Ngoài ngõ đột nhiên có tiếng người chạy.
Lộc nhanh tay gấp thư, nhét vào bên trong áo. Nhã vừa đậy chiếc hộp thì cánh cổng bị đẩy mạnh. Ông Hựu cùng năm người đàn ông bước vào sân. Những người được cắt cử đứng ngoài ngõ đi theo phía sau.
Ông Hựu nhìn viên ngói đen nằm dưới đất rồi nhìn lên chỗ mái bị trống. Sau đó, ông mới để ý đến chiếc hộp sắt Nhã đang giữ trước ngực.
“Tôi đã dặn không được tháo ngói xuống.”
“Con chó tự đẩy nó xuống,” Nhã đáp.
“Hộp này là sao?”
“Của cha cháu. Ông đã viết lại toàn bộ chuyện năm 1944 và chuyện mẹ cháu.”
Ông Hựu bước tới.
“Đưa cho tôi.”
“Ông đã đưa mẹ cháu đến miếu phải không?”
“Cha cô mê sảng trước lúc chết, viết gì cũng không thể tin.”
“Ông chưa đọc mà đã biết cha cháu viết lúc sắp chết sao?”
Ông Hựu không trả lời. Ông ra hiệu cho hai người đi theo giữ lấy Nhã. Lộc xông vào ngăn nhưng bị một người dùng cán cuốc đánh vào vai. Anh ngã xuống cạnh bậc cửa.
Bà Trầm vội ôm lấy chân ông Hựu.
“Đừng bắt con Nhã. Nhà tôi đã mất hai người rồi.”
Ông cúi xuống gỡ tay bà.
“Nếu đêm nay không làm lễ, đến sáng cả bảy nhà đều gặp nạn.”
“Các ông đã nói câu đó năm 1980.”
“Nhờ vậy làng mới yên được mười hai năm.”
Nhã vùng khỏi tay người đang giữ mình.
“Tùng cũng đã chết. Ông còn muốn lấy mạng ai?”
Ông Hựu nhìn cô, giọng nhỏ xuống:
“Thằng Tùng không được ghi tên ở miếu. Cái chết của nó không tính.”
Câu nói tàn nhẫn khiến mọi người xung quanh tái mặt, nhưng không ai dám lên tiếng.
Ông Hựu sai người lấy hai mảnh ngói trong chậu cùng viên ngói vừa rơi trên mái. Chiếc hộp sắt bị giật khỏi tay Nhã. Ông mở ra, thấy bên trong chỉ còn quyển sổ mỏng và tấm ảnh. Ông quay sang nhìn Lộc, nhưng anh vẫn nằm dưới đất, một tay ôm vai.
Hai người đàn ông trói hai tay Nhã bằng dây vải. Bà Trầm nhất định đi theo, không ai ngăn được. Họ rời khỏi nhà bằng cổng hông rồi đi về phía miếu Cửa Nước.
Đêm rằm sáng rõ. Dọc đường, Nhã nhìn thấy bốn nhóm người từ những ngõ khác lần lượt nhập vào đoàn. Mỗi nhóm mang theo một chiếc bao tải nhỏ. Nước đen rỉ từ đáy bao xuống đường.
Năm viên ngói còn lại đã được tháo khỏi mái của bốn căn nhà và nhà ông Hựu.
Khi đoàn người đến miếu, bệ đá trước cửa trống không. Chỉ còn hai vũng nước dưới vị trí hai chân sau và một lỗ tròn do đầu gậy để lại.
Ông Hựu cho đặt bảy viên ngói thành một vòng tròn giữa sân. Nhã bị trói vào cây cột trước cửa miếu. Bà Trầm ngồi bên ngoài vòng ngói, hai người đàn ông canh giữ phía sau.
Những người thuộc bảy gia đình đứng thành hàng. Không ai nhìn thẳng vào Nhã. Có người lẩm nhẩm khấn, có người liên tục lau mồ hôi dù gió từ sông thổi lên khá lạnh.
Ông Hựu lấy trong miếu ra một quyển sổ bọc vải đỏ. Nhã hiểu đó là cuốn sổ cha cô đã nhắc đến, cũng hiểu đây là nghi thức đã được họ làm nhiều lần.
“Mỗi nhà đã đưa đủ ngói,” ông nói. “Chỉ cần hoàn thành việc cuối cùng, sáng mai mọi thứ sẽ trở về như cũ.”
“Về như cũ? Vậy ông định giết tôi thế nào?” Nhã gằn giọng hỏi, mắt lộ rõ vẻ căm ghét.
Không ai đáp.
Phía sau bệ đá có một tấm đan đúc bằng xi măng, nặng và dày, thường ngày ẩn dưới lớp đất bụi và lá cây, nên chẳng ai nhận thấy. Hai người đàn ông to lớn nhất trong đám người cố sức bẩy tấm đan lên. Vì nặng, nên họ làm rất vất vả. Mất gần hai mươi phút, tấm đan mới di chuyển được qua một bên, để lộ một miệng hố đen ngòm. Mùi đất ẩm và nước cũ từ dưới bốc lên.
Bà Trầm vừa ngửi thấy đã òa khóc.
“Con Bích ở dưới đó…”
Ông Hựu giở cuốn sổ, tìm đến trang giữa, và bắt đầu đọc:
“Nhà Đỗ Văn Nơm: hai trăm ngói, một bộ ấm cổ…
Nhà Lưu An: hai trăm rưỡi ngói, một cây kèo gỗ lim…”
Nhã kinh hoàng nhận ra tội lỗi của bảy nhà hôi của trong trận lũ năm xưa đang được liệt kê ra.
“Cha ông mấy người đều là người ác. Mấy người cũng vậy!”
“Câm miệng. Ông nội cô cũng tham gia đó.”
Ông Hựu mặt đỏ gay quát Nhã. Ngay lúc ấy, Nhã mới nhận ra nhà mình cũng có “viên ngói oan hồn”. Cô đưa mắt nhìn về phía bà Trầm, giàn giụa nước mắt:
“Nhà mình cũng là người ác hả bà?”
Bà Trầm khóc lớn, tay đấm ngực, miệng ngoác mãi mà không nói được tiếng nào.
Hóa ra, quyển sổ không bị tiêu hủy, vì mỗi lần làm nghi lễ “tế người”, những kẻ gây tội, và sau này là con cháu họ, phải đọc lại từng tội ác đã gây ra như một cách sám hối trước những oan hồn bị giam trong ngói, và người “bị tế” thường là người có liên quan, hay con cháu của bảy nhà.
Giọng ông Hựu lại vang lên:
“Người được chọn sẽ được ghi tên rồi đặt dưới bệ đá. Ông Lâm, viết tên con Nhã vô giấy đi, nó là đứa duy nhất thấy con chó trên mái, và dám trèo tường qua nhà ông Lễ.”
“Mấy người không có quyền định đoạt sự sống của tôi!”, Nhã gào lên.
Bà Trầm gào khóc, té sõng soài ra đất:
“Ông Hựu, ông… tha cho con bé đi. Thằng… thằng Tùng vừa mới mất mà…?!”
Ông Hựu khựng lại. Người đàn ông tên Lâm lấy một tờ giấy tập ra, nhưng chưa kịp viết gì thì từ trên mái miếu vang xuống một tiếng gậy.
“Cộc!”
Mọi người cùng ngẩng lên.
“Cộc… cộc…”
Chiếc nón lá nhô lên sau nóc miếu. Tấm áo tơi ướt kéo qua hàng ngói, phát ra tiếng sột soạt quen thuộc.
Chó đá đã trở về.