Thêm ít hôm nữa, hai người họ lại ra miễu Hà Bá xin được ra cồn. Lần này, thì được. Ông Sáu Lẫm và ông thầy kiếm nửa ngày mới tìm được nền miếu cũ. Bày mâm cúng xong, ông thầy đọc bài văn khấn, và đặt cái bùa lệnh của miễu Hà Bá lên trên. Họ bắt tay vào đào nền đến khi mặt trời vừa đổ bóng, thì lên xuồng về ngay, không dám nán lại.
Sau ba bốn ngày đào bới, họ tìm được dưới lớp đất cát pha sình rất nhiều xương người, trong đó, còn có đốt xương cổ dính mắc một đoạn dây thừng đã mục. Ông thầy lập đàn tại chỗ. Giữa trưa, đàn cúng chỉ có ít giấy tiền vàng bạc, mấy bát cơm nguội, một con gà nướng mía, ba chung rượu nếp, ba cây nhang và hai con búp bê bằng rơm mặc áo bà ba.
Đèn măng-sông cháy phừng phựt. Ông Sáu Lẫm ngồi khoanh tay, cúi đầu, lần đầu tiên trong đời đọc kinh siêu độ. Ông thầy thì tay run run cắm cây kiếm gỗ vào giữa chiếu, rồi khấn:
“Người chết có linh, xin hãy buông oán thù, để đường luân hồi mở lối. Ai gieo nghiệp, người đó phải gánh. Nhưng xin đừng bắt người vô can.”
Lúc đó, từ giữa khoảng tối, một bóng trắng bước ra, chính là nữ quỷ đêm rằm tháng trước họ từng đối mặt. Hôm nay, bà ta dẫn theo một đứa con gái nhỏ, răng nanh đã dài hơn đốt ngón út. Phía sau lưng họ, cái bóng đen cao lớn, mắt đỏ rực máu vẫn đứng chờ. Âm khí cuồn cuộn bủa vây bốn phía.
Ông thầy nói nhỏ:
“Còn những oan hồn khác, không phải chỉ có hai mẹ con nữ quỷ kia đâu. Cái bóng đen kia là người bị quan Tây giết. Nó chết thê thảm, xác không chôn, hoặc bị vùi ở bãi lầy cạnh đó, nên oán khí rất nặng, không nói được, người ta gọi là quỷ trói lưỡi. Con quỷ đó chuyên ăn hồn người khác. Chính nó mới là “bóng quỷ” mà ông được nghe kể.”
Khi ông thầy vừa dứt lời, gió từ giữa cồn ào lên từng cơn lạnh buốt, làm tắt ngọn đèn măng-sông, hất tung cả mâm cúng. Cát sình bị gió quật tung, phủ đầy xương mới đào lên. Hai mẹ con nữ quỷ đứng im, nhưng cái bóng đen sau lưng họ bắt đầu chuyển động, từng bước nặng nề, mắt đỏ rực.
“Đừng để nó tới gần!”.
Ông thầy hô lớn, vung kiếm gỗ múa một bài quyền trong khi miệng vẫn không ngừng đọc chú. Bóng đen gào lên một tiếng như bị xé họng. Đó không phải tiếng người, cũng không phải tiếng thú, mà là thứ âm thanh quỷ dị, khiến tóc tai dựng đứng. Nó giơ tay chộp lấy ông Sáu Lẫm.
Trong tích tắc, ông Sáu Lẫm giằng lấy bó đuốc đang cháy dở gần mâm cúng. Không nói một lời, ông đá cho mấy bình rượu trắng lớn bể tan. Ông thầy chưa kịp cản thì ngọn đuốc đã rơi ngay vào vũng rượu đang từ từ loang ra đất.
“Tôi cho mấy người cái mạng của tui, tha cho dân làng đi... Đừng hại thêm ai nữa...”
Tiếng ông Sáu Lẫm bị lấp trong ngọn lửa đang bùng lên cuồn cuộn, trước đôi mắt mở to kinh hoàng của ông thầy. Mất gần phút, ông thầy mới hoàn hồn, nhào tới kéo ông Sáu Lẫm ra, nhưng đã muộn. Gió từ bốn bề nổi lên như một cơn cuồng phong, ngọn lửa liếm cao cả mấy thước. Trong ánh lửa, ông thầy thấy cái bóng ông Sáu quỳ gối, hai tay giơ cao như đang dâng lễ vật.
Đêm ấy, cả làng Tân Xuyên nhìn thấy lửa cháy rực giữa cồn, đỏ một khúc trời, nhưng không ai dám chèo xuồng ra. Nửa đêm, ông thầy lết về được tới bờ sông, mặt thất thần, nói không thành tiếng. Đến giờ Dần, dân làng sốt ruột kéo nhau ra cồn. Người ta chỉ còn tìm được một bãi tro tàn, trong đó, có một khối đen hình dáng như con người đang quỳ cạnh nền miếu cũ. Trên nền đất phủ tro, có một chiếc nhẫn bạc, một chuỗi hạt gỗ trầm đã cháy dở và cái đèn dầu cong queo vì sức nóng. Tất cả đều là những vật dụng của ông Sáu Lẫm.
Từ sau bữa đó, miễu Hà Bá được ông bà hội đồng Vĩnh phát tâm tu sửa lại, đặt thêm bàn thờ ông Sáu Lẫm bên cạnh. Cái cồn bị cháy trở nên im vắng lạ thường, nhưng qua vài mùa mưa thì cây cối đã phủ xanh um. Làng Tân Xuyên, và làng An Thới không còn người chết trôi, cũng không còn tiếng gào nửa đêm. Dường như mạng của ông Sáu Lẫm đã đổi được bình yên cho dân hai làng.
Đôi khi, trong những dịp giỗ chạp, người làng lại nhắc về cái chết của ông Sáu Lẫm. Không ai rõ tại sao ông lại chọn tự hỏa thiêu mình. Người thì nói ông bị ma quỷ khiến; người lại cho là ông đã chuẩn bị từ trước, vì mang theo nhiều rượu vậy là có ý rồi. Họ ngậm ngùi nói ông Sáu Lẫm là người hiền lành, tốt bụng nhất chợ chồm hổm đầu làng, vì đã chọn hiến tế mạng sống để dân làng được bình an. Bà hội đồng Vĩnh thắp nhang cho ông Sáu Lẫm hôm miễu Hà Bá được tu bổ lại, cũng từng nói với người làng là ông lựa chọn vậy có lẽ vì không muốn phải sống cả đời trong nỗi ám ảnh mất mát Út Hường, và bà Liễu.
Người ta nói ra nói vô đủ chuyện, nhưng chỉ có ông thầy là biết rõ, ông Sáu Lẫm làm vậy là muốn chấm dứt nỗi ân hận vì đã giúp sức cho những người phá miếu, gieo nghiệp ác. Đó là cách ông chọn để trả nợ trần ai.
Những luống rau má lại mọc xanh trên bãi bồi, chim lại bay về hót líu lo trên cành bần, và tiếng rao chè đậu ván của người mới thế chỗ bà Tám Lự lại rộn ràng khắp chợ chồm hổm mỗi sáng. Người trong chợ đồn rằng, đêm rằm sau ngày ông Sáu mất, có người thấy một bóng người mặc áo bà ba cũ kỹ, cổ quàng cái khăn rằn cháy xém, tay cầm đèn dầu đứng bên đám bần nhìn vào đầu chợ, nơi có chiếc xe gỗ bày quạt nan, giỏ đệm vẫn nằm chỏng trơ từ dạo Út Hường mất. Bóng người ấy cứ đứng tới khi gà gáy sáng thì biến mất.
Còn cái bóng đen cao lớn, từng gieo sợ hãi xuống làng, thì từ đó không ai còn nhìn thấy. Có lẽ nó đã được quan sai cõi âm phủ dẫn đi. Oán hận từng đè nặng Cồn Gió suốt bao năm có lẽ cuối cùng cũng được gột rửa bởi tấm lòng ăn năn thật sự của một người./.