi đúng thế.”
Thanh đã lấy thẻ ra. Mưa tạt lên mặt da bọc, nàng phải quay lưng che cho mực.
Hùng nói: “Bậu thật sự ghi ngay bây giờ?”
“Chúng ta thề trước khi đi. Chúng ta kiểm từ lúc bắt đầu.”
“Ghi thêm Vịnh tự lao lên cầu trước khi nói ai biết.”
Vịnh quay phắt lại. “Tôi biết cầu.”
“Cư Vịnh biết ván, không biết xe sẽ trượt thế nào.”
“Nếu chờ họp, con bò đã xuống nước.”
Thanh đưa bút cho chị. “Vậy Cư Vịnh nói lý do. Tôi ghi.”
Người đánh xe ngồi dưới bùn, một tay vuốt mõm bò, bỗng bật cười khàn. “Các vị cứu xong rồi mới bắt đầu cãi ai cứu sai à?”
Vịnh chống tay lên đầu gối, thở ra. Hùng cũng cười, dù ngực còn đau vì vừa nín hơi quá lâu.
“Không,” chàng nói. “Chúng tôi đang tập cách sống đủ lâu để còn cãi lần sau.”
• • •
Cầu không thể sửa trong buổi sáng.
Nhịp giữa đã mục quá nửa. Người giữ cầu cho biết muốn thay phải chặt dầm mới, kéo từ kho gỗ phía tây và chờ nước lạch hạ. Xe có thể vòng lên cầu đá phía bắc, nhưng mất một ngày. Thuyền bụng rộng của đoàn nằm ở phía bên kia cầu; nghi trượng và hai xe đồ không thể qua.
Quan coi cửa đề nghị hoãn chuyến đi.
“Mưa chưa dứt. Đường vòng lầy. Công Tự có lệnh rời thành, nhưng không ghi phải rời hôm nay.”
Người coi lễ lập tức đồng ý. Ông sai lính phủ lại chiếc trống rồi nói cờ gặp mưa dễ lem màu, đi ngày khác sẽ trang nghiêm hơn.
Vịnh đang rửa vết thương dưới mái lều gần cầu. Chị nghe vậy chỉ nhếch môi.
Hùng nhìn dòng người bị chặn hai bên. Những người mang hàng nhỏ đã bắt đầu lội qua một dải đá phía hạ lưu. Dân gánh rau xắn quần, chuyền sọt cho nhau. Một đoàn vận tải khoảng mười hai người dừng gần bờ, tháo hàng khỏi xe rồi buộc lên những bè nứa thấp. Không ai đợi cầu được sửa.
Thanh cũng nhìn họ. “Đó là đoàn từ đâu?”
Người giữ cầu đáp: “Họ đi theo lạch nam, mang gạo, muối và đồ đổi xuống các bến. Đường của họ không dùng xe lớn.”
“Có qua bãi Sậy không?”
“Có, nếu nước không dâng thêm.”
Hùng quay sang Vịnh. “Đi cùng họ được không?”
“Người đi được. Đồ thì không.”
“Bớt đồ.”
Người coi lương giật mình. “Thưa Công Tự, lương đã tính đủ mười ngày đến trạm. Bớt nữa, nếu chậm—”
“Không bớt lương cần. Bỏ xe, chia tải lên bè và vai.”
Người coi lễ bước tới. “Còn cờ lệnh, trống cùng vật nghi lễ?”
“Để lại.”
Ông tưởng mình nghe nhầm. “Đoàn mang lệnh Kinh rời thành mà không cờ, không trống?”
“Bản lệnh ở trong ống.”
“Dân ven đường nhìn vào đâu để biết đây là người thi hành việc công?”
Thanh đáp: “Nhìn thẻ lệnh khi cần. Không cần bắt mọi người tránh đường từ xa.”
“Công Thị, nghi trượng không chỉ để phô. Nó giữ trật tự, ngăn kẻ giả danh.”
“Vậy cử một người mang cờ nhỏ.” Hùng chỉ lá cờ hiệu gắn ở xe đầu. “Không trống, không hai cờ lớn, không đoàn hộ tống tới bến.”
Vịnh buộc mảnh vải quanh cánh tay. “Cờ nhỏ cũng vướng khi chui qua sậy.”
“Cuộn lại khi xuống thuyền.”
“Nếu đã cuộn, nó khác gì một tấm vải?”
“Khác ở dấu thêu.”
“Cá dưới nước chắc kính sợ lắm.”
Người coi lễ đỏ mặt. Hùng nhìn Vịnh. “Chúng ta đi qua đất có người, không chỉ qua nước.”
Thanh bước vào giữa trước khi hai người mài lời nhau thêm. “Giữ một cờ nhỏ vì đó là dấu xác nhận công vụ. Không dùng nó để ép mở đường. Ghi vào bản lược: nghi trượng lớn để lại do cầu gãy và tuyến không phù hợp.”
Hùng gật. Vịnh kéo nút băng bằng răng. “Miễn đừng dựng trên thuyền của tôi.”
“Đoàn có thuyền khác.”
“Qua cầu rồi hãy tìm.”
Quyết định bỏ nghi trượng lan qua đoàn nhanh hơn nước mưa. Hai lính hộ tống quay về thành. Người coi lễ đứng dưới cờ lớn, gương mặt như vừa chứng kiến một nghi thức bị chôn sống. Chiếc trống chưa đánh tiếng nào được đưa trở lại kho.
Chiếc thuyền bụng rộng cũng được giao lại cho người coi cửa. Tuy đã nằm bên kia cầu, thân thuyền quá bè để theo lạch nam; cố mang theo chỉ khiến đoàn mắc lại ở những đoạn nước hẹp.
Khó hơn là chọn thứ phải bỏ trong hai xe đồ.
Hùng giữ dụng cụ đo, dây chia khoảng, hòm thẻ, thuốc, lương, vật đổi và hai tấm da che mưa. Người coi lương giữ nồi, muối, dao, đá lửa. Thanh bỏ một giá chép gấp và hơn nửa số thẻ trắng. Người chữa thương tên Bách nhất quyết giữ cối đá nhỏ để nghiền thuốc, dù ai cũng bảo nó nặng.
“Tới lúc có người sốt, các người sẽ không muốn ta nghiền vỏ cây bằng răng,” Bách nói.
Không ai tranh nữa.
Vịnh bỏ ba chiếc ghế thấp, một mái che riêng cho Hùng và bộ bát đồng người coi lễ chuẩn bị.
Hùng giữ lại chiếc bàn cân nước bằng gỗ.
Vịnh cầm lên, xoay qua xoay lại. “Cái này chỉ phương?”
“Dùng mặt nước làm chuẩn để so độ nghiêng của từng đoạn đường.”
“Trên lạch nhỏ, nhìn nước chảy là biết thấp cao.”
“Khi cần so chép giữa các vùng, mắt Cư Vịnh không để lại số.”
“Số của Công Tự có đẩy bè không?”
“Không. Nhưng nó giúp người sau biết một lạch đã đổi bao nhiêu.”
Vịnh trả lại. “Vậy tự mang.”
Hùng buộc nó vào gùi của mình.
Thanh nhìn chàng nhấc thử. “Nặng không?”
“Không.”
“Bậu nói dối dở hơn người bến.”
“Qua mang được.”
“Qua không hỏi bậu có mang được không. Qua hỏi nó có nặng không.”
Hùng im một nhịp. “Nặng.”
“Vậy khi mệt phải nói.”
“Bậu định ghi cả lúc qua mỏi vai?”
“Nếu vì sĩ diện mà bậu ngã xuống lạch, có.”
Vịnh nghe thấy, bật cười. “Tôi bắt đầu thích việc hai người kiểm nhau.”
Hùng siết lại dây gùi. “Tôi bắt đầu hiểu vì sao Cư Nhu không cho Cư Vịnh đi một mình.”
• • •
Đoàn vận tải không muốn nhận họ.
Người đứng đầu đoàn là một phụ nữ thấp, chắc người, tên Sắn. Bà nhìn thẻ lệnh Hùng đưa, đọc được dấu ấn nhưng không đọc hết chữ. Bà trả lại bằng hai ngón tay.
“Việc quan thì đi đường quan.”
Hùng chỉ cây cầu gãy. “Đường quan đang nằm dưới lạch.”
“Thì chờ vớt lên.”
“Chúng tôi xin đi cùng tới bãi Sậy. Không lấy chỗ hàng của các vị. Đoàn tự mang tải.”
Bà Sắn nhìn bảy người, rồi nhìn đống đồ đã giảm còn một hòm, sáu gùi và hai bó dài.
“Người trong thành nói tự mang tới khi bùn ngập mắt cá. Sau đó chân họ đau, đồ họ thành việc của dân.”
Vịnh nói: “Tôi chịu phần đường nước. Nếu ai trong đoàn này đẩy gùi sang người đi cùng Cư Sắn, Cư Sắn cứ quăng xuống lạch.”
Bà Sắn nhận ra chị. “Vịnh nhà Tràm?”
“Không còn ai ở bến gọi tôi đủ cả nhà.”
“Nghe nói Cư Vịnh dẫn đường chỉ cho người trả gấp đôi.”
“Nghe ai?”
“Người từng trả gấp đôi.”
Hai người nhìn nhau rồi cùng bật cười. Sự quen biết giữa dân đi đường không cần thân thiết; chỉ cần mỗi người từng nghe một chuyện đủ xấu về người kia mà vẫn chịu đứng chung.
Bà Sắn quay sang Hùng. “Đi cùng được. Nhưng có ba điều. Không đánh trống. Không gọi người của tôi bỏ hàng để phục dịch. Tới chỗ phải chọn ai qua trước, hàng dễ hỏng qua trước, chức tước qua sau.”
Hùng đáp: “Đồng ý.”
Thanh lấy thẻ. “Xin Cư Sắn nói tên và tư cách để tôi ghi.”
“Ghi làm gì?”
“Để điều kiện này không biến thành lời do chúng tôi tự nghĩ rồi nhận là của dân vận tải.”
Bà Sắn nhìn nàng từ đầu đến chân. “Ghi Sắn, người gom chuyến. Đừng ghi chủ đoàn. Những người kia không phải người của ta; họ góp hàng, góp sức rồi cùng đi.”
Thanh sửa ngay nét vừa viết.
“Công Thị thật sự cạo chữ trước mặt người nói?”
“Nếu tôi viết sai.”
“Người trong thành thường đợi quay lưng mới sửa lời chúng tôi.”
“Vì vậy Cư Sắn sẽ giữ một bản.”
Bà Sắn nheo mắt, dường như chưa tin nhưng cũng không hỏi thêm. Bà vẫy tay cho người trong đoàn dời hai gùi muối, chừa một khoảng dưới tấm da che chung.
“Mực để vào đây. Ướt áo còn phơi được, ướt chữ lại đổ cho trời.”
Thanh cảm ơn. Một người đàn ông trẻ trong đoàn ghé tai bà Sắn hỏi nhỏ nhưng đủ cho mọi người nghe:
“Nếu họ đi chậm thì sao?”
“Bỏ lại.”
“Có cờ lệnh đấy.”
“Cờ tự đi được thì cho nó theo.”
• • •
Họ qua lạch không bằng cầu.
Đoàn vận tải dùng ba bè nứa thấp, kéo trên một sợi dây căng chéo dòng. Hàng được chia thành từng lượt. Người đứng hai bờ ghì dây, người trên bè dùng sào giữ mũi khỏi xoay. Nước chỉ cao ngang đùi ở mép nhưng giữa dòng chảy xiết, mang theo cành cây và bọt đất.
Theo điều kiện của bà Sắn, hai sọt rau cùng các túi hạt giống qua trước. Kế đến là muối, mực, thuốc và thẻ. Người qua sau.
Hùng đứng bờ, nhìn hòm thẻ trôi trên bè đầu tiên.
“Nếu dây đứt, mọi bản chép của chúng ta—”
Thanh ngắt: “Đã chia trong ba ống chống nước. Hòm không còn giữ tất cả.”
“Bản tuyến?”
“Một bản trong ống qua, một bản ở Vịnh, một bản kho đường.”
“Lời thề?”
“Hai bản gốc theo đoàn. Hai bản sao ở kho đường và bến.”
Hùng gật đầu. Hôm trước, chàng vẫn muốn một hòm đối chứng riêng vì nghĩ giữ chung sẽ dễ kiểm. Bây giờ nhìn bè chao giữa dòng, chàng hiểu sự ngay ngắn ấy chỉ cần một sợi dây đứt là mất sạch.
“Bậu đúng khi chia bản.”
Thanh quay sang như muốn chắc mình không nghe nhầm. “Bậu có cần qua ghi câu ấy không?”
“Không.”
“Đáng tiếc. Đây có thể là vật chứng hiếm.”
Hùng cười, rồi bước xuống nước khi tới lượt. Dòng lạnh quất vào chân. Chiếc bàn cân nước trên lưng kéo gùi lệch sang một bên. Chàng cố giữ thẳng, được ba bước thì bàn chân lún vào bùn.
Người trẻ lúc nãy đứng trên bè chìa sào. Hùng nắm lấy, thoát chân ra.
“Cảm ơn.”
“Công Tự tự mang được mà.”
Giọng người ấy không ác, chỉ nhắc lại điều Hùng đã nói quá sớm. Chàng không chống chế.
“Tôi mang được. Nhưng vừa rồi tôi cần Can giúp.”
Người trẻ nhướng mày rồi kéo mạnh hơn. “Ít ra Công Tự học nhanh.”
Ở bờ bên kia, Vịnh nghe thấy, cười đến mức suýt buông dây.
Khi lượt cuối qua xong, người coi lễ vẫn đứng bên bờ cũ cùng cờ lớn, trống và hai xe đồ bị bỏ lại. Ông giơ tay hành lễ. Hùng đáp lại từ bên kia dòng nước.
Không tiếng trống nào tiễn họ.
Chỉ có tiếng dây chão rít qua cọc, tiếng người gọi nhau giữ bè và tiếng mưa lộp bộp trên những tấm lá đan.
Cửa thành lùi sau màn nước.
• • •
Con đường men theo lạch hẹp đến mức có lúc không đủ cho hai người đi cạnh nhau.
Nó không có cọc chỉ hướng, không có tên trên bản đồ. Chỗ nào bờ cao, người ta đi trên rễ cây. Chỗ nào đất lở, dấu chân dồn xuống mép nước. Có đoạn đường biến mất dưới một ruộng gạo mới cấy, đoàn phải bước lên bờ ruộng theo đúng những hòn đất chủ ruộng đã đặt sẵn, tránh giẫm mầm non.
Bà Sắn đi đầu trên đất. Vịnh đổi vị trí liên tục, lúc xem nước, lúc quay lại kiểm tải. Hùng muốn đo khoảng cách, nhưng mỗi lần dừng lấy dây chia, đoàn phía trước lại kéo xa.
Sau lần thứ ba, bà Sắn hỏi: “Công Tự định đo đường hay đi đường?”
“Cả hai.”
“Vậy chân đi, miệng đếm. Đừng giăng dây giữa lối khiến người sau vấp.”
Hùng thử đếm bước. Mặt đất không đều làm số sai. Vịnh thấy chàng cau mày, bèn chỉ những nút buộc nhỏ trên dây gùi của người vận tải.
“Mỗi lần qua một đoạn nghỉ, họ chuyển nút.”
“Đoạn nghỉ dài ngắn khác nhau.”
“Nhưng gắn với sức người và tải. Công Tự muốn biết đường dài bao nhiêu hay muốn biết một người mang gạo đi được bao lâu?”
Câu hỏi khiến chàng cất dây chia vào gùi.
“Cả hai,” chàng nói. “Nhưng hôm nay ghi sức người trước.”
Vịnh gật. “Đó mới là thứ đoàn này đo được.”
Thanh đi sau họ một đoạn, vừa bước vừa hỏi người vận tải về các nút dây. Nàng không hỏi cùng lúc. Mỗi người trả lời riêng: một người nói nút đánh theo chặng nghỉ, người khác bảo theo nơi có nước uống, người thứ ba nói chỉ là dấu của người đóng hàng.
Đến trưa, họ dừng dưới một cụm cây gạo ven lạch. Mưa đã nhẹ, chỉ còn nước từ lá lớn nhỏ xuống vai. Bà Sắn cho mở các gói cơm. Không ai bày riêng phần cho Hùng hay Thanh. Ai mang gì ăn nấy, rồi đổi cá khô lấy muối vừng, đổi một quả chua lấy miếng gạo nếp.
Hùng đặt bàn cân nước xuống đất, xoa vai.
Thanh đưa chàng nửa củ luộc. “Nặng không?”
“Nặng.”
“Tốt.”
“Bậu vui vì qua đau vai?”
“Qua vui vì bậu trả lời đúng câu hỏi.”
Vịnh ngồi đối diện, dùng răng kéo một sợi dằm khỏi tay. “Hai người cứ thế này suốt đường chắc người dẫn đường chết vì mệt trước.”
Hùng nhìn Vịnh. “Ai nói sẽ đi lâu?”
“Không ai. Tôi chỉ nói đường trước mặt còn dài.”
“Cư Vịnh nói như thể đã biết.”
Vịnh khựng lại, rồi ném sợi dằm xuống đất. “Ở bến, người ta nói đi tìm thứ không biết ở đâu thì mấy mùa cũng còn ít.”
Thanh không ghi. Nàng nhận ra có những câu là cách người ta nói về sự xa xôi, không phải lời tiên đoán.
Một người trong đoàn vận tải mở kiện hàng để kiểm nước thấm. Bên trong là những bó dao gặt bọc rơm. Mỗi bó được buộc bằng một nút lạ: dây vòng hai lần quanh thân, xuyên ngược qua chính nó rồi thắt lệch sang trái.
Hùng nhìn thấy nhưng chưa nói. Ở gùi muối bên cạnh cũng có một nút tương tự, nhỏ hơn. Một túi hạt giống dưới tấm da che dùng sợi lạt khác, vẫn kết thúc bằng vòng lệch trái ấy.
Chàng đi quanh chỗ nghỉ, đếm được bảy kiện hàng mang cùng một kiểu nút. Chúng không thuộc cùng một người, không chứa cùng một thứ và dây buộc cũng khác nhau.
“Bậu,” chàng gọi.
Thanh đang nói với một phụ nữ vận tải về các trạm nước. Nàng giơ một ngón tay, xin chàng chờ hết câu rồi mới tới.
“Có gì?”
Hùng chỉ ba kiện gần nhất. “Cùng một cấu trúc nút. Hai vòng, xuyên ngược, lệch trái. Không phải ngẫu nhiên.”
Thanh không cúi xem ngay. “Bậu đã hỏi ai chưa?”
“Chưa. Phần đường truyền của bậu.”
Nàng nhìn chàng một thoáng. Đây là lần đầu họ dùng sự phân chia đã thề không phải để tranh quyền, mà để trao câu hỏi đúng lúc.
Thanh hỏi bà Sắn trước. Bà nói nút ấy có từ lúc nhận hàng ở bến trên, dùng để biết kiện chưa bị mở. Người trẻ bảo đó là kiểu buộc của dân vùng đồi. Người mang hạt giống nói mình không biết, hàng được đổi qua ba tay. Người có bó dao gặt nói nút lệch giúp mở nhanh bằng một tay.
Vịnh kiểm từng dây. “Mở nhanh chỉ là một phần. Nút này nếu ướt sẽ siết ở vòng ngoài, không ép vào hàng bên trong.”
Hùng hỏi: “Cư Vịnh từng thấy chưa?”
“Một lần trên bè gỗ từ thượng lạch. Không nhớ người buộc.”
Thanh ghi nguồn từng lời. “Bảy kiện này đến từ đâu?”
Bà Sắn gọi chủ từng món. Câu trả lời khác nhau: dao gặt từ một lò đổi ở bến Gà; muối qua tay người buôn ở doi Ba Gốc; hạt giống từ một phụ nữ không nói quê; cuộn vải thô được đổi ở chợ nổi mùa trước.
Tên nơi khác nhau, nhưng khi Thanh hỏi người trao hàng đến từ hướng nào, tất cả đều chỉ lên cùng một nhánh lạch phía nam đông.
Hùng lấy bốn thẻ dấu ban đầu, đặt cạnh kiểu nút. Nó không giống hẳn dấu nào. Tuy vậy, cách hai vòng ôm lấy một mối rồi tách lệch khiến chàng nhớ tới dấu lặp trên cán dụng cụ ở mảnh vật thứ nhất: hai nét chung gốc nhưng không khép thành vòng.
“Có thể cùng một quy tắc đánh dấu,” chàng nói.
Thanh hỏi: “Hay chỉ cùng cách buộc tiện?”
“Bảy loại hàng, nhiều người giữ, cùng hướng đến. Ít nhất đủ để hỏi tiếp.”
“Chưa đủ nói nó liên quan bốn dấu.”
“Qua không nói đã liên quan.”
“Bậu vừa đặt thẻ cạnh nó.”
“Để so hình.”
Thanh nhìn cách các thẻ nằm trên rơm. Người khác đi qua có thể dễ dàng hiểu chúng đã được ghép thành một kết luận.
Hùng nhận ra, bèn tách các thẻ ra. “Được. Chỉ ghi giả thuyết hình, chưa nối nguồn.”
Bà Sắn nhai miếng gạo, nhìn hai người làm việc. “Các vị đi tìm ai?”
“Chưa biết,” Thanh đáp.
“Tìm nơi nào?”
“Một vùng có nhiều dấu độc lập cùng chỉ tới.”
Bà Sắn chỉ bảy nút dây. “Thứ này có tính là dấu không?”
Hùng nói: “Có thể.”
Thanh nói: “Nếu biết ai buộc và vì sao.”
Bà Sắn cười. “Một người thấy nút. Một người hỏi tay. Hai vị mà đi riêng chắc mỗi người chỉ tìm được nửa sợi dây.”
Vịnh bẻ miếng cá khô. “Hôm qua họ thề sẽ không lấy nửa của mình gọi là cả.”
“Thề trước khi đi à?”
“Trước cửa thành.”
“Đi được nửa ngày còn nhớ, vậy cũng khá.”
• • •
Buổi chiều, trời tạnh.
Ánh nắng đầu tiên lọt qua mây, chiếu lên những giọt nước bám trên ruộng gạo. Cả cánh đồng sáng lên như được rắc những mảnh kim loại nhỏ. Con đường bớt trơn nhưng nặng mùi bùn, mùi lá bị giẫm và mùi mồ hôi từ những tấm áo chưa khô.
Đoàn đi sâu vào lạch nam. Nhà cửa thưa dần. Không còn bức tường thành sau lưng, cũng chưa thấy ranh giới của châu nào trước mặt. Chỉ có các dấu người để lại: một cọc chống ở chỗ bờ lở, một nhánh cây bẻ thấp báo tổ ong, ba viên đá xếp cạnh vũng sâu.
Hùng hỏi tên con đường.
Bà Sắn đáp: “Đường lạch.”
“Lạch nào?”
“Lạch này.”
“Trong sổ cần một tên để phân biệt.”
“Đi từ bãi Sậy thì gọi đường lên thành. Đi từ thành thì gọi đường xuống bãi. Người gánh muối gọi đường muối. Người mang giống gọi đường giống.”
“Vậy nó không có tên chung?”
“Có người đi thì có đường. Cần gì tên chung?”
Thanh viết câu ấy rồi hỏi: “Nếu phải báo người khác tới tìm, Cư Sắn nói thế nào?”
“Nói qua cầu gãy, theo lạch nhỏ, thấy cây gạo ba thân thì nghỉ, tới cọc cong thì rẽ. Người cần đi sẽ hiểu.”
Hùng nhìn những gì hiện ra quanh họ. Trên bản đồ, đường phải có một nét và một tên. Ở đây, nó tồn tại bằng chuỗi hành động, vật mốc và trí nhớ của người dùng. Đặt tên có thể giúp người xa tìm tới; cũng có thể làm người ta tưởng một lối sống chỉ là một vạch cố định.
“Tạm ghi tuyến lạch nam,” chàng nói.
Thanh hỏi: “Tạm đến khi nào?”
“Đến khi biết người đi đường này muốn gọi nó là gì.”
Bà Sắn nghe được, nhún vai. “Có khi đi hết đời vẫn mỗi người gọi một kiểu.”
“Vậy ghi nhiều tên.”
“Sổ của Công Tự sẽ nặng.”
Hùng điều chỉnh dây gùi đang hằn vai. “Tôi đang biết điều đó.”
Gần tối, họ tới một bãi đất cao cạnh khúc lạch uốn. Đoàn vận tải dừng lại. Người gom củi, người dựng tấm che, người kiểm chân vì đỉa. Không ai chờ Hùng phân việc.
Chàng cùng hai lính đi lấy nước. Thanh giúp mở túi gạo. Vịnh kiểm thuyền bè cho chặng sáng mai. Bách dùng chiếc cối đá mà mọi người từng muốn bỏ để nghiền lá đắp lên cánh tay Vịnh và bàn chân một người vận tải bị rách.
“Đấy,” Bách nói, vừa giã vừa nhìn Hùng. “Cối không tự đẩy bè, nhưng người đau chân cũng không tự đi.”
“Tôi chưa bảo bỏ cối.”
“Công Tự đã nhìn nó ba lần.”
“Tôi nhìn vì nó nặng.”
“Vật hữu dụng thường nặng. Việc là biết ai gánh và khi nào đáng gánh.”
Vịnh xuýt xoa khi thuốc chạm vết cứa. “Hôm nay ai cũng thích dạy Công Tự.”
Hùng đặt bầu nước xuống. “Ngày đầu đã thế, tôi e quãng đường tới sẽ rất dài.”
Vịnh ngẩng lên. “Giờ Công Tự mới biết sợ đường dài?”
Thanh đang vo gạo bên lạch quay lại. “Ít ra lần này bậu cũng chịu nói thật.”
Hùng bật cười, đưa tay xoa bên vai đang đau. Bà Sắn từ bên bếp hỏi vọng sang:
“Đường dài gì?”
“Không gì cả,” Hùng đáp.
“Người trong thành nói chuyện như gà mắc tóc.”
Tiếng cười nổi quanh bãi. Hùng cũng phải cười theo. Họ mới rời thành nửa ngày, vậy mà quãng đường trước mặt đã rộng hơn mọi nét trên bản tuyến.
Thanh không ghi điều ấy. Nàng chỉ nhớ.
Sau bữa tối, Hùng và Thanh đối chiếu ngày đầu tiên.
Họ ghi cầu gãy, quyết định bỏ nghi trượng, việc chia bản tuyến thành ba nơi, điều kiện đi cùng đoàn vận tải và lần đầu lời thề được dùng. Hùng ghi cấu trúc nút dây lặp trên bảy kiện. Thanh ghi năm lời giải khác nhau, nhưng chưa lời nào đến từ người tận mắt thấy việc buộc.
“Ngày mai hỏi ở bãi Sậy,” Hùng nói.
“Hỏi riêng người đóng hàng và người dùng nút. Không đưa bốn thẻ ra trước.”
“Qua đồng ý.”
“Nếu ba nguồn độc lập cùng chỉ nhánh nam đông?”
“Đổi tuyến khảo xét đầu tiên về hướng ấy, miễn Vịnh xác nhận đường đi được.”
Vịnh đang ngồi cách đó không xa, vá lại một đoạn dây bè. “Tôi nghe thấy.”
“Cư Vịnh nghĩ sao?”
“Tới vũng Trăng Non, có hai nhánh. Nhánh nam đông hẹp hơn nhưng qua vùng hàng hóa ấy thường xuống. Nếu nước giữ mức này, đi được.”
Hùng nhìn Thanh. “Vậy mai kiểm nguồn nút. Chưa đổi tuyến cho tới khi đủ ba nguồn.”
Thanh buộc thẻ ngày đầu vào bản tuyến. “Được.”
Lửa bếp nhỏ dần. Trong bóng tối, những kiện hàng nằm thành một dãy dưới tấm che. Bảy nút dây lệch trái giống nhau chỉ hiện khi ánh lửa lay tới, rồi lại mất.
Chúng không phải cổ vật. Không ai thờ chúng. Chúng nằm trên muối, hạt giống, dao gặt và vải thô; bị những bàn tay bình thường siết, kéo, tháo rồi buộc lại qua bao bến.
Nhưng chính vì thế, chúng đã đi xa hơn một lời được giữ trong kho.
Ở phía sau, thành trung tâm không còn nhìn thấy. Phía trước, châu thứ nhất chưa có hình dạng trong trí họ. Giữa hai nơi là một con đường không có tên chung, được giữ bằng cọc cong, cây gạo ba thân, sức vai người vận tải và những nút dây lặp lại trên hàng hóa.
Hùng nằm xuống tấm chiếu mỏng, vai đau vì bàn cân nước bằng gỗ. Thanh ngủ với ống thẻ buộc sát người. Vịnh đặt mái chèo bên tay. Không ai còn cờ lớn hay tiếng trống để báo mình đang tới.
Ngày mai, họ sẽ theo dấu những nút dây về phía châu đầu tiên.
Và lần đầu bước vào một vùng đất lạ, họ sẽ không đến như đoàn người mang sẵn câu trả lời từ trong thành.