Tới ngày thứ năm, tờ mờ sáng, có người đi đánh cá phát hiện xác cậu Ba Cường dạt lên mép cồn, bị lấp nửa thân trong bùn sình.
Cả làng náo loạn. Bà hội đồng Vĩnh gào khóc đến ngất lịm đi, phải kêu đốc-tờ tới thăm khám. Ông hội đồng Vĩnh á khẩu từ khi thấy người ta kéo xác con trai lên bờ. Xác cậu Ba Cường còn nguyên bộ đồ trắng, nhưng kỳ lạ là dù mặt cậu xám ngoét, trương phình, nhưng lòng bàn tay lại rướm máu tươi, như mới cào cấu đất cát ra khỏi chỗ vùi.
Đám tang diễn ra trong không khí nặng như chì. Bà hội đồng kêu khóc thảm thiết, miệng cứ lặp đi lặp lại:
“Con ơi… con ơi, sao con bỏ má…”
Thầy pháp mới họ Trịnh, người gốc Hoa kiều, được bạn cậu Hai Long đưa về làm pháp sự, sau khi khấn vái trước mộ, chỉ nói đúng một câu:
“Cái xác về rồi, nhưng cái hồn… thì chưa đâu.”
Câu nói như lưỡi dao lạnh, cứa vô tim cả đám người đứng xem.
…
Chuyện chưa kịp nguôi ngoai, cậu Ba Cường chưa qua bốn mươi chín ngày thì làng Tân Xuyên lại xảy ra chuyện. Rằm tháng sau, Út Hường, con gái ông Sáu Lẫm, cũng mất tích. Hôm đó, Út Hường cãi lời cha, chạng vạng chèo xuồng ra giữa sông để đưa mớ hàng xuống chợ huyện, rồi không ai còn thấy cô trở về.
Cũng giống như vụ cậu Ba Cường, chiếc xuồng cũng như bị dán vào mặt sông ngay chỗ cũ, không sao kéo vào bờ được. Lần này, ông Sáu Lẫm tự tay bày lễ, và lội ra xuồng. Trên xuồng còn nguyên mấy trái mận chín, đôi guốc gỗ mòn mất một bên, nhưng tuyệt nhiên không thấy mấy trăm cái quạt nan mà Út Hường mang theo. Mọi thứ im ắng quá, như thể Út Hường bị tan biến mất.
Dân làng bắt đầu lo sợ. Lại một người nữa mất tích. Mà lại ngay đúng chỗ đó, thì chắc là lành ít dữ nhiều. Ông Sáu Lẫm không khóc, mắt đỏ hoe, chứa đầy những tia thù hận khi nhìn ra cồn. Nửa đêm, ông Sáu Lẫm châm lửa đốt xuồng sau khi thét lên lạc cả giọng:
“Đồ ma quỷ, mày trả xác con gái tao lại đây. Tao dù còn chút hơi tàn, cũng quyết đổi mạng để trừ cho được mày.”
Ông Sáu Lẫm la hét vang động khúc sông, bà Liễu, người tri kỷ của ông, người tự tay chăm sóc Út Hường mười mấy năm nay, dù khóc sưng mặt, vẫn phải cùng dân làng ra dìu ông vào nhà. Họ đổ nước gừng vào miệng ông Sáu Lẫm để ông định thần lại, rồi an ủi, khuyên lơn suốt đêm.
Sáng hôm sau, xác Út Hường không dạt vào cồn như cậu Ba Cường, mà dạt hẳn vào đám bần cách bờ có mấy bước. Ông Sáu Lẫm nhìn con gái, lầm rầm đọc chú hay cầu nguyện gì thì không ai biết, nhưng sau khi đưa con ra đồng chôn cất, ông mang tay nải đến thẳng dinh thự ông hội đồng Vĩnh.
“Bẩm, tui có chuyện muốn thưa. Ông có thể cho tui mượn cái máy hình của cậu Ba Cường được không?”
“Hình như nó được chôn theo thằng Cường rồi.”
Ông Sáu Lẫm lặng đi một lúc, ánh mắt đầy thất vọng. Đúng lúc đó, cậu Hai Long từ nhà dưới đi lên, nghe được câu ông hội đồng Vĩnh nói liền lên tiếng:
“Ba, mẹ đang giữ cái máy chụp hình đó. Mẹ muốn giữ lại kỷ vật cuối cùng của em con.”
Nói đến đó, cậu Hai Long dẫn ông Sáu Lẫm ra vườn gặp bà hội đồng Vĩnh. Từ sau đám tang con trai út, bà hội đồng thần trí không tỉnh táo, thường bỏ bữa, và ngồi ủ rũ hàng giờ ở vườn sau. Nhìn thấy cảnh đó, ông Sáu Lẫm như thấy nỗi đau trong lòng mình được san sẻ bớt.
“Ông lấy nó đi luôn thì sao?”
“Bẩm bà, tui chỉ muốn mượn một thời gian để đem cho một người thầy của tui xem, không chừng còn chút manh mối quan trọng.”
“Ông có tìm được con quỷ đó thì con tôi cũng chết rồi, đâu có sống lại được nữa?”
“Phải, có tìm được con quỷ đó thì con Út Hường con tui cũng chết rồi. Nhưng thà tui chết để không còn ai bị chết oan như cậu Ba Cường với con gái tui, chứ thêm ai chết nữa thì cái làng này sẽ không bao giờ được yên ổn. Bà cũng đâu muốn vậy phải không?”
Bà hội đồng nhìn ông Sáu Lẫm, nước mắt lăn dài trên má, một lúc lâu thì bà gật đầu, chỉ tay về phía phòng riêng. Cậu Hai Long thấy vậy chạy ngay vào lấy cái máy chụp hình đem ra.
Chiều đó, ông Sáu Lẫm quá giang ghe mắm đi Cần Thơ tìm người thầy cũ.
…
Dưới ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn dầu, ông Sáu Lẫm giữ chặt cái máy chụp hình của cậu Ba Cường trong tay. Cái máy chụp hình còn mới, nhưng vỏ da ẩm ướt và bong tróc, dù trên ống kính không có vết xước nào. Suốt đêm, ông Sáu Lẫm tự nói với mình, nếu chiếc máy này có thể ghi lại được một thứ gì đó trong đêm hôm ấy, thì có lẽ nó chính là chìa khóa giải đáp cho cái chết của cậu Ba Cường và những bí ẩn mà dân làng không biết.
Thầy của ông Sáu Lẫm là một ông già râu tóc bạc phơ, khi nhận chiếc máy chụp hình từ tay học trò, ánh mắt ông lập tức trở nên nghiêm nghị. Đặt chiếc máy xuống bàn, rồi lấy tay sờ vào ống kính, miệng lầm rầm đọc những lời chú lạ lùng. Không khí trong phòng có chút xáo động, khiến da gà của ông Sáu Lẫm nổi lên từng mảng. Ông thầy nghiêm mặt, nói:
“Cái máy này có tà khí. Còn cuộn phim phải không?”
Ông Sáu Lẫm cảm thấy trái tim mình như bị một bàn tay vô hình bóp chặt, giọng trở nên run rẩy:
“Dạ, con đã nhờ người quen rửa hình, nhưng họ bảo phim hư hại nhiều, cần thời gian kiểm tra. Trưa mai, nếu có, họ sẽ đem tới.”
“Không hiểu sao, ta cứ cảm thấy có một thứ, giống một đôi mắt đỏ như lửa, khi sờ vô cái ống kính…”
Những lời của ông thầy khiến ông Sáu Lẫm bất an. Một khoảng lặng bao trùm căn phòng, cho đến khi ông thầy tiếp tục:
“Ta nghĩ cậu Ba Cường hình như đã gặp một con quỷ, và bị nó bắt mất hồn…”
Ông Sáu Lẫm siết chặt tay lại, mồ hôi lạnh đổ ra. Ông đã sống đủ lâu để biết rằng có những điều không thể nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng lại có thể cảm nhận bằng linh giác.
“Có cách nào để trấn nó không thầy?”.
Ông thầy im lặng một lúc lâu, rồi chậm rãi đáp:
“Cách duy nhất là phải tìm được nguồn gốc của nó. Phải đến nơi nó bắt đầu. Nếu không… nó sẽ tiếp tục quay lại, và lần này, có thể không chỉ là cậu Ba Cường và con gái ông đâu.”
Ông Sáu Lẫm quay đầu nhìn ra ngoài cửa sổ, ngoài kia, mặt nước sông Cái vẫn lặng lẽ trôi. Sự bình yên ấy có thể dễ dàng đánh lừa con mắt, nhưng trong lòng ông, không thể nào xóa nhòa được cái cảm giác u ám đang dần chiếm lĩnh.
Có tiếng gà râm ran gáy trong xóm. Ngoài sân, gió từ sông thổi vô, xào xạc trong bụi trâm bầu. Đèn đã gần cạn dầu, cứ chập chờn. Ông thầy đột nhiên nói:
“Tự dưng tao nhớ lại một chuyện. Có một lần… hồi tao còn trẻ, theo chân thầy Bảy Chùa đi xuống miệt rạch Cái Nhum. Đêm đó tụi tao ngủ lại trong cái am hoang gần bãi đất bồi, nơi mà dân vùng gọi là “cồn Mả Giấu”. Gần nửa đêm, nghe tiếng nước rút ào ào, tao tò mò lén ra nhìn, chỉ thấy một cái bóng đen, cao hơn người thường đi trên nước về phía bãi bồi. Thầy Bảy kêu tao quay vô liền, nói đó là “bóng của oan hồn bị trói lưỡi”, chết oan không nói được, không siêu thoát, oán khí nhiều nên rất tà ác, lấy mạng người dễ như không.”
Ông Sáu Lẫm nuốt khan, trong lòng nặng như có đá đè.
“Thầy kể làm tui nhớ hồi tui còn nhỏ, cũng nghe bà già kể lại, cái cồn giữa sông đó từng là chỗ chôn người. Quan ba Pháp xử bắn mấy người đào ngũ. Họ bị trói, bị bắn giữa sình, xác không ai dám vớt, tới mùa nước nổi lại trồi lên. Có người nói lúc trăng tròn, thấy họ đứng xếp hàng trong màn sương…”
Ông thầy gật đầu:
“Tao nghi là cái bóng quỷ trong máy ảnh cũng từ chỗ đó mà ra. Tụi bay khơi chuyện làm nó dậy, nó mới đeo theo. Cái máy ảnh của cậu Ba Cường chẳng khác nào cái gương âm, nó bắt lấy hình, rồi mở đường cho thứ bị giam giữ trồi lên.”
Ông Sáu Lẫm thở dài, rồi như lấy hết can đảm, nói:
“Thầy có dám đi với tui không? Mình tới đó một chuyến. Có chết cũng phải biết được cái thứ gì đang ám làng Tân Xuyên…”
Ông thầy nhìn ông Sáu Lẫm, ánh mắt lo lắng lẫn khâm phục:
“Tới đó, không phải chỉ để coi chơi, nên mình phải chuẩn bị kỹ càng. Tui nhắc trước là không được gọi tên nhau khi ở trên cồn, và cũng không được để máu nhỏ xuống đất.”
Ông Sáu Lẫm gật đầu, không chút do dự.
“Bao giờ?”
“Đợi trăng tròn. Đêm rằm này… khi nước sông Cái dâng lên cao nhất.”
…
Chỗ thân quen với ông Sáu Lẫm nói trưa hôm sau nếu rửa được hình sẽ mang tới, nhưng mới nửa buổi sáng đã thấy họ hớt hơ hớt hải chạy vô nhà ông thầy, mặt cắt không còn chút máu, tay run bần bật thả mấy tấm hình lên mặt bàn trà.
“Ông Sáu, tui thấy mấy cái hình ghê quá nên mang qua đây liền để ông coi.”
Trước mặt ba người đàn ông là tấm hình chụp một bóng đen khổng lồ với đôi mắt đỏ. Có cảm giác như cái bóng đang bước xuyên qua đống lửa lớn. Mấy tấm còn lại hình ảnh rất mờ, nhưng không hiểu sao đôi mắt đỏ rực, tà ác lại hiện lên vô cùng rõ ràng, sống động.