Chương 1: VỀ LÀNG

Chuyện xảy ra vào tháng Bảy âm lịch năm 1992, tại làng Vọng Nguyệt, một ngôi làng cổ nằm ven sông Đáy, khi ấy thuộc tỉnh Nam Hà. Vọng Nguyệt không lớn, nhưng trong làng có đến bảy dòng họ sinh sống lâu đời. Nhà cửa xây san sát nhau, phần lớn vẫn là nhà ngói ba gian hoặc năm gian, phía trước có sân gạch, phía sau là vườn chuối, ao bèo. Đường từ ngoài đê dẫn vào làng đã được rải đá dăm, nhưng cứ mưa xuống là nước đọng thành từng vũng lớn. Điện mới được kéo về vài năm, hôm có hôm không, nên hầu như nhà nào cũng giữ lại đèn dầu và vài bó nến để dùng khi mất điện. Cuối làng có một ngôi miếu nhỏ gọi là miếu Cửa Nước. Trước miếu đặt một con chó đá xám đen, hai chân trước duỗi thẳng, miệng ngậm chiếc vòng sắt đã gỉ. Không ai biết pho tượng có từ bao giờ. Những người cao tuổi trong làng chỉ nhớ từ khi họ còn bé, con chó đã nằm ở đó, đầu hướng về phía con lạch thông ra sông. Trẻ con bị cấm trèo lên lưng tượng. Người lớn đi ngang qua miếu sau khi trời tối thường tránh nhìn thẳng vào mắt nó. Mỗi dịp đầu năm hoặc ngày rằm, người ta vẫn mang hương, hoa đến miếu, nhưng ít ai dám sờ tay lên mình chó đá. Trong làng lưu truyền một câu chuyện rằng, cứ mười hai năm một lần, từ đêm mười một đến đêm rằm tháng Bảy, con chó đá sẽ rời khỏi bệ. Nó đội một chiếc nón lá, mặc áo tơi rồi đi qua những mái nhà trong làng. Nó dừng trên mái nhà nào đủ ba đêm, nhà đó sẽ có người chết. Người trẻ phần lớn không tin. Họ cho rằng đó là chuyện do các cụ đặt ra để dọa trẻ con, không cho chúng ra bờ sông chơi vào ban đêm. Tuy vậy, đến tháng Bảy năm ấy, nhiều nhà vẫn lặng lẽ đóng cửa từ sớm. Có người còn dùng vôi vạch một đường chéo trước cổng, treo cành dâu bên cửa sổ và úp tất cả chum nước ngoài sân. Nhã không biết những chuyện đó. Cô ba mươi tuổi, là giáo viên dạy văn tại một trường cấp hai ở thị xã Phủ Lý. Sau khi tốt nghiệp sư phạm, cô xin ở lại thị xã, mỗi năm chỉ về quê vài lần. Từ ngày mẹ mất tích, Nhã không còn muốn sống trong căn nhà cũ ở Vọng Nguyệt. Cha cô qua đời năm 1989, trong nhà chỉ còn bà nội và Tùng, em trai cô. Trước rằm tháng Bảy hai ngày, Nhã đang chấm bài trong phòng giáo viên thì bác bảo vệ mang vào cho cô một bức điện tín. Trên mảnh giấy chỉ có mấy chữ ngắn ngủi: “Tùng ngã mái nhà, đã mất. Về ngay. Hựu.” Nhã đọc đi đọc lại, tinh thần hoảng loạn, nước mắt trào ra, ướt hết bức điện tín. Chỉ tuần trước, Tùng còn gửi lên cho cô một túi hồng ngâm cùng lá thư bảo rằng sau vụ gặt sẽ lên thị xã chơi. Trong thư, em cô còn nhắc mái nhà phía đông bị dột, phải nhờ Lộc mua mấy viên ngói mới về thay. Chữ viết ngay ngắn, giọng điệu bình thường. Nhã lập tức xin nghỉ dạy, chỉ kịp xếp vài bộ quần áo rồi tất tả đi nhờ xe đồng nghiệp ra bến xe gần đó. Chuyến xe về huyện đông nghẹt người, vừa đi vừa đón khách, nên mãi quá trưa mới tới nơi. Từ huyện vào làng còn gần năm cây số. Nhã thuê một người chạy xe ôm chở về, nhưng khi cách cổng làng chừng nửa cây số, người đàn ông đột nhiên dừng lại. “Cô chịu khó đi bộ đoạn còn lại nhé.” “Tại sao không đưa tôi vào tận nhà?” “Đường trong đó xấu, xe tôi đang yếu máy.” Nhã nheo đôi mắt đỏ mọng, nhìn đoạn đường trước mặt. Trời nắng, mặt đường khô, ngoài vài chỗ lồi lõm ra chẳng có gì khó đi. Cô định trả thêm tiền nhưng người đàn ông vẫn lắc đầu. Ông đặt chiếc túi xách xuống, nhận tiền rồi quay đầu xe đi ngay. Nhã đứng nhìn theo, trong lòng có chút khó chịu, nhưng cũng đành xách túi đi bộ vào làng. Dọc đường, nhà nào cũng đóng cổng. Mấy người đàn bà đang ngồi nhặt rau dưới gốc nhãn vừa nhìn thấy Nhã đã ngừng nói chuyện. Một người định đứng lên chào nhưng bị bà ngồi bên cạnh kéo tay xuống. Họ nhìn cô đi qua, nét mặt không giống đang thương xót người vừa mất em mà giống như đang lo ngại một việc nào khác. Khi Nhã về tới nhà, Tùng vẫn chưa nhập quan. Trong sân dựng một chiếc rạp bằng bạt xanh. Người trong họ ngồi thành từng nhóm, nhưng không ai nói lớn. Gian nhà chính đã dọn hết bàn ghế, ở giữa đặt một chiếc giường tre. Tùng nằm trên giường ấy, mặt phủ khăn trắng, bên cạnh là chậu nước lá bưởi. Nhã đặt túi xuống, đi thẳng vào nhà. Một người phụ nữ họ hàng chạy theo, định giữ cô lại. “Cô Nhã mới về, nghỉ một chút đã.” Nhã không nghe. Cô quỳ xuống bên giường, chậm rãi kéo vuông khăn trắng khỏi mặt em. Khuôn mặt Tùng tái nhợt, bên thái dương trái có một vết bầm tím. Tóc cậu đã được chải lại. Nếu không nhìn kỹ, người ta có thể nghĩ Tùng chỉ đang nằm ngủ. Nhã cầm lấy bàn tay em. Tay Tùng lạnh cứng, những ngón tay hơi co lại. Cô đã dặn lòng sẽ bình tĩnh hết sức có thể để lo xong hậu sự cho em, nhưng không hiểu sao nhìn thấy Tùng nằm im, thân người lạnh giá, nước mắt lại không ngăn được, mà cứ tuôn ra: “Ai… ai phát hiện ra em ấy?” Mấy người đứng gần đó nhìn nhau, không ai trả lời. Từ ngoài hiên, một người đàn ông cao tuổi chống gậy bước vào. Đó là ông Cả Hựu, trưởng họ Trần, cũng là người đã gửi điện tín cho Nhã. Ông ngoài sáu mươi, từng làm chủ nhiệm hợp tác xã, dù nghỉ đã lâu nhưng trong làng vẫn có tiếng nói. Nhà nào có tranh chấp đất cát, cưới hỏi hay ma chay đều phải qua ông bàn bạc. “Lộc phát hiện ra nó,” ông Hựu nói. “Khoảng gần giờ Tý đêm hôm kia.” “Em ấy ngã ở đâu?” “Dưới mái hiên phía đông.” “Nửa đêm em ấy còn trèo lên mái làm gì chứ?” “Mấy hôm trước mưa lớn, nhà bị dột. Chắc nó tranh thủ thay ngói.” “Thay ngói lúc nửa đêm?” Ông Hựu hơi nhíu mày, nhìn đôi mắt đỏ mọng của Nhã. “Chuyện xảy ra thế nào thì giờ không ai hỏi được nó nữa. Có thể tối ấy trong nhà nóng quá, nó thức dậy rồi nhớ đến mái dột. Nó vốn làm việc chẳng theo giờ giấc.” Nhã khóc, không còn muốn tranh cãi. Cô vuốt ve hai bàn tay của em trai. Tùng làm ruộng và thường phụ Lộc sửa nhà nên lòng bàn tay có nhiều vết chai, đầu ngón trỏ bên phải còn có vết xước mới. Nhã biết lúc đặt Tùng lên giường tre, có người đã lau rượu thay quần áo mới cho em, nhưng hai tay chắc không lau kỹ, nên phần móng trỏ bàn tay phải còn có một vệt máu khô. Đã vậy, khi đặt tay trái Tùng lại chỗ cũ, Nhã còn nhìn thấy một đoạn rơm ngắn dính ở mặt trong tay áo cậu. Sợi rơm có một đầu còn dính bùn. Nhã vừa định lấy nó ra thì bà Trầm từ trong buồng bước tới. Bà nội Nhã đã gần tám mươi tuổi. Hai năm trở lại đây mắt bà mờ dần, chỉ còn phân biệt được bóng người. Bà chống một cây gậy tre, tay kia lần theo vách. Khi đến gần chiếc phản, bà đặt tay đúng lên cánh tay Tùng rồi vuốt xuống, khép các ngón tay người chết lại. “Đừng đụng vào nó nữa.” Bà nói. Nhã ngẩng lên. “Cháu thấy có một đoạn rơm…” “Để yên cho nó mang theo.” “Hình như là rơm trong áo tơi, giống cái áo ngày xưa của bà…” Bà Trầm không đáp. Bà quay mặt ra phía cửa, hỏi: “Hôm nay là ngày bao nhiêu?” Một người đứng gần đó trả lời: “Ngày mười ba, bà ạ.” “Trăng lên lúc mấy giờ?” “Chắc hơn bảy giờ.” Bà Trầm nắm tay Nhã, giọng gấp gáp: “Phải chôn thằng Tùng trước lúc trăng lên.” Ông Hựu gõ đầu gậy xuống nền nhà. “Giờ nhập quan với hạ huyệt đã xem rồi. Chị đừng làm mọi người rối thêm.” “Không được để nó nằm trong nhà khi trăng lên.” “Chị vào nghỉ đi. Hai hôm nay chị thức nhiều nên đầu óc không còn tỉnh táo.” Bà Trầm quay về phía ông Hựu. Đôi mắt mờ đục không nhìn rõ, nhưng gương mặt bà lại hướng đúng chỗ ông đang đứng. “Ông Hựu, có phải nó đã trở về rồi không?” Cây gậy trong tay ông Hựu ngừng gõ. Những người đứng quanh chiếc phản đều cúi mặt, không ai nhìn sang người bên cạnh. “Chị đau buồn quá nên nghĩ quẩn. Không có thứ gì trở về cả.” Bà Trầm bật cười, giọng đầy cay đắng: “Nếu nó không trở về, tại sao thằng Tùng phải chết?” Ông Hựu sai hai người phụ nữ đưa bà về buồng. Bà Trầm không chống lại, nhưng trước khi đi, bà gọi Nhã đến gần. “Đêm nay cháu đừng ngủ trong buồng thằng Tùng.” “Vì sao hả bà?” “Nghe có tiếng động trên mái cũng không được ngó lên.” Nhã muốn hỏi thêm nhưng bà đã quay mặt đi.
Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ