Khi hai người về nhà, trời đã xế chiều. Lộc mang theo thang và bộ đồ nghề, định trèo lên lấy viên ngói trước khi trăng mọc. Nhưng ông Hựu đã cho ba người trong họ đứng ngoài ngõ. Họ không gây chuyện, chỉ nói trưởng họ dặn không ai được đụng vào mái nhà trong ngày rằm.
Nhã định cãi nhưng bà Trầm kéo cô vào.
“Đợi đêm nay,” Bà nói. “Nếu nó thật sự đến tìm ngói, nó sẽ đến đúng chỗ.”
“Bà không sợ sao?”
“Bà sợ từ năm 1980 đến giờ rồi. Sợ thêm cũng chẳng thay đổi được gì.”
Trời tối, Lộc ở lại gian ngoài. Hai mảnh ngói đen được đặt trong chậu nhôm, phủ kín bằng bao tải. Dù đã bọc kỹ, nước vẫn rỉ ra, mỗi lúc một nhiều. Đến khoảng mười giờ, nước tràn khỏi miệng chậu, chảy thành một dòng nhỏ hướng về phía bàn thờ.
Không ai bảo ai, cả ba cùng nhìn theo.
Dòng nước bò qua nền gạch, đến chân bàn thờ thì dừng lại. Trên mặt nước hiện lên từng vòng tròn nhỏ, như phía trên đang có mưa rơi xuống.
Ngoài sân, tiếng đầu gậy chạm lên mái.
“Cộc… cộc… cộc…”
Bà Trầm tắt đèn.
Nhã và Lộc ra sân hông, đứng cạnh giếng nước. Trăng rằm sáng rõ, cả mái nhà hiện lên trước mắt.
Con chó từ phía mái bếp bước lên. Nó vẫn đi thẳng bằng hai chân, chống cây gậy dài và mặc tấm áo tơi ướt sũng. Nhưng đêm nay trên đầu nó không còn là chiếc nón vá chỉ xanh của mẹ Nhã.
Nó đội chiếc mũ cối cũ của cha cô.
Nhã nhận ra chiếc quai da đã đứt một bên. Đó là chiếc mũ cha vẫn treo cạnh bàn làm việc khi còn sống.
Con chó đá không nhìn về phía buồng Tùng. Nó chống gậy đi thẳng đến phần mái phía trên gian thờ rồi dừng lại. Hai chân sau đứng đúng trên hai viên ngói cạnh nhau. Đầu gậy gõ xuống sống mái ba lần.
“Cộc! Cộc! Cộc!”
Sau đó, nó cúi người, dùng chân trước còn lại cào vào hàng ngói phía dưới.
Một viên ngói đen từ từ trồi lên giữa mái, như có bàn tay ở bên dưới đang đẩy.
Cùng lúc đó, từ trong đầu Nhã ong ong có tiếng thì thầm:
“Đừng tháo viên ngói đó.”
5.
Giọng nói trong đầu Nhã lặp lại lần nữa:
“Đừng tháo ra…”
Nhã nhận ra đúng giọng cha mình. Khi còn sống, ông ít nói lớn tiếng, mỗi lần gọi con thường kéo dài chữ cuối. Giọng vừa rồi cũng như vậy, rõ đến mức cô nghĩ chỉ cần bước qua cửa sẽ thấy cha đang ngồi trước bàn thờ như ngày trước.
Lộc không nghe thấy, nhưng anh lo lắng khi thấy vẻ hoảng loạn trên mặt Nhã.
“Thấy gì hả?”
Nhã gật đầu.
Trên mái, con chó đá vẫn đứng yên. Chiếc mũ cối của cha cô che gần hết khuôn mặt nó. Một chân trước chống gậy, chân còn lại đặt trên viên ngói đen vừa trồi lên.
Bà Trầm từ trong nhà chạy ra, lạc giọng hỏi:
“Trí, con còn ở đó phải không?”
Tri là tên cha Nhã. Không có tiếng trả lời.
Con chó đá giơ cây gậy lên rồi nện xuống bên cạnh viên ngói.
“Cộc!”
Hàng ngói rung mạnh. Viên ngói đen bật khỏi chỗ, trượt theo mái xuống sân hông. Lộc vội kéo Nhã tránh sang một bên. Viên ngói rơi xuống nền gạch nhưng không vỡ, chỉ phát ra một tiếng nặng như đá rơi.
Ngay sau đó, con chó quay về phía miếu Cửa Nước. Nó chống gậy bước khỏi mép mái, đi thẳng trên khoảng không phía trên những ngọn tre. Tấm áo tơi kéo phía sau, nước nhỏ xuống lấp lánh dưới trăng. Chỉ trong chốc lát, nó đã khuất sau cây gạo cuối làng.
“Nó về miếu rồi,” bà Trầm nói.
Lộc dựng chiếc thang vào đầu hồi, trèo lên chỗ viên ngói vừa rời khỏi mái. Anh soi đèn pin vào khoảng trống rồi gọi Nhã lấy giúp chiếc kìm. Dưới thanh mè có một hộp sắt nhỏ được buộc bằng dây thép, bên ngoài bọc hai lớp nilon và một mảnh vải dầu.
Anh cắt dây, mang chiếc hộp xuống.
Nắp hộp đã gỉ nhưng bên trong vẫn khô. Có một quyển sổ mỏng, vài tờ giấy viết tay và tấm ảnh đen trắng chụp bảy người đàn ông đứng bên một cánh cống to bằng gỗ tấm. Phía sau họ là hình dáng mờ mờ của một người đàn ông mặc áo tơi, đầu đội nón lá. Dưới chân ông có một con chó nhỏ.
Nhã lật mặt sau tấm ảnh. Có một hàng chữ đã nhòe:
“Xóm Bãi Dâu, 1944.”
Mấy tờ giấy trong hộp là thư của cha Nhã. Lá thư không đề tên người nhận, chỉ ghi ngày viết vào đầu năm 1989, vài tháng trước khi ông mất.
Nhã mang đèn lại gần rồi đọc:
“Nếu người trong nhà tìm được những dòng này, có lẽ chó đá đã trở lại. Việc xảy ra ở xóm Bãi Dâu không phải tai nạn như lời các cụ kể. Đêm nước lớn năm 1944, bảy người đã khóa cống để giữ kho thóc và ruộng phía trong làng. Nước không thoát được, dồn hết về Bãi Dâu. Mười ba người của bảy nhà trong xóm đã chết.”
Nhã dừng lại, nhìn bà nội. Bà Trầm ngồi xuống bậc cửa, hai tay ôm đầu.
Trong thư, cha Nhã kể ông Bảy Nghi là người lái đò. Đêm nước lên, ông mặc áo tơi, chống gậy đi từ mái nhà này sang mái nhà khác, đưa trẻ con và người già xuống thuyền. Con Vện bơi theo chủ, nhiều lần kéo người bị nước cuốn vào bờ.
Bảy Nghi phát hiện cửa cống bị khóa. Ông đòi đi báo nhà chức trách, nhưng bị những người giữ kho chặn lại tại miếu Cửa Nước. Họ đánh chết ông cùng con Vện rồi chôn dưới nền miếu.
Sau khi nước rút, bảy nhà có người khóa cống trong làng Vọng Nguyệt bị mưa làm hư mái đã lấy ngói ở mấy nhà chết hết người ở Bãi Dâu thay vào. Họ còn hôi của, lấy đồ cổ, và mấy món có giá trị đem về, vì nghĩ không ai biết.
Dù vậy, bảy người gây ra chuyện vẫn mời một thầy pháp từ nơi khác đến làm lễ, để tránh việc bị vong hồn quấy phá. Cha Nhã chép lại trong thư những lời thầy đã bắt bảy gia đình phải ghi nhớ:
“Hồn của ông Bảy Nghi, và những người chết trong lũ bị bị nhốt vào bảy viên ngói, rồi lợp trên phòng thờ bảy nhà gây tội, để gia tiên mỗi nhà khắc chế họ, khiến họ không đòi được nợ.”
Còn phần hồn của con Vện, thầy pháp trấn bằng cách lấy xương nó bỏ vào một lỗ khoét trên tượng chó đá, dán lại bằng giấy bùa, rồi đặt lên miệng hố chôn.
“Khói hương của người sống sẽ giam những oán khí ở lại trên mái.”
Thầy còn cảnh báo phép yểm chỉ giữ được mười hai năm, vì con Vện có linh tính. Cứ đến năm Thân, vào những đêm trăng sáng của tháng Bảy, hồn Vện sẽ thức dậy. Nó sẽ đội nón, mặc áo tơi, chống gậy đi trên mái để tìm hồn chủ trong bảy viên ngói. Trong năm ngày từ mười một đến rằm tháng Bảy, nó sẽ hoặc tìm được chủ, hoặc tìm được người để trả thù cho chủ.
“Muốn giữ an ổn mười hai năm, trong năm ngày kể trên, phải chọn một người liên quan đến bảy nhà kia, đã tận mắt nhìn thấy chó đá, ghi tên người đó vào sổ rồi chôn dưới bệ miếu trước khi gà gáy. Tuyệt đối không dùng người tuổi Dần.”
Đọc đến trang thứ hai, tay Nhã bắt đầu run. Cha cô viết:
“1956, người nhà họ Đỗ chết ngoài miếu Cửa Nước. 1968 đến cha Hựu. Cha tôi cũng nằm trong nhóm bảy người, nhưng mấy năm cuối đời ông ăn chay niệm Phật nên chết bình thường.”
“Năm 1980, vợ tôi là Bích tìm thấy cuốn sổ cha tôi ghi tên những người đã khóa cống, và những việc hôi của. Cô ấy muốn mang sổ lên huyện. Hựu biết chuyện, đã ngăn lại. Tôi lén đi theo họ nhưng giữa đường bị đánh ngất. Khi tỉnh lại, tôi chạy ra miếu cố tìm bằng chứng, hay một dấu vết liên quan đến Bích nhưng không có. Tôi tin cô ấy ở đâu đó, trong làng, không phải ngoài sông, hay bỏ đi như người ta nói; nhưng không dám báo chính quyền. Tôi sợ người làng chết vì đụng đến bí mật của Miếu Cửa Nước.”
Bên dưới đoạn này, mực bị nhòe thành nhiều vệt.
“Năm 1956 và năm 1968, người trong bảy nhà đã làm theo lời thầy pháp, ghi tên người nhìn thấy chó đi trên mái chôn dưới bệ tượng, họ chết bất đắc kỳ tử sau đó, để giữ yên bảy viên ngói oan hồn trên mái. Đến năm 1980, họ chọn Bích vì cô ấy đã nhìn thấy chó đá, và là con dâu của họ Trần. Nhưng tôi cho rằng, lý do thật sự bị che giấu, lý do ghê tởm nhất, chính là vì Bích giữ cuốn sổ của cha tôi…”
“Tôi biết Bích không chết đuối. Có lẽ cô ấy nằm dưới miếu Cửa Nước.”
Bà Trầm ôm mặt khóc nức nở.
Nhã nghẹn ngào đọc đến cuối thư:
“Hựu giữ cuốn sổ gốc. Nếu chó đá trở lại vào năm 1992, tôi hy vọng nó sẽ tìm đủ bảy viên ngói, để mọi chuyện ghê rợn này chấm dứt mãi mãi.”