Chương 1: Tôi Từng Nợ Cô Ấy Một Đôi Giày

Ngày bố của Minh Thư mất, tôi đang chủ trì một cuộc họp với khách hàng Singapore. Tôi đọc tin nhắn báo tang dưới gầm bàn, đầu óc lập tức trống rỗng. Bố cô ấy, tôi chưa từng gặp. Thậm chí tôi còn không nhớ nổi bác tên gì. Nhưng tôi nghĩ đến cảnh Thư ngồi giữa căn nhà đầy người, không biết phải khóc hay phải tiếp khách, liền thấy ngực mình đau như có ai dùng tay bóp chặt. Tôi xin quản lý rời cuộc họp, vào nhà vệ sinh nôn một trận rồi đặt vé máy bay gần nhất. Chồng tôi hỏi: “Em có cần phải đi ngay không?” Tôi nói: “Cần. Thư không có chị em gái.” Anh nhìn tôi một lúc rồi lấy vali trên nóc tủ xuống. “Vậy anh đưa em ra sân bay.” Tôi đến nơi lúc gần nửa đêm. Minh Thư ôm tôi khóc chưa đầy một phút rồi bị họ hàng gọi vào trong. Tôi ở lại phụ ghi sổ, nhận vòng hoa, phát khăn tang và cãi nhau với bên dịch vụ vì họ tự ý tính thêm sáu triệu tiền bàn ghế. Đó là khả năng đặc biệt của tôi: có thể vừa đau lòng vừa kiểm hóa đơn, hai việc không hề mâu thuẫn. Ba ngày sau, trên chuyến bay trở về, Thư nhắn cho tôi: “Anh Khải vừa gọi. Tao nghe giọng ổng là khóc luôn. Ba hôm nay tao cứ tưởng mình không còn cảm xúc nữa, hóa ra chỉ có ổng mới làm tao yếu lòng được.” Anh Khải đã có vợ. Tôi nhìn đôi giày phồng rộp vì đứng suốt tang lễ của mình, rồi nhìn câu “chỉ có ổng” trên màn hình. Nếu là người khác, có lẽ họ sẽ nổi giận. Tôi thì không. Tôi còn lựa lời an ủi: “Khóc được là tốt. Cứ khóc đi, đừng cố gồng.” Thư gửi một biểu tượng ôm. Sau đó cô ấy kể tiếp anh Khải đã hiểu cô ấy thế nào, đau lòng ra sao và dặn cô ấy phải ăn uống cẩn thận bằng giọng dịu dàng đến mức nào. Tôi nghe hết. Tối đó, về đến nhà, tôi ném đôi giày vào thùng rác. Chồng tôi đang ngồi dưới sàn chơi xếp hình với con, thấy vậy liền hỏi: “Đôi này em mới mua mà?” “Chật.” “Sao lúc mua không đổi?” Tôi đáp: “Vì em cứ nghĩ đi lâu sẽ quen.” Anh ngẩng lên nhìn tôi. Không biết có phải sống với nhau quá lâu nên chồng tôi đã tiến hóa khả năng nghe hiểu tiếng người hay không, anh không hỏi thêm. Tôi quen Minh Thư năm mười chín tuổi. Khi ấy, tôi chưa có nổi một đôi giày tử tế để vứt. Nhà tôi bán rau ngoài chợ. Mẹ tôi rất thích kể với hàng xóm rằng con gái bà học đại học, nhưng lại căm ghét mọi khoản tiền cần bỏ ra để duy trì thành tích ấy. Bà có thể khoe tôi nhận học bổng cả tuần, sau đó chì chiết ba ngày vì tôi xin tiền mua giáo trình. Tôi học được rất sớm rằng trong nhà mình, thành tích là tài sản chung, còn chi phí để tạo ra nó là tội lỗi cá nhân. Tôi và Thư cùng học ngành truyền thông. Cô ấy nổi bật từ tuần đầu nhập học: tóc dài, da trắng, nói chuyện lanh lợi, làm thuyết trình đẹp và luôn có đủ bút màu. Tôi không hiểu vì sao một người cần tới mười hai cây bút để đi học, nhưng trông chúng vui mắt nên thỉnh thoảng tôi vẫn nhìn. Tôi thì giống người giao nước đi nhầm vào giảng đường. Hai chiếc áo sơ mi thay nhau mặc, dép bị đứt quai từng khâu bằng dây câu cá và một chiếc balô có khóa kéo chỉ hoạt động khi được kéo theo góc bốn mươi lăm độ. Bù lại, tôi biết dựng video, sửa máy tính và đọc tài liệu tiếng Anh nhanh hơn cả lớp. Thư kéo tôi vào nhóm vì phát hiện tôi có thể làm trong ba tiếng phần việc mà cả bọn vật vã một tuần. Nhóm có sáu người. Họ đi ăn, xem phim, hát hò, còn tôi thường nói bận. Thật ra tôi chẳng bận gì ngoài việc nghèo. Đi chơi với người có tiền rất tốn sức. Họ hỏi “ăn gì cũng được” nghĩa là món nào cũng được, còn tôi nói “ăn gì cũng được” nghĩa là xin chọn món nào có nước lọc miễn phí. Sinh nhật năm hai, cả nhóm bảo tôi đến nhà Thư làm dự án. Khi mở cửa, tôi thấy một chiếc bánh nhỏ bày giữa phòng khách. Trên bánh viết sai tên tôi. Không ai nhận lỗi, nhưng tôi nghi thủ phạm là Thư vì cô ấy cười lớn nhất. Món quà của họ là một đôi giày thể thao màu trắng. Tôi nhìn nhãn hiệu rồi nhất quyết không nhận. Thư nói đôi giày mua lúc giảm giá, cả sáu đứa chia nhau, mỗi người chỉ mất bằng một ly trà sữa. Tôi tin. Sau này mới biết Thư trả hơn nửa, còn bắt mọi người thống nhất lời khai vì biết tôi sẽ tra giá trên mạng. Đôi giày ấy theo tôi suốt ba năm. Tôi mang nó đi học, đi thực tập, đi phỏng vấn và đi dự đám cưới của Thư. Đế giày bong ra hai lần, tôi đều đem dán lại. Đến khi nước mưa ngấm qua lớp vải, tôi vẫn không nỡ bỏ. Tôi nghĩ mình nợ Thư một đôi giày. Nghe có vẻ buồn cười. Nhưng đối với đứa trẻ lớn lên trong một gia đình nơi mọi thứ đều được quy ra tiền, lòng tốt không bao giờ là “chỉ vậy thôi”. Nó phải có giá. Nếu chưa biết giá bao nhiêu, tốt nhất cứ mang nợ trước. Năm cuối đại học, Thư yêu Tuấn, một người hơn cô ấy tám tuổi, làm kỹ thuật viên điện lạnh. Tuấn hiền nhưng học ít, nói chuyện vụng và có tài biến mọi cuộc tranh luận thành câu “anh có ý tốt thôi”. Gia đình Thư phản đối dữ dội. Bố cô từng nói thẳng rằng ông thà nuôi con gái cả đời còn hơn gả cô cho người không cùng trình độ. Sau đó Thư có thai. Đám cưới diễn ra vội vàng. Tuấn quỳ trước bố mẹ Thư, hứa sẽ chăm sóc cô ấy cả đời. Tôi đứng ngoài cửa nghe được, vừa cảm động vừa nghĩ đời người đàn ông này từ nay chắc khó sống. Thư thông minh, nóng tính, có tiêu chuẩn cao; Tuấn lại tự ái và chậm hiểu. Một người nói nhanh, một người hiểu chậm, kết hôn với nhau đúng là dự án dài hạn không có điều khoản thoát hiểm. Tôi mừng cưới Thư nhiều hơn mức cả lớp thống nhất. Sau đó tôi hết sạch tiền ăn, phải sống bằng mì gói gần hai tuần. Không ai bắt tôi làm vậy. Tôi chỉ nghĩ chiếc phong bì ấy đã trả được một phần đôi giày. Ra trường, tôi làm phục vụ, nhập dữ liệu rồi bán hàng qua điện thoại. Bạn bè đều có chức danh nghe rất chuyên nghiệp. Tôi gọi điện hỏi người ta có muốn nâng cấp đường truyền internet không. Tôi xấu hổ nên biến mất khỏi nhóm. Thư vẫn thỉnh thoảng tìm tôi. Khi sinh con đầu lòng, cô ấy gọi ngay từ bệnh viện. Tôi vui đến mức thức trắng đêm viết một câu chuyện thiếu nhi tặng đứa bé. Câu chuyện rất dở, con thỏ nói nhiều còn con cáo có vấn đề về kiểm soát cảm xúc, nhưng Thư vẫn in ra thành một quyển nhỏ. Tôi lại ghi thêm một món nợ. Nhiều năm sau nhìn lại, tôi phát hiện sổ nợ ấy chỉ có mình tôi giữ. Chủ nợ thậm chí không biết nó tồn tại.
Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ