Chương 3: CHÓ TRÊN MÁI NHÀ

Nhã trở về phòng Tùng, đóng cửa nhưng vẫn để mở một cánh cửa sổ. Từ vị trí chiếc giường, cô nhìn thấy khoảng sân hông phía đông, nơi người ta phát hiện Tùng nằm bất tỉnh. Phía sau bức tường thấp là mái nhà ông Lễ nằm im dưới ánh trăng. Điện trong làng bị cắt từ hơn chín giờ. Nhã thắp đèn dầu, đặt trên bàn rồi mở cuốn sổ của Tùng ra xem. Trong sổ chỉ ghi tên những nhà cậu từng đến sửa điện, lợp mái. Có bảy ngôi nhà được đánh dấu bằng một vòng tròn đen. Nhà ông Hựu và nhà Nhã đều nằm trong số đó. Nhã chưa kịp xem kỹ thì ánh sáng của ngọn đèn dầu như bị vặn nhỏ lại. Bên ngoài không có gió, nhưng lửa trên đầu bấc cứ nghiêng về phía cửa sổ, yếu dần rồi tắt hẳn. Căn phòng tối đi, chỉ còn ánh trăng chiếu qua cửa. Nhã nghe tiếng động trên mái, lúc đầu nhẹ như tiếng cào của một con mèo, sau rõ dần lên. “Cộc… cộc… cộc…” Tiếng động giờ lại nghe như tiếng một cây gậy gõ lên đám ngói. Im lặng một lát, rồi có tiếng vật gì kéo lê qua. “Sột… sột…” Một mùi bùn ẩm theo khe cửa tràn vào phòng. Nhã bước đến bên cửa sổ, nhưng từ vị trí đó cô chỉ nhìn thấy mái nhà ông Lễ ở bên kia ngõ. Tiếng sột soạt vẫn kéo từng đoạn ngay trên đầu, khiến cô nổi hết da gà. Nhã vốn không tin tâm linh, cô khá cứng cỏi, nên sau một lúc bị dọa sợ, cô lại tự trấn tĩnh, muốn tìm hiểu xem cái gì đang ở trên mái nhà. Cô cầm đèn pin, rón rén mở cửa buồng, rồi lần mò đi ra cánh cửa phụ dẫn xuống sân hông. Lời dặn của bà nội khi tối khiến cô chần chừ một lúc lâu. Sau cùng, Nhã vẫn tháo then, bước ra ngoài và đứng gần giếng nước. Từ đây cô nhìn thấy toàn bộ sống mái nhà mình. Dưới ánh trăng, một chiếc nón lá đang chậm rãi di chuyển trên nóc nhà. Vành nón rách một mảng ở bên trái, được vá bằng mấy đường chỉ màu xanh. Nhã nhận ra ngay. Đó là chiếc nón mẹ cô vẫn thường đội khi ra đồng. Sau ngày bà mất tích, chiếc nón cũng biến mất theo. Chiếc nón đi đến giữa sống mái thì phần thân phía dưới hiện ra rõ ràng. Đó là một con chó, lớn gần bằng con bê. Trên mình nó khoác một tấm tơi đã ngả màu đen. Hai chân trước giờ giống hệt hai tay người, cầm một khúc cây nhỏ làm gậy. Hai chân sau nặng nề lần lượt đặt xuống những viên ngói phủ rêu, nhưng không làm viên nào xô lệch hay rơi xuống. Nước liên tiếp nhỏ xuống từ chiếc tơi trong khi trời đang khô ráo tạo thành một cảnh tượng ma mị, và ghê rợn. Con chó đi dọc sống mái về phía đầu hồi phía đông. Khi đến đúng vị trí phía trên buồng Tùng, nó dừng lại. Chiếc nón lá từ từ xoay về phía khoảng sân, dưới vành nón là hai con mắt đỏ, lóe sáng một cách kỳ dị. Nó đang nhìn thẳng xuống chỗ Nhã đứng. Nhã muốn lùi lại nhưng hai chân không nghe theo ý cô, cứ dán chặt xuống sân, trong khi toàn thân run rẩy không ngừng được. Trong đôi mắt mở trừng trừng của Nhã, con chó cúi đầu xuống, cái miệng bắt đầu mở ra. Nó nói gì đó nhưng Nhã nghe không rõ. Mãi một lúc lâu, khi nó quay đầu, tiếp tục đi dọc theo sống mái về phía tây rồi khuất sau phần mái bếp, cô mới hoàn hồn, buông người ngã ngồi xuống mặt sân lạnh ngắt. Nhã ngồi thất thần, cho đến khi nghe tiếng bà nội ho gắt, cô mới bấu tay vào thành giếng mà đứng lên, trở vào buồng, thắp lại đèn. Vừa đặt ngọn đèn lên bàn, chiếc đài cassette của Tùng đột nhiên phát ra một tiếng “tạch”. Hai cuộn băng bên trong bắt đầu quay. Nhã nhớ rất rõ ngăn đựng pin của chiếc đài đang để trống. Điện trong làng vẫn chưa có trở lại, dây cắm cũng không hề nối vào ổ, vậy mà từ chiếc loa nhỏ vẫn phát ra tiếng gió, tiếng áo tơi cọ trên ngói, và tiếng chân nặng nề giống hệt âm thanh cô vừa nghe. Sau một hồi rè kéo dài, giọng Tùng vang lên, rất nhỏ, lẫn trong hơi thở gấp gáp: “Đêm mười một tháng Bảy… nó đang đứng trên mái nhà ông Lễ. Dưới bụng nó có một người đàn bà…” Tiếng nói ngắt quãng giữa chừng. Trong cuộn băng xuất hiện ba tiếng gõ cửa. “Cộc! Cộc! Cộc!” Ngay sau đó là giọng một người đàn bà: “Tùng, mở cửa cho mẹ.” Tùng hét lên trong cuộn băng: “Bà không phải mẹ tôi!” Một tiếng động mạnh vang lên, rồi chỉ còn tiếng rè. Nhã đứng chết lặng bên bàn. Cô chưa kịp chạm vào chiếc đài thì từ phía trên trần nhà lại vang xuống giọng người đàn bà ấy, rõ ràng hơn cả tiếng trong băng: “Nhã, mở cửa cho mẹ.” Cô từ từ ngẩng lên. Giữa hai tấm ván trần ngay phía trên giường Tùng có một mớ tóc ướt đang thò xuống. Nước bùn chảy dọc theo những sợi tóc, nhỏ từng giọt lên gối. Mớ tóc tiếp tục trườn qua khe ván, dài dần, cho đến khi một phần gương mặt đàn bà lộ ra. Khuôn mặt ấy nằm ngang trên trần, như có người đang bò úp bụng phía trên và ghé mắt nhìn xuống. Một bên mặt bị tóc che kín. Con mắt còn lại mở trừng trừng, đồng tử đục trắng. Cái miệng khuất sau tấm ván vẫn tiếp tục gọi: “Mở cửa cho mẹ vào với…” 2. Mọi thứ diễn ra quá nhanh. Nhã nhớ cô đã hét rất to, hét y như em cô đã hét: “Cút đi! Bà không phải mẹ tôi!”. Trong lúc hoảng loạn, Nhã đã trượt chân té ngửa xuống sàn, nhưng cô vẫn nhắm mắt và không ngừng la hét, xua tay. Mãi đến khi chiếc đài cassette không còn phát ra tiếng, Nhã mới từ từ hé mắt nhìn lên, thì không còn thấy gì trên trần nữa. Mất gần nửa tiếng, Nhã mới bình tĩnh lại một chút. Đầu óc cô đông đặc, nhưng không hiểu sao cô lại chỉ thắc mắc sao bên phòng bà Trầm vẫn im ắng. Bà không có bất cứ phản ứng nào dù khi nãy cô đã la hét rất to? Lẽ nào âm thanh không thể lọt được ra khỏi phòng Tùng? Nhã định sang phòng bà Trầm, nhưng vừa chống tay xuống sàn, cô nghe thấy tiếng bà giữa những tràng ho. “Nhã…khụ khu…ngủ…chưa cháu?” “Dạ chưa. Bà ngủ đi, khuya rồi.” Suốt đêm, Nhã không dám nằm lên giường, cũng không dám ra khỏi phòng, cô cứ ngồi tựa lưng vào vách, tay cầm chiếc đèn pin, mắt hướng về khe hở giữa hai tấm ván. Mớ tóc và con mắt trắng dã ghê rợn kia không hiện lại nữa, nhưng vỏ gối của Tùng đầy những vết nước bùn. Gần sáng, Nhã lấy chiếc băng ra khỏi máy. Hai cuộn băng đều ướt, lớp dây màu nâu dính bết vào nhau. Cô mở ngăn đựng pin kiểm tra lần nữa. Bên trong vẫn trống không. Khi gà trong xóm râm ran gáy, bà Trầm chống gậy sang phòng Tùng. Bà đứng ngoài cửa, chưa bước vào đã hỏi: “Nó dừng trên mái buồng thằng Tùng phải không?” Nhã nhìn bà nội. “Bà nghe thấy sao?” “Ừ. Tiếng chân nặng như vậy, người còn thức trong nhà này sao không nghe được.” “Nó đội nón của mẹ.” Bà Trầm đang bước vào thì dừng lại. Cây gậy tre trượt khỏi tay, rơi xuống nền. “Cháu có nhìn nhầm không?” “Vết vá bằng chỉ xanh vẫn còn nguyên. Cháu không thể nhầm.” Bà Trầm lần đến bên Nhã, đưa tay sờ lên mắt, mũi rồi hai bên má cô. “Nó có nhìn cháu không?” “Có.” “Nó có gọi tên cháu không?” “Không. Nó chỉ gõ ba lần trên mái.” Bà Trầm lùi lại, ngồi xuống mép giường. “Vậy là đã đủ mười hai năm… Nhưng tại sao nó lại mang nón của mẹ cháu?” “Bà vừa nói mười hai năm gì?” Bà biết mình lỡ lời nên im bặt. Nhã lấy đoạn rơm trong khăn tay ra, đặt vào lòng bàn tay bà. “Thứ này nằm trong tay Tùng. Có phải lấy từ áo tơi của con chó đó không?” Bà Trầm sờ đoạn rơm rồi vội ném xuống đất. “Đốt nó đi.” “Tại sao?” “Đốt ngay rồi thu xếp rời khỏi làng.” “Cháu không đi đâu hết.” “Cháu muốn chết giống Tùng mới chịu sao?” “Chính vì Tùng chết nên cháu phải ở lại. Nếu bà biết chuyện gì, bà nên kể cho cháu.” Bà Trầm cúi xuống tìm cây gậy. “Người chết đã mang chuyện đó đi rồi. Đào lên chẳng giúp được ai.” “Nhưng cháu nghĩ có người đang tìm cách giết cả cháu.” Bà không nói thêm. Bà nhặt gậy rồi trở về buồng, đóng cửa lại. Sau khi trời sáng, Nhã trèo lên mái kiểm tra chỗ con chó đã dừng lại. Trên hàng ngói phủ rêu có hai dấu chân lớn. Mỗi dấu lõm sâu xuống nhưng viên ngói không vỡ. Trong dấu chân còn đọng chút nước màu đen. “Có thật nó là con chó đá trước miếu không?” Nhã thắc mắc suốt buổi sáng, nhưng không muốn hỏi bà, nên ăn trưa xong, cô quyết định lấy xe đạp của Tùng đi tới miếu Cửa Nước tự mình tìm hiểu.
Chương trước Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ