Chương 2: Đổi mệnh

Sáng hôm sau, Phùng Lễ đã thức dậy từ rất sớm. Người trong nhà không ai nhắc lại chuyện xảy ra vào ban đêm, ít nhất là trước mặt hai vị khách lạ như chúng tôi. Anh ta xuống bếp nhóm lửa nấu một nồi cháo trắng, vừa nhóm lửa vừa liên tục ngoái về phía gian ăn như thể chỉ cần lơ đãng đi một nhịp là chiếc bát ở cuối bàn sẽ lại tự xuất hiện. Lục Thanh bước xuống sau, đôi mắt quầng thâm trũng sâu, mái tóc búi vội còn xơ xác. Chị ta vô tình lướt nhìn chiếc bàn gỗ một cái rồi giật mình quay ngoắt đi chỗ khác. A Từ lững thững đi theo mẹ, tay ôm chiếc chăn mỏng, vừa đi vừa ngáp vặt. Trông nó chẳng khác nào một đứa trẻ bị đánh thức giữa chừng sau một đêm mộng mị. Thằng bé kéo ghế ngồi xuống, hai tay ôm chặt cốc nước ấm ba đưa, ngước lên hỏi: “Hôm nay con có được nghỉ học không ạ?” Phùng Lễ trầm giọng bảo có vì anh ta chưa dám dại dột để con ra khỏi nhà sau biến cố đêm qua. A Từ nghe vậy thì vui ra mặt, lập tức hỏi có được chơi game không. Lục Thanh bảo chỉ được một tiếng, ăn sáng xong phải đi ngủ bù. Nó bĩu môi than mẹ khó tính rồi cúi đầu thổi cháo. Cảnh tượng ấy bình dị đến mức khiến tôi bắt đầu hoang mang tự hỏi phải chăng đêm qua vì quá mệt mỏi mà tôi và Hoài An đã tự huyễn hoặc ra bóng ma hay không. Chỉ có Hoài An là vẫn giữ nguyên vẻ điềm nhiên đến lạ. Hắn nhấp một ngụm trà nóng bốc khói, thong thả dời mắt sang Phùng Lễ: “Hôm nay ông cho tôi xem phòng bà cụ được chứ?” Phùng Lễ im lặng một lúc rồi rút từ túi áo ra chùm chiếc chìa khóa đồng đặt cạch xuống mặt bàn. Trên khoen chìa còn buộc một sợi dây vải màu đỏ đã sờn cũ, nút thắt đóng chặt vì lâu ngày không đụng đến. Anh ta bảo: “Từ hôm đám tang đến giờ, ngoài hai bận vào lấy đồ khâm liệm ra thì tôi chưa bước chân vào đó lần nào.” Tôi hỏi vậy tại sao vẫn giữ chùm chìa khóa bên người, anh cười khổ bảo người đã mất rồi thì đồ đạc của họ càng ít người đụng vào càng tốt, nhất là mẹ anh trước khi mất còn dặn đi dặn lại rằng trong phòng có mấy thứ tuyệt đối không được đem vứt. Hoài An nghe vậy rồi gật đầu, bảo lát nữa mở cửa thì để anh đi cùng. Phùng Lễ liếc sang Lục Thanh như ngầm thăm dò. Chị cúi đầu gắp dưa muối, im lặng không đáp. A Từ ngồi bên cạnh lơ đãng dùng đầu thìa gõ nhẹ vào thành bát cạch, cạch, dáng vẻ uể oải của một đứa trẻ chưa tỉnh ngủ. Cánh cửa phòng bà Phùng Tố Lan nằm cô quạnh ở cuối hành lang tầng hai, bên ngoài vẫn còn nguyên sợi chỉ đỏ niêm phong từ trước. Hoài An cẩn thận quan sát vị trí chiếc khóa rồi mới nhẹ tay gỡ sợi chỉ xuống. Két... Khung cửa mở ra, một luồng khí lạnh u ám lập tức phả thẳng vào mặt. Nó không hẳn là mùi hôi hám của gian phòng kín gió lâu ngày mà là tổng hợp của mùi gỗ mục, vải vóc cũ và giấy ngấm hơi nước qua nhiều năm tháng. Cửa sổ đóng chặt, tấm rèm nâu sẫm rủ xuống che kín ánh sáng. Trên bệ cửa phủ một lớp bụi mỏng. Chiếc giường gỗ kê sát tường, chăn gối được gấp vuông vức ở cuối góc. Bên cạnh là chiếc tủ ba ngăn, đặt một hộp kim chỉ, bình nước sứ và cái đồng hồ báo thức đã chết kim từ lâu. Phùng Lễ chần chừ đứng ngoài hành lang chỉ dám nói vọng vào “Mẹ tôi sinh thời rất ghét con cái tự ý lục lọi. Hai người cần gì cứ tự nhiên.” Hoài An bước vào trước. Hắn không vội mở ngay các ngăn kéo mà phóng ánh mắt bao quát từ trần nhà xuống sàn, soi kỹ từng góc tường, vạt giường và bệ cửa sổ. Tôi theo sau, đến bước chân cũng nghe rõ tiếng gỗ sàn nảy lên rắc, rắc dưới đế giày. Trên bàn trang điểm đặt một chiếc hộp phấn bằng đồng hoen gỉ, cái lược gỗ ngả màu và lọ dầu gió nằm cạnh chiếc khăn tay. Hoài An kéo ngăn kéo đầu tiên: Bên trong chỉ toàn đơn thuốc, sổ khám bệnh và hóa đơn tích trữ theo thời gian. Hắn lướt qua rồi mở tiếp ngăn thứ hai: Vài cuộn chỉ đỏ, túi kim khâu, xấp tiền giấy cũ và vài thứ linh tinh. Đến ngăn cuối cùng, tay hắn khựng lại. Ngăn này có một ổ khóa bằng đồng đã xỉn màu, Hoài An mượn xâu chìa khóa của Phùng Lễ rồi lần lượt tra thử từng cái chìa khóa nhưng không có chiếc nào vừa. Phùng Lễ đứng ngoài hành lang nhìn vào, bảo từ ngày mẹ mất anh chưa từng thấy chiếc chìa khóa của ngăn này, cũng không biết bên trong có gì. Hoài An nhìn ổ khóa thêm một lúc rồi thôi, chỉ lấy cuốn sổ bìa xanh nằm ở phía ngoài ra xem. “Cuốn sổ đó mẹ tôi dùng để ghi chép việc nhà” Phùng Lễ đứng ngoài nói vọng vào “Lâu lắm rồi tôi không sờ tới.” Hoài An cầm cuốn sổ lên, không mở ngay mà miết nhẹ đầu ngón tay lên lớp bìa vải đã bạc màu. Dưới kẽ chỉ may còn dính những hạt bụi trắng mịn như vôi. “Mẹ ông hay ghi gì trong này?” “Toàn chuyện linh tinh thôi, ngày giỗ, tiền chợ, ai nợ ai trả... Có khi bà ghi cả những ngày mưa gió để nhớ lịch phơi thuốc.” “Đâu có giống sổ sách của một người mê tín” Tôi lẩm nhẩm. “Mẹ tôi không mê tín đâu” Phùng Lễ thở dài “Bà từng học chữ Hán từ thời cụ nội, tính toán giỏi lắm. Trước khi đi lấy chồng bà còn quản lý sổ sách cho tiệm buôn. Chỉ là càng về già, bà càng chìm đắm vào mấy chuyện tâm linh cổ hèn.” Hoài An thong thả lật từng trang sổ. Chỉ toàn những dòng vụn vặt: Tiền mua gạo, củi lửa, tháng nào đóng tiền sửa mái, đám giỗ nhà ai gửi vật gì, thỉnh thoảng xen vào vài câu nhắc nhở ngắn chẳng có đầu đuôi, Hắn lật thêm vài trang nữa thì bỗng nhiên một tấm ảnh đen trắng rơi ra: Cô bé tầm mười mấy tuổi, tóc tết hai bên, mặc áo len cổ cao màu sáng, tay ôm chiếc đèn lồng giấy. Bức ảnh đã ngả màu, góc phải cháy sém nhưng nụ cười cô bé vẫn rõ tươi tắn. Phùng Lễ cầm tấm ảnh lên, ngón tay khẽ miết qua góc đã cháy, giọng thấp xuống: “Đây là Phùng Ngọc.” A Từ đang chơi ở gần đó, nghe thấy tên Phùng Ngọc liền chạy lại xem. Nó cầm lấy tấm ảnh, nhìn chăm chăm rồi nói: “Có lẽ bây giờ bà nội với cô đã gặp nhau rồi?” “Ừ, hai người đã gặp nhau ở trên trời rồi con” Phùng Lễ vuốt tóc con “Nhưng bà nội bảo cô ở dưới nước mà?” Câu nói của A Từ làm Phùng Lễ sững người. Anh gượng cười xoa đầu nó: “Bà già rồi, nói năng lảm nhảm, con đừng tin.” “Không có đâu, trước hôm bà mất, bà còn nói là bà sẽ ra bến nước tìm cô Phùng Ngọc về mà.” Phùng Lễ cau mày: “Sao giờ mới nói? Bến nước nào” A Từ đáp tỉnh bơ: “Con quên, thì cái bến nước cũ, chỗ có cái nhà mái ngói thấp thấp ấy.” Nói xong, A Từ trả lại bức ảnh rồi chạy đi kiếm mẹ, hoàn toàn không bận tâm đến bầu không khí ngột ngạt vừa bao trùm lấy người lớn. Hoài An quay đầu hỏi Phùng Lễ: “Phùng Ngọc ngày trước có phải chết chỗ này không?” Phùng Lễ hoang mang đáp: “Ừ đúng rồi.” Lúc ấy Hoài An mới nhìn lại tấm ảnh trong tay tôi. Hai chuyện vốn rời rạc từ sáng đến giờ bỗng nối lại với nhau. Buổi trưa hôm đó, Lục Thanh xuống bếp nấu mấy bát mì suông. Chị không ăn cùng mà chỉ lặng lẽ ngồi ở góc bàn, hai tay ôm lấy ly nước ấm. Hoài An nhấp một ngụm nước, lên tiếng hỏi xem sau khi xuất viện bác sĩ có dặn dò gì đặc biệt không. Chị khẽ đáp chỉ cần nghỉ ngơi, kiêng thức khuya và theo dõi huyết áp thường xuyên. Tôi ghé sang hỏi xem cơn choáng váng dạo trước có tái phát lần nào nữa không, chị lắc đầu bảo chưa. Vừa lúc ấy, Phùng Lễ từ ngoài xưởng bước vào, trên tay vẫn cầm một thanh gỗ chưa kịp mài xong. Anh lo lắng cúi xuống nhìn vợ, hỏi xem chị có bị đau đầu hay không. Lục Thanh chỉ khẽ lắc đầu. A Từ đang ngồi vắt chân trên ghế, đang cặm cụi chơi game. Nghe ba hỏi mẹ, nó dừng tay, ngẩng đầu lên góp chuyện: “Hôm nay mẹ chưa uống thuốc đâu.” Lục Thanh xoa đầu con bảo: “Mẹ uống rồi mà.” “Chưa đâu” Thằng bé nhếch môi khăng khăng “Con thấy mẹ đặt gói thuốc trên bàn rồi đi thẳng ra bếp, đã uống miếng nào đâu.” Phùng Lễ bật cười, gõ nhẹ lên trán con trai: “Trẻ con ranh mãnh, đừng có quản chuyện người lớn.” A Từ hất tay ba ra rồi lại vùi đầu tiếp tục chơi game của nó. Buổi chiều, Hoài An đề nghị ra bến nước cũ. Phùng Lễ ngập ngừng hồi lâu nhưng rồi cũng tò mò muốn biết mẹ mình đã lén đến đó làm gì trước khi chết. Chúng tôi băng qua con đường đất quanh co, hai bên là những cánh đồng bỏ hoang và vườn dâu xơ xác. Bến nước cũ nằm khuất sau dãy nhà kho mục nát. Bến nước xưa kia vẫn còn đó nhưng mái ngói đã vỡ hoác một góc, những cột gỗ đen xì vì mục nát, lan can đá bám đầy rêu xanh. Phùng Lễ chỉ tay xuống bậc thềm đá chìm trong nước: “Hồi trước, con Ngọc hay ngồi ở đó chơi.” Bỗng nhiên anh nhớ lại, khoảng nửa tháng trước khi mất, có lần anh ngủ dậy sớm đã thấy gấu quần mẹ bám đầy bùn đen, đôi giày vải ướt sũng. Lúc đó bà chỉ chống chế là đi chợ sớm. Chúng tôi đi vòng qua phía sau bến nước. Bậc đá bến nước đã sạt lở một mảng lớn. Hoài An bảo tôi rọi đèn pin xuống lòng nước đục. Dưới lớp bùn khoảng nửa mét, lộ ra một hàng gạch cổ xếp ngang giống như phần móng của một công trình cũ đã chìm xuống. “Dưới này từng có hầm nước” Phùng Lễ sực nhớ “Thuở nhỏ tôi nghe ông bảo dưới thủy tạ có một khoang chứa nhỏ. Nhưng sau khi con Ngọc mất tích, địa phương đã cho lấp kín lại vì sợ yếm khí hãm hại trẻ con.” Tôi hỏi yếm khí là gì, Hoài An đáp ngắn gọn là khí tù dưới những khoang kín lâu ngày nhưng không có ý định giải thích thêm. Hoài An đăm chiêu nhìn xoáy xuống vệt nước tối om. Một lúc sau, hắn bảo tôi soi đèn sát vào chân cột. Ánh sáng quét qua lớp rêu, dừng lại ở một đoạn dây đỏ đã bạc màu, bên dưới treo một chiếc túi vải xanh mốc. Hoài An dùng cành cây khều lên. Trong túi vẫn còn một ít tro giấy tiền vón cục chưa cháy hết, mấy hạt gạo mục và một nhúm tóc đã bết cứng. Phùng Lễ nhìn chiếc túi, sắc mặt dần thay đổi. “Mẹ tôi...” Hoài An không trả lời câu ấy. Hắn đưa đèn pin rà xuống những bậc đá dẫn sát mặt nước rồi nhìn sang phần nền gạch vừa lộ ra dưới lớp bùn. “Không phải chỉ đến thắp hương đâu.” Tôi nhìn hắn. “Ý cậu là sao?” Hắn nhìn ba thứ ấy rất lâu rồi mới hỏi: “Mẹ anh có từng nhắc đến chuyện đổi mạng không?” Phùng Lễ khựng người. “Có ... nhưng tôi cứ tưởng bà chỉ nói mê nói sảng.” Hoài An nâng sợi chỉ đỏ lên bằng đầu cành cây, không chạm tay vào. “Nếu bà ấy thật sự tin chuyện đó thì những thứ này không phải để cúng bình thường.” Hắn chỉ vào sợi chỉ. “Chỉ đỏ dùng để buộc đường. Người xưa tin rằng người sống và người chết không nên tự ý đi cùng một lối nên khi muốn dẫn một vong linh trở lại thì phải dùng sợi chỉ đó đánh dấu đường cho nó nhận ra.” Hắn lại chỉ vào mấy hạt gạo trong túi. “Gạo là phần giữ chân người sống. Trong chuyện đổi mạng, người ta không chỉ gọi người chết về mà còn phải giữ lại một người trong nhà, để cái mệnh cũ có chỗ bám vào.” Cuối cùng, ánh đèn dừng trên lớp tro giấy tiền đã gần mục nát. “Còn thứ này là lễ vật để mua đường dưới nước. Không phải cho người sống.” Tôi nhìn xuống mặt kênh, tự nhiên lạnh sống lưng. “Ý cậu là...” Hoài An nhìn về phía thủy tạ, nơi phần mái ngói mục nát đang chìm dần vào bóng tối. “Có thể mẹ cậu đã không chỉ đến đây để nhớ con gái. Bà ấy đang đổi mạng.” Phùng Lễ sắc mặt trắng bệch. “Đổi cho ai?” Hoài An không trả lời ngay. Hắn nhìn sợi chỉ đỏ, nhìn túi vải rồi lại nhìn xuống mặt nước nơi Phùng Ngọc từng biến mất. “Muốn đưa một người đã chết trở về thì phải có một người khác nhường chỗ.” Phùng Lễ đứng yên hồi lâu, rồi chậm rãi nhớ ra những lần mẹ mình thức dậy từ rất sớm, quần áo dính bùn mà vẫn nhất quyết nói là đi chợ. Hoài An nhìn xuống mặt nước đục ngầu dưới chân thủy tạ, giọng thì thảo: “Bà ấy đã lên kế hoạch từ lâu rồi.” Trời đã nhá nhem tối khi chúng tôi mò về đến xưởng. A Từ đang ngồi chơi trước thềm cửa. Thấy chúng tôi, nó lon ton chạy lại: “Ba ơi, có thấy chị Phùng Ngọc không?”. Phùng Lễ mắng con hỏi linh tinh, A Từ cười bảo nó chỉ hỏi thôi. Hoài An cúi xuống ngang tầm mắt thằng bé: “Cháu từng ra bến nước rồi à?” A Từ gật đầu “Vâng, bà nội dắt cháu đi.” “Bà có dặn cháu điều gì không?” A Từ ngẫm nghĩ một lúc rồi lí nhí: “Bà bảo ... tuyệt đối không được bước xuống nước”. Tôi hỏi có nhìn thấy ai ở đó không, nó lắc đầu. “Không ạ.” Hoài An không hỏi tiếp, chỉ xoa đầu nó rồi đứng dậy. Tối hôm đó, Phùng Lễ có việc phải ra xưởng, Lục Thanh nằm nghỉ trên tầng. Tôi ngồi ở phòng khách trông A Từ xếp những mảnh gỗ vụn thành một căn nhà nhỏ. Thằng bé nói năng rất hồn nhiên, vừa ghép nhà vừa thao thao nói chuyện ở trường. Rồi đột nhiên, nó ngước lên hỏi tôi: “Chú ơi, sao người lớn hay giấu chìa khóa trong túi thế?” “Vì có những món đồ quan trọng cần khóa lại. Sao thế?” “Bà nội toàn giấu kẹo trong mấy cái hộp gỗ cho cháu tìm. Nhưng bà không bao giờ cho cháu đụng vào ngăn tủ của bà.” Tôi hỏi ngăn tủ đó để làm gì, nó nhún vai, bảo không biết. Tôi hỏi có muốn xem không, nó nói không, mẹ bảo đừng động vào đồ của bà. Nói xong nó lại cúi xuống ghép miếng gỗ. Tôi không biết tại sao chợt nhớ tới chi tiết Phùng Lễ từng nhắc lúc ban chiều, liền hỏi khẽ: “A Từ này, có món đồ nào của mẹ cháu nằm trong phòng bà nội không?” “Có chứ ạ! Dây chuyền của mẹ cháu.” “Mẹ đưa bà giữ hộ à?” Thằng bé lắc đầu cái rụi “Không ạ. Là bà nội tự lấy đấy”. Tôi định hỏi thêm nhưng A Từ đã chuyển sang chuyện khác, bảo cái nhà gỗ này thiếu mái nên không đẹp. Tôi cũng không hỏi nữa. Khi Lục Thanh gọi con lên ngủ, nó đứng dậy thu hết những miếng gỗ bỏ vào một chiếc hộp nhựa, cất dưới gầm bàn rồi mới chạy lên. Gần nửa đêm, một tiếng cạch vang lên ở tầng hai. Tôi tưởng A Từ làm rơi đồ nên không quan tâm nhưng một lát sau Hoài An đã cầm một chiếc đèn pin. Chúng tôi đi ra thì thấy cửa phòng Phùng Tố Lan vẫn đóng. Tuy nhiên, cạnh chân cửa lại có một chiếc chìa khóa nhỏ bằng đồng không biết rơi từ đâu ra. Hoài An nhặt lên nhìn một lúc rồi hỏi Phùng Lễ có phải chìa khóa phòng không. Phùng Lễ đang từ phòng ngủ đi ra khi nghe Hoài An hỏi liền nói không phải. “Chiếc chìa này có lẽ của ngăn kéo. Nhớ không, mà sao nó lại nằm ở đây?” Đúng lúc ấy, A Từ cũng dụi mắt đi ra xem. Nó ngáp một hơi, hỏi mọi người đứng trước phòng bà làm gì. Phùng Lễ bảo nó quay về ngủ. Thằng bé đáp lại nhưng khi nhìn thấy chiếc chìa khóa trong tay Hoài An, mắt thằng bé chợt sáng lên một tia sáng kỳ quặc: “Chú tìm thấy nó dưới đất à?” “Ừ” Hoài An đáp ngắn gọn. A Từ gật đầu chẳng tỏ vẻ gì khác sau đó chạy về phòng. Tôi nhìn theo nhưng Hoài An chỉ cất chiếc chìa vào túi. Ngày hôm sau, Lục Thanh phải đi tái khám. Phùng Lễ đưa vợ đi còn A Từ ở nhà với chúng tôi. Tôi ngủ thêm một lúc đến gần trưa xuống nhà mới thấy thằng bé đang ngồi trong xưởng đánh bóng một miếng gỗ nhỏ. Hoài An ngồi đối diện đang xoay xoay chiếc chìa khóa mới nhặt đêm hôm qua. Đột nhiên, A Từ ngẩng đầu lên hỏi tôi: “Chú thấy bà nội con có đáng sợ không?” Tôi ngồi xuống bên cạnh, nói đêm hôm kia thì có một chút. Nó cười bảo bà bình thường rất tốt, chỉ hay dọa trẻ con nếu không nghe lời. Tôi hỏi bà hay dọa chuyện gì, nó nói dọa rằng nếu đi chân trần ban đêm thì sẽ bị ma kéo chân. Tôi bảo trẻ con nghe vậy đúng là không ngủ nổi. A Từ cười khúc khích bảo hồi nhỏ nó từng khóc vì sợ nhưng sau này bà nói mãi thành quen. Hoài An ngồi đối diện vẫn không nói gì, đợi đến lúc A Từ trở về phòng, hắn mới lấy chiếc chìa khóa nhỏ bằng đồng từ túi áo ra đặt lên bàn. “Đi thôi.” Tôi nhìn chiếc chìa khóa, ngơ ngác: “Đi đâu?” “Lên phòng bà cụ.” “Bây giờ luôn à?” “Ừ. Hôm qua đông người, không tiện.” Hoài An nói xong liền đứng dậy cầm chiếc chìa khóa nhỏ bằng đồng rồi bảo tôi đi theo lên tầng. Vào đến phòng Phùng Tố Lan, hắn đi thẳng đến chiếc tủ gỗ kê sát tường rồi cúi xuống thử tra chiếc chìa vào ổ khóa ở ngăn dưới cùng. Cạch một tiếng rất khẽ, then khóa bật ra. Bên trong là một chiếc túi vải màu xanh đã sờn mép. Hoài An lấy nó ra, đặt lên mặt tủ rồi tháo nút buộc. Vật dụng bên trong không nhiều: Một sợi dây chuyền, một mảnh giấy vàng nhỏ ghi họ tên, ngày sinh tháng đẻ của Lục Thanh và một hình nhân bằng vải thô cao chừng một gang tay, quanh eo quấn ba vòng chỉ đỏ. Hoài An cầm sợi dây chuyền lên xem một lúc rồi đặt xuống cạnh mảnh giấy. “Đây là đồ của Lục Thanh, đúng không?” Tôi gật đầu. Hắn lại chỉ vào mảnh giấy: “Còn cái này … có tên, ngày sinh thì không thể nhầm được. Một mạng phải đổi bằng một mạng, không thể sai người”. Nói rồi hắn cầm hình nhân lên, xoay một vòng cho tôi nhìn rõ ba vòng chỉ đỏ quanh eo. “Hình nhân này mới là mấu chốt. Trong những cách làm lễ kiểu cũ, người ta dùng nó để thế mạng cho người thật trong lúc thực hiện nghi thức. Ba vòng chỉ đỏ thường được dùng để buộc vía, giữ mệnh, đại khái là phong ấn, không cho thứ được triệu hồi nhập nhầm vào thân xác người khác.” Bỗng nhiên, tôi sực nhớ đến sợi chỉ đỏ ở bến nước rồi cả chiếc túi vải chứa tro giấy tiền và những hạt gạo mục mà Hoài An đã lấy xuống khi chiều. Hắn cũng nghĩ tới điều đó, ngồi im nhìn mấy món đồ trên mặt tủ rồi nói: “Ở bến nước có chỉ đỏ, gạo và tro tiền. Ở đây lại có đồ của Lục Thanh, giấy ghi ngày sinh và hình nhân thế mạng. Những thứ đó đặt cạnh nhau thì không còn giống một cách cúng bái thông thường nữa.” “Đổi mạng.” Hoài An đáp thẳng. “Muốn đưa Phùng Ngọc từ âm giới trở về, theo tà thuật mà bà ta cuồng tín thì bắt buộc phải có một người sống nhường chỗ. Lục Thanh chính là người bà Tố Lan đã chọn.” Tôi nhìn sợi dây chuyền nằm trên mặt tủ, tự nhiên thấy câu chuyện trước đây trở nên rõ ràng hơn nhưng chỉ được vài giây một sự mơ hồ chạy dọc sống lưng khiến tôi giật mình. “Khoan đã ... Nếu người bà ta chọn là Lục Thanh, vậy tại sao kẻ bỏ mạng lại là chính là bà ta?” Hoài An ngẩng lên nhìn tôi. Tôi chỉ vào chiếc hình nhân. “Mấy thứ này rõ ràng là chuẩn bị cho Lục Thanh. Bà ấy còn chưa kịp làm gì với Lục Thanh thì đã chết gục rồi. Vậy nghi thức chưa bắt đầu hay xảy ra chuyện gì giữa chừng?” Hoài An đặt hình nhân trở lại túi vải, ánh mắt vẫn dính chặt những vòng chỉ đỏ quanh eo nó. “Đó mới là chỗ tôi chưa hiểu.” Hắn nói tiếp “Nếu Tố Lan đang chuẩn bị cho một nghi thức đổi mạng thì cái chết của bà ấy xảy ra quá sớm. Hoặc có người đã khiến nó dừng lại hoặc ngay từ đầu chúng ta đã hiểu sai một phần.” Tôi nhìn hắn. “Ý cậu là gì?” “Tôi chưa biết.” Hoài An buộc lại miệng túi “nhưng có một chuyện chắc chắn: Người cuối cùng chính là người chuẩn bị nghi thức.” Chiều hôm ấy, Phùng Lễ đưa vợ về. Lục Thanh vừa bước qua ngưỡng cửa đã vội vã cất tiếng hỏi con trai đâu. Thằng bé chạy từ phòng khách chạy ra đón mẹ, tò mò hỏi xem bác sĩ có cho thuốc mới không. Lục Thanh xoa đầu con trai bảo không, bác sĩ chỉ dặn phải ngủ đúng giờ giấc. A Từ nghe xong mới yên tâm, quay vào bàn tiếp tục lắp chiếc xe gỗ. Dưới nhà, Hoài An đang xắn tay áo giúp Phùng Lễ siết lại cái bản lề tủ gỗ bị xệ. Tôi ngồi xuống bên cạnh A Từ, nhìn nó loay hoay với chiếc bánh xe bị lệch. “Ai dạy cháu sửa mấy đồ nãy thế” “Ba ạ” Thằng bé lí nhí đáp rồi gục đầu xuống thổi phù phù cho lớp gỗ bay đi. Trong khoảnh khắc ấy, tự nhiên tôi thấy sống mũi mình hơi cay cay, dấy lên niềm thương cảm đối với thằng bé A Từ. Nó là một đứa trẻ vừa mất đi người bà yêu thương, trong khi người lớn trong nhà hết người này đến người khác đều đang bị cuốn vào những chuyện rắc rối mà chẳng ai chịu nói cho nó biết. Bà nội vừa qua đời, mẹ lại đang đau yếu, ba thì ngày ngày bận bịu, còn những câu chuyện về Phùng Ngọc, bến nước và chuyện đổi mạng cứ quanh quẩn trong căn nhà khiến ngay cả người lớn như chúng tôi cũng không biết đâu là thật đâu là lời mê tín. A Từ chỉ ngồi đó, cặm cụi sửa cái tủ gỗ, thỉnh thoảng lại kể chuyện về bà nội, chẳng hề biết người bà mà nó vẫn nhắc đến đang để lại sau lưng một mớ chuyện mà nếu nó hiểu hết, có lẽ tuổi mười lăm của nó sẽ không còn được bình yên như trước nữa. Và rồi tối hôm đó, A Từ lại đặt thêm một cái bát. Lần này nó không vội xới cơm ngay. Thằng bé kéo chiếc ghế thấp ra, cẩn thận dùng khăn lau mặt ghế thật sạch rồi ngồi xổm bên cạnh nhìn khoảng trống trước mặt hồi lâu. Sau đó, nó vào bếp lấy một bát cơm trắng đầy ắp đặt xuống cùng đôi đũa. Phùng Lễ chứng kiến từ đầu đến cuối nhưng không nói gì. Lục Thanh đứng tựa lưng bên mép cửa bếp, sắc mặt hơi thay đổi nhưng rồi cũng ngoảnh mặt gạt đi không buông lời ngăn cản. A Từ ngồi xuống chỗ của mình, ngoan ngoãn ăn cơm của mình. Đêm ấy trời không mưa. Quá nửa đêm, tiếng thìa sứ va chạm lách cách vào thành bát lại vang lên ở cuối bàn. Lần này Phùng Lễ cũng nghe thấy. Anh ta mò xuống trước chúng tôi, tay lăm lăm chiếc đèn pin, hai chúng tôi bấm bụng bám sát phía sau. Ánh sáng trắng lia qua mặt bàn rọi qua nền gỗ rồi dừng lại trên chiếc ghế thấp đang có người ngồi. Không ai cất nổi lời nào. Bà lão vẫn mặc chiếc áo bông nâu sẫm ướt sũng, mái tóc bạc rũ xuống hai bên vai. Cái bát trước mặt vẫn là bát cơm trắng nhưng lần này bà không ăn. Bà chỉ gục đầu, hai bàn tay gầy guộc đặt hờ trên mặt bà. Phùng Lễ chiếu đèn thẳng vào mặt bà. Bóng hình ma mị ấy không hề né tránh cũng không biến mất vào hư không. Lục Thanh đứng phía sau chúng tôi bỗng bật ra một tiếng nấc nghẹn rồi vội vã đưa hai tay bịt chặt lấy miệng. A Từ đã đứng trên cầu thang từ bao giờ, một tay nó vịn vào lan can, ánh đèn từ gian ăn hắt lên làm mờ đi một nửa khuôn mặt, chỉ còn thấy rõ một bên đồng tử mở to đang dõi thẳng xuống góc cuối bàn. Lần này nó không còn hoảng sợ chạy về phía mẹ như những lần trước cũng không lên tiếng gọi Phùng Lễ. Thằng bé chỉ đứng nguyên tại chỗ như bị thôi miên, ánh mắt dính chặt vào cái bát cơm trước mặt bà lão. Tôi nín thở nhìn theo ánh mắt nó, chẳng hề hay biết cơm trong bát đã biến mất từ lúc nào, thay vào đó là một thứ nước đục màu xám nhạt đang đầy gần đến miệng bát. Bà lão ngồi bất động rồi chậm rãi thò bàn tay trắng bệch, nhăn nheo như da rắn vào trong bát nước bùn. Những ngón tay khô như que củi khuấy nhẹ thứ dịch đục ngầu ấy, động tác thong thả đến mức chẳng khác nào một người đang thử độ nóng của canh. Rồi bà nhấc một ngón tay đẫm nước đục đưa lên sát môi. Phùng Lễ ở phía sau tôi bất chợt hít vào một hơi, âm thanh khô khốc, nghẹn như thể có có vật gì chặn ngay trong cổ họng. Đúng lúc đó, A Từ mới lên tiếng nhưng giọng nó nhỏ đến mức gần như lẫn vào tiếng gió ngoài cửa: “Bà nội” Người ngồi cuối bàn từ từ ngẩng đầu, khuôn mặt nhợt nhạt, vô hồn dưới mái tóc bạc hướng thẳng ánh nhìn vô hồn về phía đứa cháu nội. Hoài An lập tức chộp lấy vai tôi giật mạnh tôi lùi lại mấy bước. Ngay khi tôi còn chưa kịp hiểu hắn vừa nhìn thấy điều gì thì trên nền gỗ dưới chân chiếc ghế thấp đã xuất hiện những giọt nước nhỏ, ban đầu chỉ lấm tấm vài điểm sau đó nối thành một đường mảnh. Tôi cứ nghĩ chúng sẽ kéo ra phía cửa sau như đêm trước nhưng không phải. Những giọt nước ấy chậm rãi bò ngược lại, từng chút một, từ chân chiếc ghế đi qua mặt sàn huớng thẳng về phía cầu thang, cho đến khi dừng ngay dưới lòng bàn chân trần của A Từ.
Chương trước Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ