Ngay khi được dân làng báo tin, ông bà hội đồng Vĩnh đã sai người chạy trước ra chỗ chiếc Peugeot đậu, vài gia nhân thân tín còn đứng nán lại trên bờ nhìn ra cái xuồng của ông Sáu Lẫm dập dềnh một chỗ trên sóng nước.
Dân làng kéo đến ngày một đông. Khi ông bà hội đồng Vĩnh ra được đến chỗ bờ sông thì hầu như cả làng Tân Xuyên đều đang ở đó. Vừa xuống xe, hai người họ, một người thì khóc lóc thảm thiết, một người thì quát thét gia nhân lội xung quanh kiếm cậu Ba Cường, không khí vừa căng thẳng, lại vừa náo động.
Tới gần trưa, vẫn không tìm thấy gì, trong khi cái xuồng cứ đứng im một chỗ, dù nước triều lớn; người làng mới nói với nhau, việc chắc liên quan đến cái “bóng quỷ” ở Cồn Gió rồi, phải mời thầy pháp họa may còn tìm hay cứu được. Dù là dân Tây học, ông hội đồng Vĩnh vẫn không thể bỏ qua cơ hội cứu con trai, nên lập tức nhờ quản gia đi mời thầy Tư Ngó, thầy pháp nổi tiếng nhất Cù Lao Cạn, phía làng An Thới.
Thầy Tư Ngó tới, làm lễ, rải bột, thả bùa, đốt giấy tiền vàng mã, nhưng chiếc xuồng của ông Sáu Lẫm vẫn lững lờ ngoài xa, không sao dắt vô bờ được. Hễ xuồng ghe nào chèo đến gần, thì mái chèo gãy, hoặc người chèo té nhào xuống nước như bị ai đó xô ngang một cách lạ lùng.
Đến giờ mùi, thấy vẫn không có kết quả, ông Sáu Lẫm mới nhìn qua vợ chồng ông hội đồng Vĩnh, chắp tay thưa:
“Bẩm ông, tôi từng nghe có người nói, muốn xuồng bị ma bắt cập bến, phải mang bánh trái, hoa quả lên chỗ miếu Hà Bá, hay miếu Thần Hoàng làng xin thỉnh một lá bùa lệnh, rồi về đặt lên mâm cùng 12 chén cháo loãng đẩy ra giữa dòng.”
Đến nước này thì không tin cũng phải tin, bà hội đồng mắt đỏ hoe tất tả cùng đám gia nhân chạy bổ đi chuẩn bị đồ cúng kiếng.
Quả nhiên, khi chiếc mâm lễ vật đẩy ra giữa dòng được một lúc, thì liền có phản ứng. Nước sông như bị khuấy lên, đục ngầu. Mâm lễ quay ngược chiều kim đồng hồ, lúc đầu còn chậm, sau nhanh dần, khiến người trong bờ sợ xanh mặt.
Trời chưa kịp chạng vạng bỗng sầm xuống tối đen, đuốc được thắp sáng trưng một đoạn sông Cái. Cả làng căng mắt nhìn chiếc mâm lễ xoay xoay một cách ma quái trên mặt sông.
Xoay được một lúc, hai cây nến đỏ được cắm trên chiếc mâm lễ đột nhiên cùng tắt, mâm ngưng không xoay nữa, cứ thế dập dềnh gần cả khắc, rồi mới từ từ trôi lại vào bờ. Như có một sợi dây vô hình, chiếc xuồng cũng chầm chậm trôi theo.
Cả làng nổi da gà, bà hội đồng gào khóc thảm thiết:
“Con ơi…con ơi.. con ở đâu, về với má...”
Ông hội đồng Vĩnh, cùng cậu Hai Long, con cả của ông, mặt xám chì, hoảng hốt, bất lực nhìn những gì đang diễn ra.
…
Khi chiếc xuồng còn cách bờ chừng hai chục bước chân thì nó ngưng không trôi nữa. Một lớp sương mờ mờ toả ra quanh thân xuồng, mỏng tang như khói thuốc, không khí phảng phất mùi tanh tanh như cá ươn. Mọi người im phăng phắc.
Vài gã to khỏe trong đám gia nhân của ông bà hội đồng Vĩnh dợm lội xuống kéo xuồng vô, thì tự dưng con chó mực nhà ông Sáu Lẫm dựng đứng hai chân trước, mắt trợn tròn nhìn ra chỗ chiếc xuồng. Nó không sủa, chỉ tru lên một tiếng dài rợn óc, rồi quay ngoắt lại, chạy thục mạng về hướng miễu Hà Bá. Mấy người đàn ông đứng gần đó còn thấy nó va vào cái lu nước đặt trước miễu ngã sóng soãi.
Thấy con chó mực sợ hãi chạy trốn, đám người trên bờ tụt nhuệ khí, đứng chôn chân tại chỗ, không ai dám bước xuống nước nữa. Ông bà hội đồng Vĩnh mặt mày tái mét, run lẩy bẩy, nép vào nhau. Cậu Hai Long miệng mấp máy như muốn nói gì đó, nhưng mãi vẫn không phát được thành tiếng.
Ông thầy Tư Ngó đã ra về, sau màn trấn yểm và gọi hồn thất bại. Giờ chỉ còn mỗi ông Sáu Lẫm là còn bình tĩnh. Thấy ai cũng sợ, ông từ từ bước tới, tay cầm nhánh ngải khô cháy sém đã chuẩn bị từ trước, miệng lâm râm niệm gì đó, rồi thận trọng lội ra khoảng nước sâu gần ngang ngực. Ông hội đồng Vĩnh thấy vậy quát hai đứa người làm lớn xác nhất cầm đuốc lội theo.
Khi ông Sáu Lẫm vừa chạm tay lên đầu xuồng, một luồng gió lạnh thốc ngược từ mặt nước lên, khiến mấy ngọn đuốc chập chờn như muốn tắt. Chồm người vào khoang xuồng, ông Sáu Lẫm nhặt lấy cái máy chụp hình của cậu Ba Cường, lúc này đã không còn có vẻ gì là vật mới mua, vỏ da đã ướt nhẹp, dây đeo rũ xuống, nút bấm còn dính chút bùn sình lẫn rêu. Khi hai người làm đưa đuốc lại gần, ông Sáu Lẫm nhíu mày, tay trái siết chặt cán ngải, hết nhìn cái máy chụp hình, rồi lại nhìn vào lòng xuồng với hai vỏ rượu Tây rỗng. Sau độ hai ba phút, ông quay lại nhìn ông hội đồng Vĩnh, giọng khản đục:
“Còn cái máy ảnh, với hai chai rượu không. Xuồng không có xác.”
Câu nói như giọt nước rơi xuống giữa chảo dầu đang sôi. Bà hội đồng ngất xỉu tại chỗ. Mấy người đàn bà trong xóm lấy áo che miệng khóc rấm rứt.
Ông hội đồng gập người lại như bị đấm vào bụng, hai mắt trũng sâu, lạc thần. Cậu Hai Long mặt xanh lét hối đám người làm dìu ba má lên xe, giữa tiếng ồn ào chen với tiếng niệm Phật râm ran của mấy người già trên bờ.
Suốt đêm hôm đó, dinh thự của ông bà hội đồng Vĩnh đèn đuốc sáng rực, chộn rộn, tiếng chân đi, tiếng khóc, tiếng thì thào cứ chốc chốc lại rộ lên, đầy bất an. Dân làng Tân Xuyên cũng không ngủ được.
Ngày thứ ba sau vụ mất tích, nước sông Cái chuyển màu đục ngầu. Dân làng ai cũng đồn râm ran: “Cậu Ba Cường bị “bóng quỷ” bắt rồi, chớ hổng phải mất tích đâu.”. Ông hội đồng Vĩnh cho người ban ngày lùng sục khắp lượt quanh cồn đến bãi, thậm chí thuê thêm thầy pháp từ miệt Trà Ôn về cúng vái, gọi hồn, mà vẫn bặt vô âm tín.