Lộc gói hai mảnh ngói đen vào một chiếc bao tải rồi mang về nhà Nhã. Suốt quãng đường, đáy bao không ngừng rỉ nước. Anh phải lấy thêm một chiếc chậu nhôm đặt bên dưới, vậy mà nền nhà vẫn ướt thành một vệt dài.
Bà Trầm vừa chạm tay vào bao tải đã nhận ra thứ bên trong.
“Hai đứa lấy nó ở đâu?”
“Trên mái nhà ông Lễ,” Nhã đáp. “Bà biết viên ngói này phải không?”
Bà Trầm rụt tay lại.
“Mang trả về chỗ cũ.”
“Chó đá đã đi ba lần trên mái nhà ông Lễ để tìm nó. Vì sao phải mang trả?”
“Không trả thì nhà mình sẽ gặp họa.”
“Nhà mình đã có Tùng chết rồi. Bà còn muốn giấu đến bao giờ?”
Bà Trầm đi vào gian thờ, đóng cửa lại. Nhã định đi theo nhưng Lộc ngăn cô, bảo để bà bình tĩnh.
Hai người mang cuốn sổ của Tùng ra xem lại. Ở những trang đầu chỉ có danh sách công việc sửa điện và lợp mái. Đến gần cuối sổ, Tùng vẽ một sơ đồ làng Vọng Nguyệt. Bảy căn nhà được khoanh tròn bằng mực đỏ. Ngoài nhà Nhã, nhà ông Hựu và nhà ông Lễ, bốn căn còn lại đều thuộc những gia đình sống lâu đời trong làng. Bên cạnh mỗi vòng tròn, Tùng ghi cùng một chữ:
“NGÓI”
Ở trang cuối cùng là năm mốc thời gian: 1944, 1956, 1968, 1980 và 1992. hai năm đầu được gạch ngang. Năm 1968 thì ghi chú là: “Ông Mai”. Năm 1980 thì ghi chú là: “Mẹ”. Riêng năm 1992 có một dấu hỏi lớn.
Lộc nhìn những con số rồi chậm rãi nói:
“Mỗi mốc cách nhau đúng mười hai năm.”
“Ông Mai là ai?”
“Cha ông Hựu, mất do chết đuối, năm 1968. Tôi nghe mẹ tôi kể lại một lần.”
Lộc nói đều đều, nhưng mặt đã xanh tái.
Nhã nhớ đến câu bà Trầm nói. “Vậy là đã đủ mười hai năm.”
“Năm 1980 mẹ tôi mất tích. Năm 1992 Tùng chết.”
“Có thể những năm trước đó cũng có người chết hoặc mất tích.”
Hai người mang sổ sang hỏi bà Trầm. Lần này bà không thể tiếp tục chối. Bà ngồi trước bàn thờ, hai tay giữ chặt đầu gậy, một lúc lâu mới nói:
“Bảy căn nhà đó đều có ngói lấy từ xóm Bãi Dâu.”
“Tại sao ngói của xóm bị lũ cuốn lại nằm trên mái những nhà này?”
“Vì cần ngói lợp mái sau lũ.”
“Là ăn cắp ngói phải không?”
“Không. Năm 1944, xóm Bãi Dâu bị nước cuốn hết. Người ta chỉ lấy ngói lành về thay ngói bị vỡ thôi. Thật ra chủ mấy nhà đó chết hết rồi…”
“Chỉ lấy ngói thôi?”
Bà Trầm hoảng hốt khi nghe Nhã hỏi.
“Bà không biết. Người biết rõ đều đã chết rồi.”
“Ông Hựu biết.”
“Ông ấy chỉ biết phần cha ông ấy truyền lại.”
“Còn mẹ cháu? Mẹ có biết không?”
Bà Trầm cúi đầu, tránh câu hỏi ấy.
Lộc mở bao tải, lấy một mảnh ngói đặt xuống nền. Dấu bàn tay trẻ con ở mặt dưới vẫn còn nguyên. Vừa nhìn thấy nó, bà Trầm lập tức quay mặt đi.
Nhã hỏi:
“Con chó đá giết người để giữ những viên ngói này sao?”
“Không.”
Bà Trầm trả lời rất nhanh.
“Vậy tại sao nhà nào bị nó dừng ba lần cũng có người chết?”
“Vì người sống sợ nó đến lấy ngói nên đã làm những chuyện còn đáng sợ hơn.”
“Là chuyện gì?”
Bà Trầm mím môi, không nói.
Nhã đặt bàn tay có dấu đứa trẻ lên trước mặt bà.
“Khi cháu chạm vào viên ngói, trong đầu cháu có tiếng nói, bảo còn sáu mái nữa.”
Bà Trầm lần tay tìm cổ tay Nhã. Khi sờ thấy năm vết ngón tay lạnh ngắt trên da, bà bật khóc.
“Chó đá không đi đòi mạng người,” Bà nói. “Nó đi tìm thứ người sống đã lấy của người chết.”
Ngoài sân có tiếng gậy chống xuống gạch.
Ông Hựu bước vào mà không gọi cổng. Có lẽ ông đã đứng bên ngoài nghe được một phần câu chuyện. Đi cùng ông là hai người đàn ông trong họ.
“Viên ngói đâu?” ông hỏi.
Nhã đứng chắn trước chiếc bao tải.
“Ông đến lấy nó?”
“Đó là đồ trên mái nhà ông Lễ. Cô không có quyền mang về.”
“Ông Lễ đang nằm mê man. Ông ấy nhờ ông sao?”
“Ta là trưởng họ. Trong làng xảy ra chuyện, ta phải giải quyết.”
“Vậy ông giải thích cho cháu vì sao bảy căn nhà cùng giấu ngói của xóm Bãi Dâu.”
Ông Hựu nhìn bà Trầm. Bà cúi mặt, hai tay lần tràng hạt.
“Thằng Tùng đã để lại cái gì trước khi chết phải không?” ông hỏi.
“Ông sợ sao?”
“Tôi đang hỏi cô.”
“Tùng để lại một cuốn băng. Trong đó có tiếng chó đá và giọng của một người đàn bà.”
Sắc mặt ông Hựu thay đổi.
“Cuộn băng ở đâu?”
“Ông không cần biết.”
Ông Hựu bước tới, định giật chiếc bao tải nhưng Lộc đứng chắn lại. Hai người đàn ông đi theo cũng tiến lên. Bà Trầm vội chống gậy đứng dậy.
“Đủ rồi, ông Hựu. Năm nay không giấu được nữa đâu.”
Ông Hựu quay sang bà:
“Chị muốn cả nhà chết hết mới vừa lòng sao?”
“Thằng Tùng đã chết. Con dâu tôi cũng mất. Các ông còn định đổi mạng ai nữa?”
Nhã nghe rõ hai chữ “đổi mạng”, nhưng chưa kịp hỏi thì ông Hựu đã quát mấy người đi theo ra về. Trước khi rời khỏi sân, ông quay lại dặn:
“Từ giờ đến sáng mai, không ai được rời khỏi nhà. Đặc biệt không được mang viên ngói tới miếu Cửa Nước.”
“Nếu cháu cứ mang đi thì sao?”
“Cô sẽ không ra được đến miếu.”
Ông bỏ đi. Tiếng gậy của ông xa dần ngoài ngõ.
Buổi chiều ngày rằm, Nhã và Lộc quyết định đi xem bốn căn nhà còn lại trong sổ. Lộc từng lợp mái cho cả bốn nên biết đường trèo lên. Tuy nhiên, khi hai người đến nơi, nhà nào cũng đóng cổng. Có nhà còn thả chó và cho người ngồi canh ngoài sân.
Một bà lão sống ở căn nhà gần bến nước nhận ra Lộc thì hé cửa hỏi:
“Hai đứa tìm gì?”
“Cháu muốn xem mái nhà bà có bị xô ngói không.”
“Mái không hỏng.”
“Trên đó có một viên ngói đen phải không?”
Bà lão lập tức đóng cửa. Từ bên trong, bà nói vọng ra:
“Về đi. Chuyện của nhà ai nhà ấy chịu.”
Lộc không kiểm tra được các mái nhà, nhưng anh nhớ lại một điều. Những lần được thuê sửa mái, chủ của cả bảy nhà đều dặn không được động vào một viên ngói cũ ngả đen nằm gần gian thờ. Dù ngói đã nứt, họ cũng chỉ cho phép chèn vôi quanh đó chứ không chịu thay.
“Nhà cô cũng có một viên,” Lộc nói.
“Anh nhìn thấy lúc nào?”
“Khoảng năm năm trước, khi cha cô còn sống. Tôi định thay vì nó đen và cũ hơn những viên khác. Ông cụ ngăn lại, bảo đó là ngói giữ nóc, tháo ra nhà sẽ gặp họa.”
“Nó nằm ở đâu?”
“Phía trên bàn thờ.”
Nhã nhớ đến đêm đầu tiên. Con chó đá đã đi qua mái buồng Tùng nhưng chưa đến gian thờ. Nếu nó thực sự tìm những viên ngói, có thể đêm nay nó sẽ quay lại.
“Sáng nay tôi có lên mái kiểm tra, có viên ngói in vết chân chó, đọng nước đen, nhưng cả viên thì vẫn là màu ngói đỏ, chứ không đen.”