Chương 1: Bà nội

Tôi gặp Phùng Lễ vào một buổi chiều cuối thu khi Hoài An lôi xồng xộc tôi đi cùng hắn đến một thị trấn nhỏ ở phía nam Tô Châu. Nói là đi xem đồ cũ nhưng suốt quãng đường, Hoài An không nói rõ chúng tôi phải xem thứ gì. Tôi hỏi đến tận hai lần, hắn đều bảo đến nơi rồi biết. Đến lần thứ ba tôi hỏi tiền xe ai trả, hắn mới bảo nếu tôi còn hỏi thì tự bắt xe đi về. Tôi nhẩm tính lại túi tiền, thấy hắn nói cũng có lý nên im luôn. Con đường từ thành phố vào thị trấn không dài nhưng chiếc xe chạy chậm rì rì. Hai bên đường phần lớn là nhà mái ngói thấp lè tè, xen giữa những cửa hàng sửa xe, tiệm mì và xưởng mộc gia đình. Cuối tháng mười, trời đã bắt đầu lạnh. Tôi rụt cổ vào cổ áo nhìn qua ô kính mờ hơi sương, nước dưới những con kênh ven đường đã chuyển màu đen sẫm, mấy cây liễu rủ xuống mặt nước, vài chiếc lá vàng thưa thớt chao đảo theo từng con gió lạnh. Nhà Phùng Lễ nằm cuối một con đường hẹp, phía trước dựng một tấm biển gỗ đã tróc sơn, bạc màu theo năm tháng. Nửa gian trước dùng làm xưởng, bên trong chất đầy ván gỗ, bàn ghế phủ bụi nằm ngổn ngang bên cạnh những món đồ cũ đang chờ sửa. Mùi hăng của gỗ mới trộn với mùi sơn dầu và dầu lau đồ cổ làm tôi vừa bước vào đã thấy cổ họng khô khốc. Phùng Lễ đang cúi người sửa lại chân ghế gỗ. Nghe tiếng Hoài An gọi, anh ta mới thong thả buông tay, ngẩng đầu lên. Anh ta lớn hơn tôi vài tuổi, người rắn rỏi, hai tay đầy những vết xước nhỏ của người làm nghề mộc. Nhận ra Hoài An, anh ta chẳng khách sáo gì chỉ chống cái búa xuống bàn nhếch mép: “Tôi tưởng ông bận, sao hôm nay lại mò tới đây?” Hoài An nhún vai đáp: “Có người bảo nhà ông có đồ cũ cần xem qua.” Phùng Lễ nhìn hắn một cái rồi chậm rãi dời mắt nhìn sang tôi bật ra tiếng cười nhạt: “Đồ thì có nhưng chắc không phải thứ này.” Tôi hỏi thứ này là thứ gì, anh ta không trả lời ngay chỉ phủi lớp dăm gỗ bám trên áo, thản nhỉ bảo: “Chuyện trong nhà.” Nói xong Phùng Lễ lại cúi xuống làm tiếp, tiếng búa nện ầm ầm đều đặng vang lên như thể cái câu lấp lửng ấy chẳng hề tồn tại. Tôi kéo chiếc ghế nhựa thấp bên cạnh ngồi xuống, gặng hỏi anh ta chuyện trong nhà rốt cuộc là chuyện gì. Phùng Lễ không đáp ngay mà chỉ lặng lẽ cầm miếng giấy nhám tiếp tục chà lên phần chân ghế, những hạt bụi gỗ li ti bay lên dưới ánh sáng xế chiều. Mãi đến khi anh ta dùng mu bàn tay quệt ngang trán, để lại một vệt trắng trên da, anh ta tháo mớ găng tay, giọng chùng xuống bảo mẹ mình mất vừa mất được hơn một tháng. Tên bà là Phùng Tố Lan, thọ sáu mươi tám tuổi. Trước kia bà sống cùng vợ chồng anh, ngày thường ngoài việc đi chợ, nấu cơm thì chẳng phải làm gì nặng nhọc, duy chỉ có bệnh huyết áp cao là bám theo nhiều năm. Sức khỏe của bà nhìn chung vẫn ổn, thuốc men uống đều, những lúc trái gió trở trời mới thấy trong người khó chịu. Hôm xảy ra chuyện cũng chẳng ai nghĩ có gì bất thường. Tối hôm ấy bà vẫn còn khỏe mạnh nhưng đến sáng hôm sau khi mọi người thức dậy xuống gian bếp thì mới phát hiện bà nằm bất động trong bếp. Bên cạnh xác bà là lọ thuốc huyết áp vẫn dùng hằng ngày, quần áo hơi xộc xệch như vừa trải qua một cơn co giật. Mọi chuyện xảy ra quá nhanh đến mức người trong nhà gần như chưa kịp hiểu chuyện gì thì đã phải lo tang sự. Sau khi an táng mẹ xong, Phùng Lễ trở lại xưởng làm việc, vợ anh ở nhà nghỉ ngơi còn cậu con trai mười lăm tuổi tên A Từ thì từ hôm đó có biểu hiện lạ: Cứ đến bữa tối là nó lại lấy thêm một cái bát đặt ở cuối bàn ăn. Phùng Lễ bảo lúc đầu anh không nghĩ gì, nghĩ A Từ từ nhỏ đã quấn bà nội, mất người thân đột ngột nên đứa trẻ nhớ nhung là chuyện bình thường. Nhưng thằng bé không chỉ đặt bát trống. Nó còn xúc một phần cơm đầy, xếp thêm đôi đũa, có hôm còn nhớ lấy cả chiếc thìa sứ mà bà nội vẫn thường dùng. Anh cất đi thì nó lại lấy cái khác, bảo để bà ăn. Có lần Phùng Lễ nổi nóng quát rằng bà đã chết rồi, người chết không thể ăn cơm, A Từ chỉ cúi đầu lí nhí: “Nhưng con vẫn đói mà … Bà cũng có thể đói chứ?” Câu trả lời ấy khiến anh không biết phải nói gì, cuối cùng đành mặc kệ. “Thế còn chuyện cơm vơi?” Hoài An hỏi. Phùng Lễ gật đầu, mắt cứ nhìn vào khoảng không xa xăm. Anh kể hai đêm gần đây, khoảng sau nửa đêm, anh nghe tiếng thìa chạm vào bát lách cách ở tầng dưới. Ban đầu anh tưởng vợ xuống bếp, anh nằm chờ mãi nhưng không nghe tiếng người đi lên. Đến sáng ra, cái bát cơm ở cuối bàn đã vơi mất một nửa. Anh nghĩ có thể là do chuột nhưng sau đó lại tự thấy lý do ấy không ổn nên mới bắt đầu để ý. Nhà không nuôi mèo, cửa bếp buổi tối luôn khóa, trong bếp cũng không có thức ăn nào để hở. Có hôm anh còn cẩn thận rắc một lớp bột rất mỏng quanh chân bàn để xem có dấu chân hay không nhưng sáng ra lớp bột vẫn còn nguyên, chỉ có cơm trong bát là bị vơi đi. “Tôi cũng chẳng biết chuyện gì đang xảy ra nữa” Phùng Lễ cười “nói ra ngoài người ta lại bảo tôi mất mẹ xong thần kinh có vấn đề.” Tôi hỏi anh đã nói chuyện này với ai chưa, anh ta bảo chưa, chỉ có vợ biết. Hoài An hỏi: “Vợ ông tin không?” Phùng Lễ cười khổ. “Không nói tin hay không. Cô ấy chỉ bảo tôi đừng để thằng nhỏ ăn cơm một mình vào ban đêm.” Câu ấy khiến Hoài An ngẩng đầu lên. “Tại sao?” “Cô ấy sợ thôi.” “Vì chuyện bà cụ?” Phùng Lễ gật đầu nhưng sau đó lại khoát khoát tay như muốn cho qua. Khoảng mấy ngày trước, lúc bà cụ còn sống, Lục Thanh đang đứng trong bếp thì đột nhiên choáng váng, mắt tối sầm rồi ngã gục xuống nền. Phùng Lễ nghe tiếng động chạy vào đã thấy vợ ngồi dựa bên thành bếp, mặt trắng bệch, hai bàn tay lạnh ngắt. Đưa vào bệnh viện kiểm tra, bác sĩ không phát hiện nguyên nhân nghiêm trọng, chỉ nói huyết áp tụt và cơ thể suy nhược rồi cho nằm viện mấy ngày. Tôi hỏi bà Tố Lan biết chuyện không, Phùng Lễ gật đầu. Bà còn đến bệnh viện một lần, ngồi bên giường con dâu khá lâu, không hỏi thăm nhiều mà buông giọng lạnh ngắt: “Con nên về nhà ngoại một thời gian.” Lục Thanh lúc ấy không chịu, hai mẹ con vì chuyện đó cãi nhau. Phùng Lễ đứng giữa cuối cùng chỉ có thể khuyên mẹ đừng nói những chuyện chọc tức vợ mình nữa. “Bà cụ có nói vì sao phải về không?” Hoài An dời ánh mắt ra phía ngoài xưởng. Phùng Lễ nhìn theo, giọng chùng xuống. “Mẹ tôi bảo … từ lúc Lục Thanh về nhà mọi thứ trở nên xui xẻo.” Tôi cứ tưởng anh lại sắp kể chuyện mê tín dị đoan của làng quê nhưng lần này Phùng Lễ không hề cười. Anh kể từ ngày Lục Thanh bước chân về làm dâu, nhà họ Phùng bắt đầu liên tục nảy sinh những điều xui rủi. Ban đầu chỉ là mấy chuyện vụn vặt chẳng đáng bận tâm, đồ đạc đang dùng yên lành bỗng dưng hỏng hóc, việc làm ăn của Phùng Lễ bấp bênh lúc được lúc mất rồi người trong nhà cứ luân phiên ốm đau, chuyện này chưa qua chuyện khác đã tới chẳng lúc nào yên. Mẹ anh vốn dĩ đã chẳng yêu thích gì với Lục Thanh, nay thấy nhà cửa lục đục lại càng thêm soi xét. Bất kỳ điềm xui hay sự cố lớn nhỏ nào xảy ra, bà đều đổ lên đầu Lục Thanh. Phùng Lễ luôn gạt đi, cho rằng mẹ mình quá cay nghiệt và nghĩ ngợi lung tung. Nhưng điều khiến bà càng thêm tin chắc vào cái ác cảm ấy chính là việc sau đó một thời gian, trong nhà thật sự đã có người chết. “Ai chết?” Tôi tò mò hỏi. Phùng Lễ lặng đi, anh ta đưa hai bàn tay thô ráp lên ôm mặt, thở dài thườn thượt rồi mới trả lời: Đó là em gái anh, Phùng Ngọc, mất khi mới mười sáu tuổi. Phùng Ngọc chết đuối hơn hai mươi năm trước ở một bến nước cũ phía sau thị trấn. Hôm ấy nước dâng cao sau mưa, con bé hay ra bến nước bỏ hoang ngồi hóng gió rồi mất tích. Người ta tìm suốt mấy ngày mà không thấy xác, gia đình không có thi thể để chôn, chỉ tìm được đôi giày vải và một chiếc kẹp tóc bằng đồng nên đành ngậm ngùi lập một mộ gió. Phùng Tố Lan từ đó tin rằng con gái mình chưa thật sự chết, rằng xác không nổi lên bởi nó đã “ở lại dưới nước”. Người trong nhà nghe lâu thành quen nhưng Phùng Lễ không tin, cho đó là mẹ anh ta đau buồn quá nên hóa điên rồi, nhiều lần cãi nhau với bà nhưng không có kết quả. “Còn Lục Thanh thì sao?” Hoài An hỏi. “Mẹ tôi nghi cô ấy có liên quan.” “Liên quan thế nào?” “Thì nói cô ấy khắc chết, nguyền rủa con bé Phùng Ngọc.” Phùng Lễ thở dài, nói từ sau ngày hai người cãi nhau về chuyện đó, mẹ anh càng ngày càng khó tính. Bà bắt đầu soi từng chuyện nhỏ của Lục Thanh từ cách cô ấy ngủ, cách đặt giày ngoài cửa, đến việc có nên để A Từ ở một mình vào những ngày mưa hay không. Phùng Lễ nói thẳng anh ta cũng không hiểu mẹ mình muốn làm gì, chỉ biết bà tin rằng nếu Lục Thanh tiếp tục ở nhà thì sẽ có chuyện xảy ra với A Từ. Tôi hỏi ông có vì vậy mà muốn đuổi vợ đi không, anh lập tức lắc đầu. “Tôi không tin. Mẹ tôi mê muội nhưng tôi vẫn còn tỉnh táo mà.” Nói xong anh ngồi yên một lúc rồi mới thêm: “Chỉ là … đến khi Lục Thanh ngã trong bếp, chính tôi cũng bắt đầu thấy rờn rợn.” Đúng lúc đó, cửa sau của xưởng khẽ mở ra, Lục Thanh từ trong nhà bước tới. Chị mặc một chiếc áo len màu kem nhã nhặn, tóc búi thấp sau gáy tuy khuôn mặt có hơi chút nhợt nhạt. Phùng Lễ đứng lên giới thiệu, chị nhẹ nhàng chào Hoài An rồi quay sang mỉm cười áy náy với tôi, xin lỗi vì nhà có chuyện mà vẫn để khách phải chứng kiến cảnh lộn xộn. Tôi bảo không sao, chúng tôi cũng chỉ ghé xem đồ cũ. Chị liếc nhìn sang chồng như muốn dò hỏi anh đã kể đến đâu nhưng Phùng Lễ không nói gì. A Từ cũng lấp ló bước ra từ sau lưng mẹ, tay cầm một quyển sách. Nhìn thấy người lạ, nó ngập ngừng dừng bước. Phùng Lễ gọi con chào khách, nó ngoan ngoãn chào rồi ngồi xuống bên mẹ. Tôi bắt chuyện, hỏi nó có nhớ bà nội không. A Từ gật đầu, ánh mắt thoáng buồn đúng như một đứa trẻ vừa mất đi người thân thiết nhất. Nó hồn nhiên kể bà nội thường làm bánh hành cho nó, mùa đông hay ngồi ở cuối bàn bóc hạt dẻ cho nó ăn. “Con có sợ bà nội không?” Tôi cúi xuống hỏi. A Từ lắc đầu ngay. “Bà là bà nội mà, con không sợ đâu.” Nói xong, nó lại cúi xuống đọc tiếp quyển sách. Bữa cơm tối hôm đó được dọn ở gian nhà phía sau. Chiếc bàn gỗ cũ nằm giữa phòng, mặt bàn đã được đánh lại nhưng bốn chân và các cạnh vẫn giữ màu gỗ đậm. Quanh bàn có sáu chiếc ghế riêng một chiếc thấp hơn những chiếc còn lại. Phùng Lễ giải thích đó là chỗ mẹ anh thường ngồi lúc còn sống, từ trẻ đến già bà đã quen với vị trí ấy. Lục Thanh nghe xong chỉ cúi đầu gắp thức ăn còn A Từ thì ân cần kéo ghế cho mẹ rồi ngồi ngay cạnh. Suốt bữa ăn, tôi để ý thằng bé khá vui tính và hoạt bát, nó nói chuyện với ba về chuyện trường lớp, mè nheo vì mẹ không cho mua máy chơi game rồi lại hỏi Hoài An xem trong túi hắn có phải là kính lúp không. Hoài An đưa cho nó xem, A Từ cầm lên soi mặt mình rồi cười, bảo trông mình giống hệt một ông già. Phùng Lễ cười mắng yêu con đừng nghịch đồ của khách. Không khí lúc ấy chẳng có gì kỳ quái, thậm chí nếu không biết kỳ quái trước đó, có lẽ tôi còn nghĩ nhà này chỉ đang trải qua một đợt tang khiến người trong nhà hơi mệt mỏi. Thế nhưng, đến giữa bữa ăn, Lục Thanh bỗng đặt đũa xuống đưa tay khẽ day day nhẹ trán. A Từ nhau nhảu rót nước cho mẹ ly nước ấm. Nhận ra sự bất thường, Phùng Lễ sốt sắng: “Sao thế? Em còn chóng mặt à” Lục Thanh xua tay, cố nén đi cảm giác xây xẩm trong đầu, khẽ đáp: “Em hơi choáng một xíu, không sao đâu”. A Từ nhìn mẹ một lúc rồi nói: “Mẹ đừng làm việc nhiều nữa.” Lục Thanh phì cười hỏi ai dạy con nói câu ấy, nó đáp: “Bà nội ạ.” Phùng Lễ nghe vậy thì lắc đầu thở dài “Bà mất rồi còn dạy gì nữa.” A Từ lặng lẽ nhìn ba một cái rồi cúi xuống ăn cơm. Tôi nghĩ chẳng qua nó nhớ lời bà dặn từ trước nên cũng không để ý. Ấy thế mà một lúc sau, khi Phùng Lễ đang hăng hái trò chuyện với Hoài An về cái bến nước cũ thì Lục Thanh bỗng nhiên cắt ngang: “Đang ăn cơm, đừng nhắc chuyện đó nữa.” Giọng chị không lớn nhưng nét mặt lại lộ rõ vẻ chịu đựng và có vẻ khó chịu thật. Phùng Lễ sững người nhìn vợ một thoáng rồi cũng biết ý đánh trống lảng sang chuyện khác. Sau bữa ăn, A Từ phụ mẹ gom bát đĩa vào bếp. Tôi ngồi lại với Hoài An nhìn Phùng Lễ lau bàn. Chiếc ghế thấp cuối bàn được để nguyên, không ai ngồi vào. Tôi hỏi tại sao không cất cho rộng chỗ, Phùng Lễ thì thầm bảo mẹ anh trước đây không thích ai ngồi vào ghế ấy, dù chỉ là khách cũng sẽ kéo ghế sang bên khác. “Anh có tin chuyện kiêng kỵ đó không?” Tôi hỏi Phùng Lễ cười trừ bảo chẳng tin nhưng giữ lại cũng chẳng mất gì. Khi anh ta quay lưng vào bếp, tôi vô tình nhìn thấy A Từ đang đứng cạnh chiếc ghế thấp. Ta cầm cái khăn lau, nó tỉ mẩn lau sạch từng hạt cơm rơi vãi trên mặt ghế sau đó cẩn thận dựng chiếc ghế về đúng vị trí ban đầu. Đêm xuống rất nhanh như một bóng đen đổ ập. Mưa bắt đầu rơi lên mái ngói, không lớn nhưng đều đặn, kéo theo mùi đất ẩm len qua khe cửa. Tôi nằm trong phòng khách tầng hai, nghe tiếng nước chảy trong đường ống rồi dần thiếp đi. Khoảng gần ba giờ sáng, một tiếng “cạch” rất khẽ vang lên giữa không gian tịch mịch. Tôi giật mình tỉnh giấc, tưởng Phùng Lễ xuống bếp nên ngồi dậy nhưng ở phía giường đối diện, Hoài An đã mở mắt từ bao giờ. Hắn nói rất khẽ: “Xuống xem.” Hai chúng tôi nín thở mò xuống cầu thang, không bật đèn. Gian nhà dưới chìm trong bóng tối, chỉ có ánh sáng từ đèn đường lọt qua song cửa. Và rồi … tôi nghe rất rõ tiếng thìa chạm vào thành bát lách cách, rất đều nhưng khẽ đến mức nếu không thức giữa đêm có lẽ chẳng ai phát hiện. Chiếc bàn ăn vẫn ở nguyên chỗ cũ. Ở cuối bàn, một bát cơm nghi ngút đang tỏa hơi nóng dưới vệt sáng mờ mờ, cạnh bát là đôi đũa và chiếc thìa sứ nhỏ. Tôi nhớ trước khi lên phòng, cái bát ấy đã được Lục Thanh rửa sạch và cất toàn bộ vào chạn. Tôi định thì thầm bảo có lẽ A Từ lén xuống đặt nhưng Hoài An đã đưa tay chặn ngang ngực tôi. Hắn hơi cúi thấp người, ánh mắt dán chặt xuống nhìn sàn nhà. Trên mặt gỗ có vệt nước rất mảnh kéo từ cửa sau đến chân chiếc ghế thấp, không rộng hơn hai ngón tay, đục ngầu. Cửa sau vẫn cài then. Không hề có một dấu chân người. Mùi tanh tràn trong không khí, giống mùi bùn dưới đáy kênh. Lách cách … Tiếng thìa lại vang lên. Lần này nó phát ra ngay sát bên tai tôi. Tôi cứng đờ cổ chậm rãi quay đầu về phía cuối bàn. Ban đầu tôi chỉ thấy một mảng tối đậm hơn phía sau lưng ghế. Rồi dần dần dưới ánh sáng lờ mờ, hình dáng một người đàn bà dần hiện rõ. Bà ngồi thẳng lưng, mặc một chiếc áo bông màu nâu cũ kỹ, mái tóc bạc rũ xuống hai bên vai. Quần áo bà ướt sũng, nước từ gấu áo nhỏ xuống mặt bàn, từng giọt một. Bàn tay gầy guộc như cành củi khô đang cầm chiếc thìa sứ, múc từng thìa cơm đưa lên miệng. Động tác chậm rãi, thản nhiên, không có vẻ muốn hù dọa ai giống như bà chỉ đang ngồi ăn bữa tối muộn ở đúng chiếc ghế mình vẫn dùng khi còn sống. Tôi ngửi thấy mùi bùn xộc vào phổi, nghe tiếng mưa rơi bên ngoài, nhận rõ hơi lạnh buốt giá trên da thịt. Tôi thấy rõ từng giọt nước từ bà nhỏ xuống mặt bàn gỗ nhưng dưới chân ghế lại hoàn toàn khô ráo. Hoài An không kéo tôi lùi lại. Hắn chỉ đứng nhìn, ánh mắt sâu hun hút. Bà lão ăn được vài thìa rồi dừng lại, từ từ ngẩng đầu lên. Khuôn mặt bà hiện ra dưới mái tóc bạc. Tôi không thể nhìn rõ mặt, chỉ thấy những đường nét nhợt nhạt như thể bị một lớp sương mờ đục phủ lên, làn da trắng đến mức gần như trong suốt. Bà không nhìn hai chúng tôi mà hướng ánh mắt nhìn về phía cầu thang. A Từ đang đứng ở đó. Thằng bé có lẽ vừa thức giấc vì nghe tiếng động. Nó mặc áo ngủ, tóc rối bời, một tay còn đặt lên tường. Vừa nhìn thấy người ở cuối bàn, nó đứng sững. Tôi chờ nó reo lên “Bà nội” như tối qua nhưng lần này môi thằng bé chỉ run run mà không phát ra tiếng. Nó nhìn xoáy vào bóng đen đó rất lâu rồi mới cất giọng thều thào: “Bà nội?” Người kia không đáp. A Từ run rẩy bước xuống một bậc cầu thang, mắt vẫn nhìn về cuối bàn. Tôi thấy nó nuốt khan, hai tay bám chặt lấy thành vịn. Hoài An quay sang bảo nó: “Đừng xuống nữa.” A Từ nghe lời, đứng nguyên tại chỗ. Đúng lúc ấy, ánh mắt của bà lão chậm rãi chuyển dời từ cầu thang sang phía thằng bé rồi dừng lại. Không gian ngưng đọng, chỉ có tiếng mưa ngoài kia và tiếng thìa khẽ chạm vào thành bát. Bỗng cửa phòng ngủ phía trên đột ngột mở tung. Lục Thanh lao ra hành lang. Chị chưa định hình thì Phùng Lễ đã đuổi theo từ phía sau, ngơ ngác hỏi vợ làm gì giữa đêm. Nhưng khi ánh mắt Lục Thanh nhìn vào gian ăn tầng trệt, chị ta khựng lại. Tôi thấy khuôn mặt chị trắng đi, một tay bám chặt lấy khung cửa. A Từ quay đầu nhìn mẹ rồi chạy ngược lên ôm lấy tay chị. Lục Thanh quỳ xuống ôm chặt lấy con trai, bàn tay chị run đến mức phải mất vài lần mới vuốt được tóc của thằng bé. Người ngồi cuối bàn vẫn ở đó. Lục Thanh nhìn bà, môi mấp máy liên tục nhưng không phát ra tiếng. Phùng Lễ đứng cạnh vợ, còn chưa hiểu chuyện gì đang diễn ra thì đột nhiên … bát cơm kia khẽ dịch chuyển sang bên. Chiếc thìa sứ rơi cạch xuống nền nhà. Bóng người trên ghế biến mất hút trong không khí. Cái bát vẫn còn nguyên nhưng cơm bên trong đã vơi mất một nửa. Trên mặt bàn, ngay chỗ bàn tay ướt sũng vừa đặt lên, có một vệt nước dài ngoằn kéo dài. Tôi nhìn theo vệt ấy, nó bò đến tận chân cầu thang đúng nơi A Từ vừa đứng. Lục Thanh ôm con chặt hơn. Phùng Lễ định bước xuống nhưng Hoài An đã giơ tay chặn lại, giọng lạnh băng “Đợi sáng rồi hãy đụng vào”. Không ai nói thêm một lời nào nữa. A Từ vẫn nép trong lòng mẹ, hai tay ôm ghì lấy eo Lục Thanh, khuôn mặt vùi sâu vào vai chị. Phùng Lễ đứng trân trối bên cạnh, một tay đặt lên lưng vợ, tay kia vẫn còn nắm chặt chiếc điện thoại, rõ ràng chưa biết nên gọi cho ai hay phải giải thích hiện tượng này như thế nào. Trong gian nhà yên tĩnh, mùi bùn ao nồng nặc còn sót lại trên mặt bàn, chiếc bát ở cuối bàn vẫn còn đó, cơm trắng vơi đi quá nửa, bên cạnh là đôi đũa đặt ngay ngắn như thể người vừa ăn xong chỉ mới đứng dậy được một lát. A Từ ngẩng đầu khỏi vai mẹ nhìn về phía chiếc ghế thấp rồi hỏi rất nhỏ: “Mẹ ơi … bà nội có giận con không?” Lục Thanh cúi xuống ôm chặt nó hơn, bàn tay vuốt dọc lưng áo thằng bé, giọng chị khàn đi vì kiệt sức: “Không, bà không giận con đâu.” Thằng bé nghe xong thì gật đầu lại vùi mặt trở lại vào vai mẹ. Tôi đứng cách đó không xa nghe tiếng mưa gõ đều trên mái ngói, nghe nước từ đâu đó nhỏ xuống nền nhà từng tiếng rất khẽ. Trong lòng vẫn không hiểu rốt cuộc người vừa ngồi ở cuối bàn là ai? Tại sao Lục Thanh lại phản ứng như vậy? Và tại sao một đứa trẻ mười lăm tuổi lại nhất quyết tin rằng bà nội vẫn còn về ăn cơm mỗi đêm? Đêm hôm đó, tuyệt nhiên không một ai nhắc đến chuyện dọn cái bát đi nữa.
Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ