Chuyện ông Sáu Lẫm cùng ông thầy pháp suýt chết dưới tay ma quỷ ở Cồn Gió khiến người làng Tân Xuyên càng thêm khiếp sợ. Không ai dám đi chợ sớm, người bán trong chợ cũng không dám đứng gần chỗ giáp sông. Không khí sợ hãi khiến hễ ai nói tiếng to cũng bị mắng. Cảnh làng đìu hiu từ dạo đó.
Nhưng Út Hường chưa phải là người sau cùng bị ma quỷ hại. Ngay đúng bữa cúng một trăm ngày cho cậu Ba Cường, thì bà Liễu, bạn tri kỷ của Ông Sáu Lẫm đi chợ huyện bị mất tích, xuồng trôi không về cũng đứng dập dềnh một chỗ trên mặt sông Cái, như hai lần trước.
Điều đáng sợ ở đây là bà Liễu không đi lúc chạng vạng, mà đi từ sớm, giờ gà đã gáy sáng, mà vẫn bị ma quỷ trên cồn hại. Ông Sáu Lẫm góa vợ mười sáu năm, thì hết mười lăm năm rưỡi bà Liễu qua chăm giùm con Út Hường cho ông rảnh tay rảnh chân lo cuộc mưu sinh. Họ tuy bên ngoài là tình bạn bè, nhưng bên trong ai cũng ngầm hiểu là già nhân ngãi non vợ chồng. Út Hường khi còn sống cũng gọi bà Liễu là “má Liễu”
Khác với hai lần mất tích của cậu Ba Cường và Út Hường, lần này đến bảy ngày xác mới được trả về. Sáng đó, người ta phát hiện chiếc xuồng nhỏ của bà Liễu trôi ngang qua, không có ai ngồi trên đó. Tới chiều, khi triều rút, người ta phát hiện xác bà Liễu nằm sấp, vướng trong đám lục bình ngay vàm rạch Chà Là. Lúc lật lại, người ta thấy miệng bà há hốc như người chết nghẹn, trong khi tay phải vẫn còn siết chặt mấy cọng rau má héo úa, thứ rau mọc tràn trên Cồn Gió. Điều đáng sợ nhất là mắt bà Liễu không hiểu sao cứ mở trừng trừng, đỏ ngầu, tròng trắng gần như không còn. Dân làng chỉ nhìn thoáng qua cũng lạnh gáy, nên ngoài ông Sáu Lẫm với ông thầy, thì chẳng ai dám tới gần cái xác.
Mấy bữa trước, khi nghe nói cái máy chụp hình của con trai bị bỏ lại Cồn Gió vì ông Sáu Lẫm gặp quỷ, bà hội đồng Vĩnh đã vô cùng tức giận, đòi bắt đền và bỏ tù ông Sáu Lẫm. Nhưng sau khi nghe người làm bảo nếu bà còn giữ cái máy chụp hình đó, không chừng người nằm dưới mương hôm nay là bà chứ không phải bà Liễu, thì bà hội đồng Vĩnh sợ mất hồn, không dám càm ràm nữa.
Đám tang bà Liễu diễn ra vội vã. Người ta sợ hãi, không dám ở lại đến tối. Ai cũng thầm nghĩ bà bị “con quỷ cái” trên cồn kéo theo, giống như cậu Ba Cường với con Út Hường. Ông Sáu Lẫm im lặng từ đầu chí cuối, đôi mắt như chết rồi, không còn rơi nổi một giọt nước mắt nào.
…
Sau đám tang, ông Sáu Lẫm một mình cầm đèn dầu ra bến sông, ngồi lặng như pho tượng. Đêm buông xuống, gió từ ngoài ngã ba sông lùa vào lành lạnh, nhưng ông không động đậy. Gần nửa đêm, đột nhiên có tiếng người rên khe khẽ, rồi lại là tiếng bước chân bì bõm, chậm rãi như kéo lê vật gì nặng nề trên đất. Ông Sáu quay phắt lại, thì không thấy gì. Nhưng khi nhìn xuống mặt nước, ông giật bắn người.
Qua quầng sáng mờ mờ từ chiếc đèn dầu, ông Sáu Lẫm thấy bóng một người đàn bà mặc áo bà ba rách nát, tóc phủ nửa mặt, tay buông thõng, đang ngước lên qua mặt nước sông. Nửa mặt bà ta bầm đen, mắt toàn tròng trắng, khóe môi khẽ động đậy.
“...Lẫm…”
Tiếng gọi khẽ như tiếng gió, nhưng ông Sáu nghe rõ mồn một. Ông ngã lùi lại, miệng ú ớ:
“Liễu… phải bà không? Phải bà không?”
Bóng dưới nước không đáp, chỉ đưa tay lên, như vẫy gọi. Nhưng đúng lúc ấy, có tiếng gà từ đâu đó gáy vang. Tiếng gáy như xé toạc màng đêm. Cái bóng kia tan biến, mặt nước lặng lại, đục lờ.
Ông Sáu Lẫm run lẩy bẩy, ngồi thụp xuống, hai tay ôm đầu. Trong khoảnh khắc ấy, ông hiểu, bọn ma quỷ, chúng sẽ không buông tha ông, cho đến khi ông chết.
6.
Từ sau cái chết của bà Liễu, ông Sáu Lẫm như người mất hồn. Đêm nào ông cũng chong đèn ngồi trước bàn thờ Út Hường, và bà Liễu, tay lần chuỗi hạt, mắt nhìn ngọn đèn dầu chập chờn mà nghe lòng nghẹn đắng.
Ông thầy sau khi hay tin, vội quay về làng Tân Xuyên thăm ông Sáu Lẫm. Thắp xong mấy cây hương, không nói gì, chỉ nhìn ra phía bờ sông lặng như tờ, đoạn thở dài:
“Con nữ quỷ đó bắt đầu hại luôn người có duyên với người chết rồi. Không phải ai cũng thấy đâu, nhưng mà bà Liễu chắc chắn bị dẫn dụ. Mà tui coi bộ... tụi nó chưa chịu dừng đâu.”
Đúng như lời ông thầy nói, ba hôm sau, trời chưa sáng hẳn, người ta phát hiện thêm một chiếc xuồng bị giạt vô đám bần, lật nghiêng, gần đó có cái nón lá còn dính một nhúm tóc bạc phơ. Lần này là bà Tám Lự, bán chè đậu ván ngoài chợ, nổi tiếng mồm mép, và hay xoi mói chuyện người khác.
Dân trong làng sợ hãi tột độ, đã tính đến chuyện báo quan, nhưng mạnh miệng vậy thôi, chứ không ai dám lên huyện làm việc đó.
“Chắc bà Tám lỡ miệng nói động tới ma quỷ rồi.”
“Cái cồn đó... chắc phải thỉnh thầy, rước pháp sư về mới yên quá.”
Ông thầy thấy người làng nói như vậy với nhau, thì lắc đầu:
“Không phải chuyện ai cũng làm được đâu. Cồn đó có nhiều oan hồn, nên phải biết rõ ngọn ngành, ân oán ra sao thì mới mong siêu độ.”
Ông Sáu Lẫm ngồi bên, mắt đỏ hoe. Ông hỏi:
“Ông thầy... tôi muốn đi tìm gốc tích mấy cái chuyện đau lòng này. Hết cậu Ba Cường, tới con Út Hường, rồi tới bà Liễu... không lẽ cứ để quỷ ma làm mưa làm gió?”
Ông thầy im lặng hồi lâu rồi gật đầu:
“Được. Mình không đấu tay đôi với nó nữa, mà đi tìm quá khứ của nó.”
Chiều hôm đó, hai người chèo xuồng lên miệt Gò Nổi, tìm tới nhà bà Bảy Cẩm, người từng sống ở cồn lúc còn nhỏ.
Bà Bảy Cẩm lú lẫn chuyện gần, nhưng chuyện xưa thì nhớ vanh vách. Vừa mới nghe ông thầy bảo có mấy người bên làng Tân Xuyên chết nghi do ma quỷ hại, bà chép miệng:
“Tui biết rồi thế nào cũng có ngày này…”
“Sao bà Bảy nói vậy?”- Ông Sáu Lẫm nóng ruột hỏi luôn.
“Hồi đó, trên Cồn Gió có miếu thờ hai mẹ con người miền ngoài. Người mẹ là gái xứ Nghệ, theo chồng đi buôn xuôi Nam. Không may bị cướp, chồng chết, bả với con nhỏ lánh lên cồn lập miếu thờ chồng, dựng lều, bán đồ lặt vặt cho dân thương hồ. Một đêm nọ, có đám người kéo qua, đốt miếu, phá lều, hãm hiếp mẹ, rồi giết luôn hai mẹ con.”
Bà Bảy Cẩm nói tới đó, hai hàng nước mắt ứa ra:
“Họ... chết oan... chết tức tưởi... người mẹ bị trói treo cổ, quần áo tả tơi; …còn đứa nhỏ thì bị đập chết, vùi ngay dưới nền miếu.”
Ông Sáu Lẫm ngồi phắt dậy:
“Trời đất ơi... Sao có người ác vậy? Bà có biết ai làm không?”
“Toàn dân Tân Xuyên, cũng có mấy đứa An Thới. Tụi nó sau đó đứa bệnh chết, đứa dọn nhà đi biệt xứ, đứa quan bắt xử tù. Nhưng ác hơn là cái miếu người hai làng dựng lên thờ mẹ con họ chưa được chục năm sau cũng bị đập phá.”
Ông Sáu giật mình khi nghe tới đó.
“Làm gì có, miếu chỉ bị dời vô sâu trong cồn thôi mà?”
Bà Bảy Cẩm đang rưng rưng kể, nghe vậy thì giận dữ to tiếng:
“Mày biết cái gì? Tụi nó đập cái miếu rồi quăng hết xuống sông Cái đó.”
“Trời ơi, vậy là tui phạm tội tày trời rồi!”
Ông thầy ngạc nhiên, quay phắt sang nhìn thẳng mặt ông Sáu Lẫm, thì thấy mắt ông nhắm nghiền, biểu cảm đau khổ tột cùng.
“Thật ra, hồi con Út Hường chưa đẻ, tôi và mẹ nó mới chân ướt chân ráo đến ở làng Tân Xuyên. Một bữa, có mấy thằng xóm trên bàn tính chuyện dời miếu, nói miếu hoang không ai hương khói lâu rồi, chắc người thờ cũng siêu rồi. Dẹp vô sâu để lấy đất trồng hoa màu. Tui thấy không thuận lắm, nên không tham gia, nhưng sợ bị ghét, đành phải đưa xuồng cho tụi nó mượn. Hồi đó, tui nghĩ đơn giản, thấy cái miếu giữa cồn coi kỳ kỳ, với lại trồng hoa màu cũng có ích, chứ đâu dè... tụi nó đập phá luôn chỗ linh thiêng người ta nương náu. Tội tui lớn tày trời rồi, ông thầy ơi!”
“Lẽ nào chuyện họ phá miếu không đến tai ông sao?”
“Không, chắc bọn họ giấu nên chẳng có tin đồn nào hết. Với lại, đâu có ai dám ghé Cồn Gió mà biết thực hư.”
Bà Bảy Cẩm kể rằng những gì đám người hai làng Tân Xuyên, An Thới làm với ngôi miếu giữa cồn họ đều không kể cho ai biết. Mấy bữa đầu có người đi ghe qua thấy ngôi miếu biến mất thì thắc mắc, nhưng đám người đó lấp liếm nói là không chừng nước lũ cuốn trôi miếu rồi. Nghiệt cái lúc đó lũ về thiệt.
Sau này, mấy người đó cũng đem cải với sắn trồng thử mé ngoài cồn, gần chỗ cái nền miếu, thấy cũng tươi tốt, nên nghĩ không sao. Mãi mấy tháng sau, khi có người trong đám phá miếu là dân An Thới, liên tục nằm mơ thấy mẹ con nữ quỷ đòi mạng, thì người hai làng mới hay.
Ông thầy lắc đầu, rầu rĩ nói:
“Cái gì cũng có thời điểm của nó. Tui sợ cái hận đó đời này không gột nổi. Dân làng Tân Xuyên đến lúc phải trả nghiệp rồi.”
Bà Bảy Cẩm lấy tay dụi mắt, lẩm bẩm:
“Tui còn nhớ có mấy thằng qua lấy rau bên cồn đi bán, sau về bệnh nằm liệt giường cả tháng, rồi dần cũng dời nhà đi biệt xứ, chẳng ai còn nghe được tin tức nữa, nên không biết có bị gì không.”
“Liệu có phải chuyện ma quỷ hại dân làng Tân Xuyên lần này là do cậu Ba Cường tự lên cồn, hay chụp hình bóng ma trên cồn đã phá giải lời nguyền không?”
“Cũng có thể, cậu Cường lên cồn phá là quá tam ba bận phá, họ hết chịu nổi rồi. Cái máy chụp hình đó như một dụng cụ nối hai thế giới âm dương vậy.”
Tối đó, ông thầy cùng ông Sáu Lẫm quay về Tân Xuyên. Sáng hôm sau, trước khi ra cồn, ông thầy chuẩn bị lễ cúng, ra miễu Hà Bá khấn xin keo. Keo ba lần sấp, họ đành phải bỏ ý định ra cồn làm lễ cúng.