Buổi chiều, người làng bắt đầu đóng cửa sớm. Một người đàn ông cầm loa chạy xe đạp quanh làng, thông báo đêm nay có thể mưa lớn, các gia đình nên kiểm tra mái nhà và hạn chế ra ngoài.
Nhã biết đó là cách nhắc nhở mọi người đừng ra ngoài, chứ trời không có dấu hiệu mưa. Vài gia đình dùng vôi vạch chéo trước cổng. Nhà ông Lễ treo một cành dâu lớn ngay chính giữa cửa. Tất cả chum nước trong sân đều bị úp xuống.
Khi Nhã về đến nhà, bà Trầm đang ngồi trước bàn thờ, đốt một chồng giấy cũ.
Nhã nhận ra trong đó có thư từ và ảnh của mẹ.
Cô vội giật xấp giấy khỏi tay bà.
“Bà làm gì vậy?”
“Đốt hết đi. Nó tìm theo đồ của người chết.”
“Mẹ cháu chưa chắc đã chết.”
Bà Trầm bật khóc.
“Từ năm 1980 đến giờ đã mười hai năm. Nếu còn sống, mẹ cháu đã về rồi.”
“Đêm trước khi mất tích, mẹ cũng nhìn thấy chó đá phải không?”
Bà không trả lời.
“Nó đội nón của ai?”
Bà Trầm nhìn về phía cửa, giọng nhỏ đến mức Nhã phải ghé lại mới nghe rõ:
“Của cha cháu.”
Nhã sững người.
“Năm đó cha vẫn còn sống.”
“Chính vì vậy mẹ cháu mới sợ. Nó bảo con chó đi trên mái, đầu đội chiếc nón cối của cha cháu, trên người mặc áo tơi. Nó dừng đúng phía trên buồng hai vợ chồng ba lần.”
“Sau đó thì sao?”
“Tối hôm sau, mẹ cháu biến mất.”
“Cha đã làm gì mẹ?”
Bà Trầm lắc đầu.
“Cha cháu không làm gì. Nhưng nó biết ai đưa mẹ cháu đi.”
“Ai?”
“Bà không nói được.”
Nhã giữ lấy hai vai bà.
“Bà không nói thì Tùng chết vô ích. Người đó có thể tiếp tục giết cháu.”
Bà Trầm run rẩy, đôi môi mấp máy, nhưng bên ngoài chợt có tiếng gậy gõ ba lần lên cổng.
“Cộc! Cộc! Cộc!”
Hai bà cháu cùng im lặng.
Giọng ông Hựu vọng vào:
“Chị Trầm, đóng cửa đi. Trăng sắp lên rồi.”
Bà Trầm gỡ tay Nhã, mò mẫm ra cài then cửa.
“Đêm nay không được nhìn lên mái nữa,” bà dặn. “Hôm qua nó chỉ nhìn cháu. Đêm nay nếu cháu tiếp tục nhìn, nó sẽ nhớ mặt.”
Nhã không đáp.
Khi trời tối, điện trong làng vẫn chưa bị cắt nhưng các nhà đều tắt đèn. Chỉ có nhà ông Lễ bật sáng tất cả bóng điện từ gian chính ra đến sân, có lẽ người trong nhà không ai dám ngồi trong bóng tối.
Khoảng đầu giờ Hợi, con chó nhà hàng xóm sủa dữ dội. Nó sủa được vài tiếng thì chuyển sang rên ư ử, như bị ai giữ chặt mõm.
Sau đó cả làng yên hẳn.
Nhã ngồi trong gian ngoài, ngay cạnh cánh cửa phụ dẫn ra sân hông, trong tay cầm chiếc đèn pin. Bà Trầm ở trong buồng, liên tục gọi cô vào nhưng cô vẫn ngồi yên.
Gần nửa đêm, tiếng áo tơi lại vang lên.
“Sột… sột…”
Nó bắt đầu từ đầu hồi phía tây, đi qua mái bếp rồi lên đến nóc nhà chính.
Nhã hé cửa phụ, bước xuống khoảng sân hông và nép sát vào bóng tối bên thành giếng. Từ chỗ này, cô nhìn thấy sống mái nhà mình và cả mái nhà ông Lễ bên kia ngõ.
Con chó xuất hiện dưới ánh trăng. Nó vẫn đội chiếc nón vá chỉ xanh của mẹ Nhã, khoác tấm áo tơi ướt nước, một trong hai chân trước cầm một đoạn gậy nhỏ. Hai chân sau con chó chậm rãi bước trên từng viên ngói. Lần này nó không dừng trên mái buồng Tùng, mà tiếp tục đi đến mép mái, nơi cách nhà ông Lễ một con ngõ hẹp.
Nhã nghĩ nó sẽ nhảy xuống sân, nhưng con vật đặt một chân sau vào khoảng không. Bàn chân đá dừng lại giữa trời, như phía dưới có một mái nhà mà người sống không nhìn thấy.
Nó cứ thế bước qua con ngõ. Từ áo tơi, từng giọt nước rơi xuống.
Con chó sang đến nóc nhà ông Lễ rồi dừng ngay phía trên gian thờ. Chiếc nón lá từ từ nâng lên. Dưới vành nón không chỉ có mặt chó. Trên chỗ lẽ ra là phần mõm phủ rêu xuất hiện một cái miệng người trắng bệch. Nước dãi chảy ra từ hai khóe miệng, kéo thành dòng xuống cổ.
Con chó cúi đầu, áp tai vào mái ngói.
Từ bên trong nhà ông Lễ vang lên tiếng bàn ghế đổ. Một giọng đàn ông hoảng hốt kêu lớn:
“Không phải tôi! Tôi không làm chuyện đó!”
Miệng người trên mặt chó bắt đầu cử động.
Một giọng nặng và đục vang xuống từ mái nhà:
“Mở cống ra…”
Trong nhà lại có tiếng gào lên:
“Cống đã sập gần năm mươi năm rồi! Các người còn muốn gì nữa?”
Chiếc vòng sắt quanh cổ chó rung lên ba tiếng.
“Keng! Keng! Keng!”
Tất cả bóng điện trong nhà ông Lễ cùng tắt.
Sau đó, giữa đêm vắng, có tiếng nước ào ào dù ngoài sân vẫn khô ráo và trên trời không có một giọt mưa.
Tiếng nước trong nhà ông Lễ mỗi lúc một lớn. Xen lẫn trong đó là tiếng chân người chạy, tiếng bàn ghế xô vào nhau và tiếng đàn bà gọi chồng. Ngoài sân, bóng điện đã tắt hết, cửa chính vẫn đóng kín.
Nhã rời khỏi chỗ nấp, định chạy sang xem nhưng vừa đến gần bờ tường thì bà Trầm từ trong nhà đi ra, hỏi to:
“Cháu đi đâu?”
“Nhà ông Lễ có chuyện.”
“Không được sang.”
“Trong đó có người kêu cứu.”
Bà Trầm bước vội, tay kéo Nhã lùi lại, giọng nghiêm hơn:
“Cổng nhà họ đã đóng. Đêm nay không ai cứu được ai đâu.”
“Bà định để mặc họ sao?”
“Cháu sang đó chỉ khiến nó quay lại mái nhà này.”
Nhã gỡ tay bà, nhưng đúng lúc ấy, trong nhà ông Lễ vang lên một tiếng hét rất lớn. Cánh cửa chính bật mở. Hòa, con gái út của ông Lễ, chạy ra sân, hai tay quờ về phía trước như đang lội trong nước.
“Cứu bố cháu với! Nước vào đầy nhà rồi!”
Nhã đứng bên này bức tường vẫn nhìn thấy sân nhà ông Lễ khô nguyên. Dưới ánh trăng, từng viên gạch hiện lên rõ ràng, không có lấy một vũng nước. Vậy mà Hòa cứ bước khó nhọc, hai chân nâng cao, miệng thở dốc như nước đã dâng đến ngực.
Phía sau cô bé, ông Lễ từ trong nhà bò ra.
Quần áo ông ướt sũng. Nước chảy từ tóc xuống mặt rồi nhỏ thành dòng trên sân gạch. Ông vừa bò vừa ngoái lại nhìn căn nhà, miệng la lên:
“Mở cống đi! Nước lên tới mái rồi!”
Vợ ông chạy theo, định đỡ chồng nhưng vừa chạm vào vai đã hét lên vì lạnh. Ông Lễ hất tay bà ra, tiếp tục bò về phía cổng.