Con chó đứng trên nóc miếu, thân hình cao gần chạm đến ngọn cây gạo. Chiếc nón lá trên đầu đã cũ đến mức phần vành chỉ còn trơ những nan tre. Nước từ áo tơi chảy xuống mái, nhưng khi rơi đến sân lại biến thành bùn đen.
Những người đứng trong sân bắt đầu lùi về phía cổng. Hai cánh cổng miếu đang mở bỗng tự khép lại. Ba người đàn ông chạy tới kéo nhưng cánh cổng không nhúc nhích.
Con chó chống gậy bước khỏi mái.
Trước mặt nó không có cầu thang, vậy mà đầu gậy vẫn dừng giữa khoảng không. Nó đặt một chân xuống, rồi chân còn lại, chậm rãi đi trên những bậc thang vô hình từ mái miếu xuống sân.
“Cộc… cộc… cộc…”
Mỗi nhịp gậy vang lên, một viên ngói trong vòng tròn lại rung. Đến khi con chó đặt chân xuống đất, cả bảy viên ngói đều dựng đứng, quay về phía những người trong sân.
Ông Hựu cầm quyển sổ bọc vải đỏ lùi lại.
“Chúng tôi đã sám hối. Người cũng đã chọn rồi. Các người còn muốn gì?”
Con chó không nhìn Nhã. Nó đi thẳng đến trước mặt ông Hựu, chống đầu gậy lên cái bóng của ông trên sân.
Đầu gậy chỉ chạm vào bóng, nhưng ông Hựu lập tức khuỵu một chân. Ông cố đứng dậy mà không được.
Con chó dùng chân trước còn lại vén tà áo tơi.
Phía dưới lớp áo không phải là thân mình bằng đá, mà là hàng chục gương mặt người chen sát vào nhau, tóc và quần áo đều ướt. Có người già, có trẻ con, có phụ nữ đang ôm con trước ngực. Họ không khóc, chỉ nhìn những người thuộc bảy gia đình.
Nhã nhận ra gương mặt người đàn bà có con mắt trắng dã ở gần cuối tà áo. Khác với lần trước, lần này Nhã thấy cả hai con mắt đều trắng dã, và một đôi môi thâm đen.
Bà ta mặc chiếc áo hoa nhỏ mà mẹ cô đã mặc trong bức ảnh cuối cùng của gia đình. Hai cổ tay còn quấn dây vải, tóc bết vào má. Đôi mắt trắng dã nhìn Nhã rồi đưa tay chỉ xuống miệng hố sau bệ đá.
Nhã run rẩy:
“Phải mẹ không?”
Gương mặt ấy chậm rãi quay sang ông Hựu.
Từ dưới tà áo vang lên tiếng nhiều người cùng nói:
“Mở cống ra.”
Ông Hựu lắc đầu.
“Cống không còn nữa. Xóm Bãi Dâu cũng không còn.”
Con chó đá gõ đầu gậy xuống cái bóng của ông.
“Cộc!”
Ông Hựu ngã chống hai tay xuống đất. Nước đen từ miệng ông trào ra, nhưng lần này còn lẫn những hạt thóc đã mục.
Những viên ngói dựng quanh Nhã đồng loạt phát ra tiếng người kêu cứu. Trong sân miếu không có nước, vậy mà tất cả đều nghe tiếng mái nhà đổ, tiếng trẻ con khóc và tiếng dòng lũ đập vào cánh cống.
Một người đàn ông đi cùng ông Hựu không chịu nổi, quỳ xuống:
“Tôi chỉ làm theo lời các cụ. Tôi không giết ai cả.”
Người khác cũng lên tiếng:
“Ngói đã ở trên mái từ đời ông nội tôi. Chúng tôi không liên quan đến chuyện năm 1944.”
Bà Trầm đáp:
“Các người có thể không khóa cống, nhưng năm 1980 các người đã đứng nhìn chúng mang con Bích đi.”
Không ai cãi lại.
Ông Hựu vẫn cố kéo cái bóng khỏi đầu gậy. Cơ thể ông giãy về một hướng, nhưng cái bóng bị ghim tại chỗ khiến ông không thể đi đâu.
Nhã hỏi:
“Ai giết mẹ tôi?”
“Không phải tôi.”
Con chó gõ gậy lần thứ hai.
“Cộc!”
Từ miệng hố sau bệ đá vọng lên tiếng một người đàn bà:
“Hựu, thả tôi ra!”
Đó là giọng mẹ Nhã trong cuộn băng.
Ông Hựu ôm đầu.
“Bà ấy tự ngã xuống hố!”
“Bà ấy bị trói phải không?”
“Tôi chỉ muốn giữ bà ấy lại. Bích giật được cuốn sổ rồi chạy. Chúng tôi đuổi đến miếu. Bà ấy chống cự, trượt chân rơi xuống.”
“Vì sao các ông không cứu?”
Ông Hựu nhìn quanh tìm người giúp, nhưng những người đi cùng đều đã lùi xa.
“Nếu kéo lên, bà ấy sẽ tố cáo cả bảy nhà.”
“Vậy ông lấp hố khi mẹ tôi vẫn còn sống?”
Ông ta không trả lời. Tiếng móng tay cào vào mặt dưới bệ đá vang lên, giống hệt âm thanh Nhã từng nghe dưới mái buồng Tùng.
Nhã Trừng mắt nhìn người trước mặt, khóe mắt căng như sắp rách. Bà Trầm đã khóc khàn giọng, cổ họng chỉ còn phát ra mấy tiếng”..khục... khục” nấc quãng.
Lộc xuất hiện trên bức tường sau miếu. Anh đã đi theo đoàn người, vòng ra bờ sông rồi trèo vào. Trong lúc mọi người tập trung nhìn chó đá, anh nhảy xuống sân, chạy đến cắt dây cho Nhã.
Ông Hựu nhìn thấy, vội gọi người ngăn lại, nhưng không ai còn nghe lời ông.
Nhã vừa được cởi trói liền bước đến:
“Còn Tùng? Tôi biết em tôi không ngã từ mái nhà.”
Ông Hựu nghiến răng. Con chó đá gõ đầu gậy lần thứ ba.
“Cộp!”
Chiếc gậy trúc ông Hựu mang theo từ đầu buổi tự dựng lên giữa sân. Trên đầu gậy còn một vệt màu nâu đã ngấm sâu vào thớ tre.
Dòng nước đen dưới chân bảy viên ngói cùng chảy về phía vách miếu. Nước loang đến đâu, trên vách hiện hình đến đó.
Trong mảng nước hiện ra bóng Tùng đang quỳ sau bệ chó đá, tay dùng một thanh sắt đào đất. Một bóng người chống gậy đi tới từ phía sau. Dù không nhìn rõ mặt, ai cũng nhận ra dáng đi và chiếc gậy trúc của ông Hựu.
Bóng người giơ gậy lên, đánh mạnh vào thái dương Tùng. Cậu ngã xuống nhưng vẫn còn cử động. Sau đó, hai bóng người khác xuất hiện, cùng ông Hựu khiêng Tùng rời khỏi miếu.
Cảnh trên vách dừng lại đúng lúc đầu gậy chạm xuống. Vết màu nâu trên cây gậy thật cũng hiện rõ dưới ánh trăng.
Nhã nhìn ông Hựu, mắt cô đỏ hoe:
“Đây mới là chuyện xảy ra đêm đó phải không?”
Ông Hựu nhìn cái bóng trên vách rồi nhắm mắt.
“Đêm đó, thằng Tùng đến miếu đào bệ. Nó tìm thấy bí mật của làng qua ghi chép của cha cô. Tôi chỉ định dọa, nhưng nó đẩy tôi nên tôi đánh một cái.”
“Sau đó ông đưa em tôi về nhà?”
“Nó còn thở. Tôi với hai người nữa đặt nó dưới mái hiên. Chúng tôi dựng thang, định làm như nó ngã xuống. Không ngờ thằng Lộc đi ngang qua sớm quá.”
Lộc siết chặt hai tay, nhưng Nhã giữ anh lại.
“Những người giúp ông đang đứng ở đây phải không?”
Ông Hựu im lặng, tay run bần bật.
Mọi chuyện đã rõ. Tùng từng phát hiện ra cái hộp của cha khi sửa mái, dù đặt lại chỗ cũ, nhưng cậu đã biết được bí mật của làng thông qua đó. Cậu đi tìm tung tích của mẹ, nên bị đánh tại miếu rồi mang về nhà tạo hiện trường.
Con chó đá nhấc cây gậy khỏi cái bóng.
Ông Hựu tưởng đã được tha nên vội bò về phía cổng, nhưng cái bóng của ông không đi theo. Nó vẫn nằm dưới chân chó, hai tay vươn dài trên nền gạch.
Con chó quay lưng, kéo cái bóng ấy về phía con lạch. Ông Hựu bị giật ngược lại. Hai chân ông tự đứng lên rồi bước theo, dù hai tay vẫn bám vào cột miếu.
“Giữ tôi lại!”
Mấy người gần đó lao tới ôm ông. Họ vừa chạm vào người đã rụt tay vì da ông lạnh như nước đá.