Miếu nằm cuối làng, sát con lạch dẫn ra sông. Cỏ hai bên đường mọc cao gần đến đầu gối. Sân miếu phủ đầy lá gạo, có lẽ đã lâu không ai quét dọn.
Con chó đá vẫn nằm trên bệ.
Dưới ánh sáng ban ngày, nó không lớn như thứ Nhã nhìn thấy trên mái, mà chỉ tương đương một con chó cỏ. Một bên tai tượng đã mẻ, trên lưng có hai chữ gì đó sơn bằng sơn đỏ, đã phai và bị rêu che mất một phần. Quanh cổ nó có chiếc vòng sắt đúng như chiếc vòng con vật đêm qua đã đeo.
Nhã đứng ngoài cổng nhìn một lúc rồi mới bước vào. Cô thấy trên bệ có hai vũng nước nhỏ, vừa khít với hai chân sau của tượng. Bùn còn dính ở các kẽ móng. Nhã dùng tay lấy ra một mẩu rêu, rồi đi vòng ra phía sau tượng, phát hiện trên cổ con chó đá có một vết nứt mới. Trong vết nứt mắc một sợi tóc đen rất dài, đầu tóc quấn quanh mấy vòng chỉ xanh.
Nhã kéo sợi tóc ra. Ngay lúc đó, chiếc vòng sắt quanh cổ chó khẽ rung lên.
“Keng…”
Nhã nhìn pho tượng. Đầu chó vẫn hướng về phía con lạch, miệng vẫn ngậm vòng sắt. Tuy nhiên, cái bóng của nó dưới chân bệ lại không cùng hướng với thân tượng. Phần đầu của cái bóng đang quay về phía cô.
Nhã kinh hoảng lùi lại. Từ bên trong thân chó phát ra một âm thanh nhỏ. Cô nín thở nghe kỹ mới nhận ra đó là tiếng một người đàn bà đang hát ru. Điệu hát rất quen. Ngày bé, mẹ Nhã thường hát điệu ấy mỗi khi ru cô và Tùng ngủ.
Nhã vừa định ghé sát tai vào pho tượng thì có tiếng gậy gõ xuống nền gạch phía sau.
“Cô đang làm gì vậy?”
Ông Hựu đứng dưới gốc gạo, khuôn mặt tối lại khi nhìn thấy sợi tóc trong tay cô.
“Cháu đến xem chó đá.”
“Ở đây không có gì để xem. Đặt thứ cô vừa lấy về chỗ cũ rồi đi khỏi miếu.”
“Cái này rất giống tóc của mẹ cháu.”
“Cô nói linh tinh gì vậy?”
“Đầu tóc quấn chỉ xanh, giống miếng vá trên chiếc nón của mẹ. Đêm qua con chó đã đội chiếc nón đó đi trên mái nhà cháu.”
Ông Hựu siết chặt cây gậy.
“Cô đau buồn quá nên hoa mắt.”
“Cháu nhìn thấy rất rõ.”
“Vậy cô muốn người ta bảo cô cũng hóa điên giống mẹ sao?”
Nhã nhìn ông.
“Mẹ cháu không điên.”
“Trước khi mất tích, bà ấy thường kể có người đi trên mái, có tiếng người chết gọi ngoài sông. Ai nghe cũng biết đầu óc bà ấy không bình thường.”
“Tại sao trước đây không ai kể chuyện này với cháu?”
“Chuyện xấu trong nhà, kể ra để làm gì?”
“Đêm Tùng chết, nó đã nhìn thấy chó đá phải không?”
Ông Hựu im lặng một lúc rồi bước tới, dùng đầu gậy hất đoạn rêu dưới chân tượng xuống đất.
“Nghe tôi nói cho rõ. Ngày mai là rằm tháng Bảy. Từ lúc mặt trời lặn, cô phải đóng kín cửa ở trong nhà. Dù nghe tiếng gì trên mái cũng không được nhìn lên. Có người gọi ngoài cổng cũng không được trả lời.”
“Ai sẽ gọi cháu?”
“Tôi chỉ dặn thế thôi.”
“Nếu chuyện về con chó đá không có thật, tại sao ông lại sợ?”
Ông Hựu quay lưng đi.
Nhã gọi với theo:
“Đêm Tùng chết, Lộc thấy một người chống gậy đi ra từ cổng hông nhà cháu.”
Ông Hựu dừng bước, nhưng không quay lại.
“Cô nên cẩn thận lời nói. Không có bằng chứng mà vu cho người khác giết người thì chính cô sẽ gặp rắc rối.”
“Cháu không nói người đó là ông, cũng không nói có ai giết em cháu!”
Ông Hựu đứng yên vài giây rồi đi thẳng khỏi miếu.
Nhã chờ ông khuất sau con đường tre mới tiếp tục xem xét pho tượng. Ở phần bụng chó có một hốc nhỏ bị bùn che kín. Cô lấy cành cây gạt bùn ra, phát hiện bên trong hốc chứa nước.
Nhã dùng que thăm thử. Hốc rất sâu, cây que chọc vào gần hết vẫn chưa chạm đáy.
Tiếng hát ru lại phát ra, lần này rõ hơn.
“Mẹ?”
Nhã vừa gọi thì nước trong hốc trào ra. Dòng nước đen chảy xuống bệ, mang theo vài sợi rơm mục. Trong làn nước còn có mùi tanh giống bùn dưới đáy sông.
Pho chó đá từ từ há miệng. Chiếc vòng sắt rơi khỏi miệng nó, đập xuống bệ.
Nhã sợ hãi lùi dần ra khỏi sân miếu. Khi nhìn lại, miệng chó đã khép kín, chiếc vòng sắt cũng trở về đúng vị trí cũ, như chuyện vừa xảy ra chỉ là ảo giác. Cô không dám ở lại thêm.
Trên đường về, Nhã gặp Lộc đang sửa mái nhà cho ông Lễ. Cô gọi Lộc xuống, đưa cho anh xem đoạn rơm và sợi tóc lấy từ tượng.
Lộc vừa nhìn đã tái mặt.
“Cô đến miếu Cửa Nước?”
“Phải.”
“Có ai đi cùng không?”
“Không.”
“Cô liều quá. Tùng cũng tới đó một mình trước khi chết.”
Nhã kéo anh ra chỗ vắng sau đống gạch.
“Tùng đến đó làm gì?”
“Nó hỏi tôi có dám giúp đào dưới bệ chó đá không.”
“Tại sao phải đào?”
“Nó bảo dưới đó có người.”
“Anh có giúp không?”
Lộc lắc đầu.
“Tôi nghĩ nó nghe chuyện linh tinh rồi sinh nghi. Nhưng đêm sau, lúc đi ngang qua miếu, tôi thấy bệ đá trống không.”
“Con chó đã đi đâu?”
“Ở trên mái nhà ông Lễ.”
Lộc kể rằng đêm trước khi Tùng chết, con gái út của ông Lễ nghe tiếng vật gì cào trên mái. Nó soi đèn pin lên thì thấy một con chó đội nón đang đi dọc theo nóc nhà. Sau đó nó sốt li bì, miệng luôn nói có người chết đuối đứng ngoài cửa sổ.
Tối Tùng chết, Lộc đang trên đường đi công chuyện về. Thấy cổng nhà bà nội Nhã khép hờ, anh vào định nhắc đóng cổng kẻo trộm, thì phát hiện Tùng nằm dưới mái hiên, đầu chảy máu.
“Lúc ấy Tùng còn nói được không?” Nhã hỏi.
“Cậu ấy tỉnh lại khi tôi gọi.”
“Em ấy có nói gì không?”
Lộc nhìn về phía những người thợ đang ngồi trên mái, sau đó hạ giọng:
“Tùng nắm tay tôi, bảo: ‘Mẹ em ở dưới...’ Sau đó cậu ấy nhướng mắt nhìn lên mái nhà, ú ớ gì đó mà tôi không nghe được.”
“Anh có nhìn lên mái không?”
“Có, nhưng tôi không thấy gì. Trước lúc ôm Tùng lên xe đi trạm xá, tôi thấy một người đứng gần cổng hông.”
“Người đó có chống gậy không?”
Lộc gật đầu.
Nhã định hỏi thêm thì một tiếng động lớn vang lên trên mái. Một viên ngói trượt xuống, rơi vỡ ngay cạnh chân hai người.
Mấy người thợ trên cao giật mình, khẳng định không ai chạm vào nó.
Giữa hàng ngói đỏ xuất hiện một viên ngói màu đen. Trên mặt ngói in rõ dấu bàn chân chó.
Lộc lùi lại.
“Sáng hôm qua tôi đã kiểm tra chỗ này. Viên ngói đen và dấu chân đều chưa có.”
Nhã nhìn chằm chằm vào mặt Lộc.
“Nó đã đến nhà ông Lễ hai lần. Có thể tối nay nó sẽ trở lại lần thứ ba.”