Chương 2: BÀ NỘI KHÔNG NÓI

Đầu giờ chiều, người ta làm lễ nhập quan. Khi thi thể Tùng được nhấc lên, đoạn rơm trong tay áo cậu rơi xuống nền. Nhã lặng lẽ giẫm lên. Đợi mọi người quay sang phía áo quan, cô cúi xuống nhặt rồi gói vào chiếc khăn tay. Sau khi nhập quan, Nhã đi sang buồng của Tùng. Nhà của ông bà nội Nhã là căn nhà ngói năm gian quay mặt về hướng nam. Buồng Tùng nằm ở đầu hồi phía đông, có một cửa sổ nhìn ra khoảng sân hông rộng chừng hai mét. Qua bức tường gạch thấp ở cuối sân là con ngõ nhỏ, bên kia ngõ chính là nhà ông Lễ. Từ cửa sổ buồng Tùng có thể nhìn thấy mái nhà ông Lễ, nhưng không thể nhìn được sống mái nhà mình. Ngoài hiên phía đông còn dựng một chiếc thang tre. Trên các bậc thang phủ bụi, không thấy dấu giày dép hay dấu tay. Nếu Tùng dùng chiếc thang ấy trèo lên mái, bụi không thể còn nguyên như vậy. Trong phòng, chăn màn đã được gấp gọn. Trên bàn có một chiếc đài cassette nhỏ đã mở nắp pin, bên trong không có viên pin nào, cạnh đó là vài cuốn sách và bộ đồ nghề sửa điện. Cuốn lịch treo tường dừng ở ngày mười ba tháng Tám, dưới là ngày mười một tháng Bảy âm lịch, được khoanh một vòng tròn bằng bút bi đỏ. Nhã mở ngăn bàn. Bên trong chỉ có mấy lá thư của cô, một quyển sổ ghi tiền công và vài tờ báo cũ. Cô kiểm tra gầm giường, hòm quần áo rồi đến chiếc tủ đặt sát vách. Khi thấy dấu chân tủ mờ mờ trên sàn, Nhã dồn sức kéo chiếc tủ về chỗ cũ, thì thấy mảng tường vừa bị tủ che có mấy vết bùn còn mới. Nhã chạm tay lên vết bùn khô, đột nhiên nhớ đến đầu ngón trỏ bị xước của Tùng và đoạn rơm mắc vào mặt trong tay áo của em. Bên ngoài có tiếng chân người. Ngoái lại, Nhã thấy Lộc đang đứng ở cửa. Anh bằng tuổi Nhã, làm nghề thợ xây và lợp mái trong làng. Trước kia hai người học chung trường cấp hai. Sau khi Nhã đi học sư phạm, Lộc ở lại quê làm nghề cùng cha. Hai ngày qua có lẽ anh không ngủ. Mắt anh đỏ, quần áo vẫn còn dính vôi. “Tôi nghe nói cô về rồi,” Lộc nói. “Anh là người tìm thấy Tùng phải không?” Lộc nhìn ra sân rồi mới bước vào. “Phải.” “Anh tìm thấy em ấy lúc nào?” “Khoảng gần mười hai giờ đêm.” “Tại sao lúc ấy anh lại đi ngang qua nhà tôi?” “Tôi sang bên nhà cậu tôi. Cậu muốn tôi xem lại cái mái.” “Nửa đêm anh vẫn sang sửa mái?” “Tôi chỉ sang xem, bàn việc. Định sáng hôm sau mới sửa.” “Khi về ngang đây, anh thấy Tùng nằm dưới hiên?” Lộc gật đầu. “Tùng còn sống không?” “Còn thở, nhưng rất yếu. Tôi gọi người đưa lên trạm xá. Đi được nửa đường thì nó mất.” “Anh có thấy ai ở gần đó không?” Lộc chưa kịp trả lời thì bên ngoài có tiếng ông Hựu gọi tên anh. Sắc mặt Lộc thay đổi. Anh bước lùi ra cửa, nói nhỏ: “Sau khi chôn Tùng, cô nên đưa bà lên thị xã. Đừng ở lại qua đêm rằm.” “Anh biết chuyện gì phải không?” “Không nói được lúc này.” “Tại sao? Đêm ấy anh đã nhìn thấy ai?” Lộc quay đầu nhìn lên mái nhà. “Tôi không nhìn rõ mặt. Chỉ thấy một người chống gậy đi ra qua mé cửa hông.” Nói xong, anh bước nhanh ra sân. Đám tang kết thúc khi trời sắp tối. Quan tài Tùng được đưa ra nghĩa địa phía bắc làng. Người trong họ làm theo lời bà Trầm, hạ huyệt trước lúc trăng lên. Bà Trầm không ra mộ. Bà ngồi trong buồng, lần chuỗi hạt, không nói chuyện với ai. Sau khi mọi người về hết, căn nhà trở nên vắng hẳn. Ngoài sân chỉ còn mấy chiếc ghế nhựa xếp chồng và vài bó hương cháy dở. Ông Hựu ở lại sau cùng, dặn Nhã cài cổng cẩn thận. “Dạo này làng có trộm. Đêm nghe tiếng gì cô cũng không được mở cửa.” “Trộm lên cả mái nhà sao?” Ông Hựu nhìn cô. “Bà cô đã nói gì?” “Bà không nói gì cả.” “Vậy thì đừng hỏi. Sáng mai thu xếp đưa bà lên thị xã. Căn nhà này khóa lại cũng được.” “Em cháu vừa chết, cháu chưa thể đi.” “Tùng chết vì tai nạn. Ở lại cũng không thay đổi được gì.” Ông Hựu nói xong liền chống gậy ra về. Ông đi nhanh hơn bình thường, lúc qua cổng còn nhìn về phía mặt trăng vừa nhô lên sau lũy tre. Tối đó, Nhã nhất định ngủ trong phòng Tùng. Bà Trầm biết chuyện, gọi cô sang ngăn lại. “Bà đã bảo không được ngủ ở đó.” “Cháu cần biết Tùng chết như thế nào.” “Nó ngã từ trên mái xuống.” “Bà cũng không tin chuyện đó.” Bà Trầm quay mặt vào vách. “Có những chuyện biết rồi chỉ thêm khổ.” Tự dưng Nhã buột miệng: “Hồi mẹ cháu mất tích bà cũng nói câu này!” Bàn tay bà đang lần tràng hạt chợt dừng lại. Năm 1980, mẹ Nhã rời khỏi nhà vào một đêm tháng Bảy rồi không trở về. Người làng nói bà buồn chuyện gia đình nên nhảy xuống sông. Cha Nhã cùng dân làng tìm suốt nhiều ngày nhưng không thấy xác. Từ đó, trong nhà không ai được nhắc đến bà. Nhã ngồi xuống cạnh giường. “Mẹ cháu cũng mất tích vào tháng Bảy âm lịch, cùng thời điểm này. Bà không thấy quá trùng hợp sao?” Bà Trầm kéo chăn lên ngang ngực. “Về phòng ngủ đi.” “Bà nói cho cháu biết đi. Cháu từng nghe rằng, cứ mỗi mười hai năm làng mình lại xảy ra chuyện gì đó phải không?” Bà Trầm như không nghe Nhã hỏi, tiếp tục dặn dò cô: “Đêm nay, nếu nghe tiếng áo tơi kéo trên mái thì nhắm mắt lại. Nó có gọi tên cũng không được đáp.” “Nó là ai? Sao nó lại gọi cháu?” Bà Trầm nhắm mắt lại, không nói nữa.
Chương trước Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ