May Mắn Bất Hạnh (Unlucky Luck)

Chương 1: ĐIỀU ƯỚC

Thị trấn Woodheart nhỏ nằm thu mình giữa thiên nhiên bạt ngàn, dường như từ lâu đã quay lưng với phố thị ồn ào hay cuộc sống chen chúc hối hả đâu đó ngoài kia. Những mảng rừng cây lá phong khô từng nhuộm đỏ cả khoảng trời thơ mộng, nay chỉ còn trơ trọi cành cây khẳng khiu, khẽ rung lên khi từng cơn gió buốt lạnh thổi ngang qua. Cuối tháng mười, trời chưa thực sự vào đông nhưng hơi thở của nó đã len lỏi khắp mọi ngõ ngách của thị trấn yên bình này. Buổi sáng của thị trấn bắt đầu với một làn sương mỏng như tấm khăn voan trắng vắt ngang qua những con đường lát nhựa phủ rêu phong. Dọc hai bên đường, thấp thoáng đôi mái nhà kiểu cổ đứng lặng lẽ dưới bầu trời xám bạc. Một số được sơn màu xanh nhạt hoặc đỏ gạch hoặc là màu gì đi nữa thì chúng cũng đã phai mờ theo vết tích thời gian. Thi thoảng lại bắt gặp vài vòng hoa mùa thu bị lãng quên trên cửa, cánh hoa theo gió mà bay đi rồi tan biến vào hư vô. Hòa vào dòng người đang chậm chạp bắt đầu một ngày mới, dõi theo bóng lưng đầy đặn của một người đàn ông. Khoác trên mình chiếc áo măng tô phủ qua ngang đầu gối và một chiếc mũ nồi màu nâu kẻ ca-rô, ông chợt dừng lại trước lão già Baldock. Lão ở cái thị trấn này thì ai mà chả biết đến, từng là một gã nát rượu và rồi cũng chính điều ấy đã hủy hoại cả cuộc đời lão, gia đình lão. Giờ đây lão phải trả giá cho sai lầm, cho quá khứ xấu hổ: bơ vơ, lạc lõng giữa dòng đời, chỉ còn dựa vào con đường xin ăn hèn mọn mà sống tạm bợ qua ngày. Lão ngồi co ro, tóc tai, râu ria bù xù, quanh người quấn chặt bởi vài lớp áo dày rách rưới. Mùi hôi bốc lên từ lão đủ để khiến bất kỳ ai cũng phải giữ khoảng cách - bất kỳ ai, trừ người đàn ông đứng trước lão lúc này. Ông bước tới gần không chút do dự, và với sự trầm tĩnh, ông đặt một tờ năm mươi đô-la mới cứng vào chiếc mũ nỉ cũ kỹ dưới chân Baldock. Thực là một sự hào phóng, người ta có thể nghĩ vậy. Nếu cái nghề ăn xin này luôn gặp những vị khách như ông, chẳng phải đó sẽ là nghề giàu nhất thế gian rồi hay sao. Người đàn ông sau đó mỉm cười với lão rồi quay mặt bước đi. Lão Baldock đột nhiên cất lên giọng nghẹn ngào: “Ôi ngài Henry, từ bao hôm nay ngài vẫn luôn cho lão những đồng tiền lớn thế này, lão già thực sự hổ thẹn! Ngài vì sao lại làm thế, nếu không ngại cho tôi hỏi?” Người đàn ông nhẹ nhàng nhìn lão đáp: “Con người ai mà chẳng có lúc sai lầm. Tôi làm vậy cũng chỉ mong một ngày không còn thấy lão ngồi đây nữa… vì biết đâu khi đó lão đã nhận ra được mình phải làm gì với số tiền tôi gửi…” Đôi mắt lão Baldock chợt đỏ hoe, giọng thổn thức như chợt òa lên khóc. Lão lấy tay lau đi vài giọt nước mắt đã lăn trên gò má hom hem: “Tôi hổ thẹn với ngài, tôi xấu hổ với chính tôi. Ước gì lúc đó tôi không để ma men kiểm soát, ước gì tôi không sa vào thứ chất lỏng đầy bi kịch ấy…” Người đàn ông cất giọng trầm trầm ấm ấm giữa mùa lạnh giá, thấu hiểu đáp: “Baldock à, lão đừng khóc nữa. Đừng có ước, vì điều ước nhiều khi chỉ là viễn vông. Nếu lão đã biết mình đi lạc, sao còn không tự mình bình tâm trở lại mà tìm đường về… đừng có ước nữa lão ơi.” Nói xong ông cũng cất bước đi, chẳng ngó lại lão già từng nát rượu kia đang nhìn theo hình bóng ông với ánh mắt đã sáng rỡ, không còn nét u uất thường ngày. Đôi tay gầy gò, đen đúa của lão run run nhưng vẫn cố siết chặt tờ tiền, đầu lão nghĩ gì chẳng ai biết. Người đàn ông vẫn chậm rãi bước dạo trên con đường ẩm ướt, giữa hai hàng cây khô héo. Dường như đây là điều mà ông vẫn hay làm, bởi trong sự quen thuộc ấy có một niềm an ủi và bình yên kỳ lạ. Cánh cửa bên kia đường chợt mở toang, Taylor, người phụ nữ góa hiền lành, thân thiện thốt lên tiếng chào đầy năng lượng: “Ồ chào ngài Henry! Thật sớm quá nhỉ, hiếm khi nào thấy ngài đi sớm như thế này! Thời tiết hôm nay án chừng lại mù mịt ẩm ướt nữa rồi. Mấy hôm nay cứ vậy làm việc kinh doanh của tôi chẳng khá hơn chút nào.” Cô Taylor này hơn ông năm sáu tuổi gì đó nhưng vẻ ngoài trẻ trung có thể đánh lừa bất kỳ ai. Có lẽ chính nhờ sự lạc quan yêu đời kia đã giữ cho năm tháng không chạm đến cô. Dù vậy, hôm nay giọng điệu của Taylor mang một chút chán chường, mệt mỏi, thật là sai khác với cô hằng ngày. Và rồi, ngay cả những tâm hồn lạc quan nhất, khi đối diện với sự khó khăn dai dẳng cũng đều bắt đầu phụ thuộc vào điều ước. Quả nhiên, cô lại tiếp tục: “Chắc tôi chỉ biết ước cầu cho ngày mai hửng nắng lên thôi. Dẫu biết rằng đây là mùa đông nhưng thế này thì tệ quá !” Người đàn ông kia nhìn cô triều mến, mỉm cười đáp lại: “Chào cô Taylor… Xem cô kìa, nào có giống người mà tôi quen biết đâu chứ! Tại sao không thay vì ước, cô hãy thử thay đổi cái gì đó cho phù hợp với thời tiết này chẳng hạn… Một món mì nóng hổi sẽ là một điểm sáng tuyệt với đấy !” Cô Taylor mở to mắt nhìn ông rồi “a” lên một tiếng dài đầy hứng khởi: “Đúng rồi, sao tôi lại không nghĩ ra nhỉ! Cảm ơn ngài nhé, chúc ngài một ngày tốt lành!” Bóng dáng cô khuất vào trong, ông lại cất bước đi tiếp. Điểm đến là công viên nhỏ bên bờ hồ Shen. Cửa hiệu tạp hóa của bà Miller vẫn mở như thường lệ, tấm bảng gỗ treo đơn độc kẽo kẹt trong gió. Bên trong, ánh đèn vàng tỏa ra một hơi ấm dịu dàng, đối lập hẳn với không khí lành lạnh bên ngoài. Tiếng chuông gió treo cạnh cửa vang lên khẽ khàng mỗi khi có ai bước vào mua vài món hàng lặt vặt: một chai sữa, vài ổ bánh mì, hoặc một gói cà phê rang mới. Cuối cùng ông cũng đến nơi. Mặt hồ Shen phẳng lặng, phản chiếu bầu trời xám như tấm gương xỉn màu. Một lớp băng mỏng đã bắt đầu hình thành sát mép bờ. Những chiếc thuyền gỗ neo ở bến đã được phủ bạt, chờ đợi đến mùa xuân mới trở lại mặt nước. Đột nhiên từ đằng xa vang vọng lại tiếng cười đùa, trò chuyện vui vẻ. Gia đình Parker đang cùng đứa con gái tám tuổi của mình có thời gian hạnh phúc với nhau. Cô bé gái đáng yêu hồn nhiên cao giọng cất lên: “Con yêu bố mẹ, con ước bố mẹ sẽ ở mãi với con. Chúng ta sẽ cùng nhau chơi bóng trên một thảo nguyên cỏ xanh ngát…” Cô bé chưa dứt lời thì bỗng quả bóng vụt khỏi tầm tay của cô, bay đến chỗ người đàn ông đang đứng. Cô chạy đến bên cạnh, lễ phép xin lại quả bóng. Ông mỉm cười nói với cô bé: “Cô gái à, thay vì ước, sao con không cố gắng thực hiện điều đó bằng chính mình. Đâu phải là chuyện khó đâu nhỉ. Chỉ cần làm một đứa trẻ ngoan ngoãn, cố gắng hết sức mình vì những điều tốt đẹp thì một này nào đó… chiến binh bé nhỏ sẽ làm được nó thôi!” Cô bé đón lấy quả bóng, đưa đôi mắt trong trẻo, ngây thơ nhìn ông giây lát rồi mỉm cười thốt lên: “Con sẽ làm được!” Cô chạy về phía bố mẹ, người đàn ông cuối cùng cũng ngồi xuống một chiếc ghế bên cạnh bờ hồ, mỉm cười nhìn về phía họ nơi cô gái bé nhỏ kia đang vẫy tay chào ông. Ánh nắng mai hiếm hoi xuyên qua tầng mây bạc chiếu xuống mặt hồ lấp lánh dội ngược ánh sáng vào mặt ông. Đó là một gương mặt tròn trịa trạc tứ tuần, trắng hồng, mang nhiều nét Á Đông. Ông có mái tóc đen, đôi mắt sáng như sao nằm sau cặp kiếng cận tròn. Thân hình tuy chút đầy đặn lại làm toát lên một vẻ tri thức, điềm đạm mà đầy cảm tình. Và một điểm nhận dạng nổi bật chính là ba nốt ruồi trên gương mặt bầu bĩnh của ông. Một nốt giữa trán, một nốt cuối đuôi mắt, và một nốt dưới mí mắt. Ông tên là Henry Tran, cha là người Mỹ và mẹ là người Việt Nam. Khẽ thở ra một hơi, hơi thở lại hóa thành làn sương bạc, ông phóng tầm mắt ra xa xa, ngẫm nghĩ về tất cả những cuộc đối thoại từ lúc bắt đầu cho đến khi đến đây. Ai cũng thốt lên chữ “ước”, là vô tình hay hữu ý, là tiếng chuông của định mệnh đã gõ hay chỉ là một sự ngẫu nhiên. Chẳng ai biết rằng ông là người có thể biến điều ước thành hiện thực, nhưng cũng chính nó đã khiến ông phải từ bỏ tất cả mà đến nơi ẩn mình nơi này. Ông đang chạy trốn khỏi định mệnh kỳ lạ và đầy đau thương của riêng mình. Nó lại đến nữa, mỗi khi Henry ngồi lặng lẽ một mình, những mảng ký ức xa xôi lại ùa về. Nó đeo bám ông mãi chẳng buông tha. … Tháng 3 năm 1990, đã được ba tháng kể từ ngày Henry và mẹ được cha đưa qua Mỹ. Nơi họ sống là một vùng ngoại ô thuộc phố tráng lệ và nguy nga Los Angeles. Cha của Henry là doanh nhân khá thành đạt, ông phải lòng mẹ của cậu khi có dịp sang Việt Nam công tác. Thật ra thì ông cũng là một người Mỹ gốc Việt. Những ngày đầu nơi xứ lạ, đối với cậu bé mười tuổi Henry, là cả một thế giới đầy ngỡ ngàng. Sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ và lối sống như một cơn sóng bất ngờ ập đến, khiến cậu choáng ngợp trước muôn vàn điều mới mẻ. Thế nhưng, Henry năm mười tuổi lại là một câu chuyện hoàn toàn khác với Henry điềm đạm, sâu lắng của hiện tại. Khi ấy, cậu là một đứa trẻ tinh nghịch, háo thắng, nhưng cũng đầy nhạy cảm và mong manh. Henry mang một diện mạo sáng sủa và hồn nhiên. Khuôn mặt bầu bĩnh, làn da trắng hồng lúc nào cũng toát lên sự đáng yêu. Đôi mắt to tròn, trong vắt, sáng ngời vẻ thông minh. Mái tóc đen bóng, dễ dàng dựng lên theo gió, càng làm Henry trông vô cùng năng động và rạng rỡ. Đặc biệt, ba nốt ruồi tô điểm gương mặt khiến ai đó khi nhìn thấy đều phải sững lại vài giây mà suy ngẫm. Dù chỉ mới đi học một thời gian ngắn nhưng cậu nổi bật lên như một sự khác biệt giữa những cô cậu da trắng tóc vàng. Cũng chính vì sự nổi bật ấy đã khiến Henry trở thành đối tượng bắt nạt của một số học sinh khác trong trường. Hôm nay, ngày 27 tháng 3, cũng là một ngày như thế. Và đây cũng là ngày định mệnh của Henry. Sau tiếng chuông kết thúc tiết học, một nơi khuất sau hành lang, chừng năm sáu học sinh nam đứng vây quanh một cậu bé mang nét Á Đông, gương mặt đáng yêu nhưng lì lợm vô cùng - Henry. Tên nhóc cầm đầu, bước đến tóm lấy cổ áo cậu nhấc lên, thét oang oang vào mặt cậu: “Này con khỉ da vàng… Mày phải chăng đã quên điều tao nói với mày ngày hôm qua. Hay để tao nhắc lại một lần nữa cho mày nhớ, mỗi ngày đến trường thì phải giao nộp mười đô la cho tao!” Henry im lặng đôi chút rồi đưa đôi mắt uất hận nhìn nó, đáp lại với sự thách thức lặng lẽ: “Thứ nhất tao không có tiền…!” Bọn chúng nghe xong đồng thanh phá lên cười, tên nhóc cầm đầu lại mỉa mai nói: “Không có tiền?… Mày tưởng bọn tao là lũ ngu hay sao?! Ba mày là một doanh nhân, nhà mày lại thuộc loại to đẹp nhất ở cái khu Winster này ai mà chả biết!” Henry vẫn giữ thái độ ấy, chậm rãi thốt lên: “Tao vẫn chưa nói điều thứ hai cho mày nghe…” Gã nhõi con này biểu hiện một chút ngạc nhiên rồi phá lên cười giễu cợt đáp: “Được, nói đi…điều thứ hai là gì ?” Vành môi của Henry cong lên hiện ra một nụ cười, ánh mắt cứng rắn vô cùng: “Thứ hai, mẹ tao là người Việt Nam mày biết không ?” Bọn chúng, không ai trong chúng hiểu được hàm ý của cậu là gì, chỉ nhìn nhau đôi lúc rồi ngờ vực chất vấn: “Mẹ mày là người Việt Nam thì sao ?” Henry đột nhiên hét ầm lên, cắn mạnh vào tay tên nhãi cầm đầu, khiến nó đau đớn đến độ hai mắt long tròng: “Người Việt Nam chúng tao không phải là kẻ dễ bị bắt nạt !” Sau đó, cậu lao vào ăn thua đủ với đám nhóc cá biệt. Dù biết lấy một chọi năm thì khó thắng nhưng bản tánh không chịu thua thiệt đã tiếp thêm cho cậu sức mạnh. Trong cơn hỗn loạn, cậu vơ đước cái gì thì lấy cái đó đập, chộp được tên nào thì đấm tới tấp tên đó. Sau chừng đâu mười phút, cả sáu đứa nhóc đều nằm lăn lóc, trên người đầy vết bầm, có cả vệt máu. Riêng Henry chịu đòn nặng nhất nhưng trên miệng cậu vẫn hé ra một nụ cười thỏa mãn. Chưa kịp để cơn hăng máu tan đi, Henry đã bị hai thầy giám thị lôi xềnh xệch về phòng hiệu trưởng. Chỉ một lát sau, mẹ cậu cũng được gọi tới. Bà khoác chiếc áo khoác mỏng, mái tóc đen buộc gọn, gương mặt không giấu nổi sự hoang mang. Trong căn phòng kín, những lời lẽ lạnh lùng và ánh mắt soi mói không chỉ đến từ ban giám hiệu mà còn từ mấy phụ huynh khác cũng có mặt. “Chúng tôi không thể chấp nhận hành vi bạo lực này,” hiệu trưởng nói, giọng sắc như dao, “Không thể để sự khác biệt văn hóa tạo nên mầm mống thù địch trong môi trường giáo dục như thế này.” Những lời ấy nặng trĩu, khiến Henry thoáng cau mày, còn mẹ cậu thì khẽ cúi đầu, không phản bác. Một phụ huynh tóc vàng, môi đỏ, bĩu môi chế giễu: “Có lẽ… đó là cách dạy con của người châu Á, hoặc… chỉ là do bà ta không biết dạy con.” Bà nghe, nhưng chỉ siết chặt tay lại, đôi mắt khẽ cụp xuống. Không một lời thanh minh, không một câu cãi lại, bà chấp nhận mọi lời đổ lỗi, chỉ để mọi chuyện kết thúc nhanh chóng. Trong thâm tâm, bà biết rõ: một lời phản bác lúc này có thể khiến Henry phải chịu thiệt thòi hơn nữa trong những ngày tới. Tuy nhiên Henry không như mẹ, cậu rướn người lên lườm bà phụ huynh kia. Ánh nhìn thực sự đem đến một cái rùng mình cho ả. Mẹ cậu nhanh chóng nắm tay cậu siết chặt, dằn lại trước khi Henry lại thốt ra lời nào ngốc nghếch. Bà biết ở đây, những kẻ mang màu da lạc loài như họ không có quyền phản bác. Dù họ có thanh minh như thế nào thì cũng là vô ích mà thôi. Khi cả hai bước ra khỏi cổng trường, nắng chiều rải vàng con đường Chesterhood dẫn về nhà. Henry bước bên cạnh, im lặng rất lâu, rồi lí nhí nói: “Con xin lỗi, mẹ…” Bà mỉm cười, bàn tay khẽ xoa đầu cậu, không nói gì thêm. Có những điều không cần lời nói ra, chỉ cần ánh mắt đủ ấm. Thế nhưng, trái với sự nặng nề đang lặng lẽ bao trùm, trong lòng Henry vẫn dấy lên một niềm háo hức. Cậu ngẩng lên, ánh mắt lại lóe sáng như lúc bắt đầu một cuộc nghịch ngợm: “Hôm nay… là sinh nhật con mà!” Nói rồi, cậu nắm tay mẹ, kéo đi nhanh hơn. Cơn đau trên người dường như chẳng còn đáng kể, bởi đâu đó, niềm vui của một đứa trẻ mười tuổi vẫn tràn trề và rực rỡ như buổi sớm đầu xuân. Đột nhiên trước khi bước vào nhà, Henry chợt chững lại, một cảm giác là lạ trào dâng, cậu quay lưng ra sau nhìn ngó. Ánh mắt cậu dừng lại ở một người phụ nữ mặc áo khoát đỏ, đội mũ rộng vành che gần hết gương mặt, hoặc là xa quá cậu cũng chẳng thấy rõ. Tuy nhiên cảm giác ấy, cái cảm giác mà bà ta đang nhìn chằm chằm vào cậu khiến cậu cảm thấy không thoải mái. “Con trai, có chuyện gì sao?” Bà Trang - mẹ Henry thấy con cư xử lạ thì lên tiếng: Henry có chút giật mình, ngước nhìn mẹ rồi vội quay về hướng người phụ nữ kia nhưng… bà ta không còn ở đó nữa. Ắt hẳn chỉ là một người quan đường nào đó mà thôi.… … Tối hôm đó, bỏ qua rắc rối mà Henry đã gây ra ở trường học, gia đình cậu có một tiệc sinh nhật nhỏ, ấm áp và hạnh phúc với nhau. Cha mẹ cậu đã tặng cậu một số món quà, để rồi khi mở tất cả, không cái nào trong số chúng làm cậu vui. Bởi vì những thứ đó không phải là điều cậu mong muốn. Tuy rằng không vui nhưng cậu vẫn cố gượng cười và ôm lấy cha mẹ. Cậu biết làm sao để là một đứa trẻ ngoan mà. Henry ôm đống quà được tặng lên phòng rồi để qua một bên. Cậu thả người xuống chiếc giường ấm êm đã dần trở nên quen thuộc trong cuộc đời mới của cậu. Những vết thương lúc sáng lúc nào cũng đau âm ỉ, cả cơ thể rệu rã. Henry nằm trằn trọc, dù gì cậu cũng chỉ mới mười tuổi. Tâm hồn vẫn là còn trẻ thơ, nên ấm ức về mấy món quà không được ý như cũng là chuyện thường mà thôi. Một lúc sau Henry rơi vào giấc ngủ lúc nào không hay. Bố mẹ cậu sau đó có ghé qua, nắm tay cậu con trai bé bỏng và hôn lên trán với một tình cảm thuần khiết nhất. Henry chẳng hề hay biết, trời đêm ngoài kia lạnh lẽo dưới bầu trời phủ đầy sao. Mãi rất khuya, Henry chẳng biết là mấy giờ, chỉ nhớ mình chìm vào một giấc mơ khác thường. Xung quanh tối mịt, lạnh lẽo đáng sợ. Đột nhiên một vầng sáng bùng lên phía trước, thấp thoáng bóng dáng người phụ nữ từ đâu hiện ra. Mái tóc bà buông dài như hòa tan vào những luồng hào quang phía sau. Ánh sáng hắt ngược lên khiến cậu không thể nhìn ra được dung mạo của người ấy như thế nào. Bà cất tiếng. Âm thanh vang vọng, như trôi tới từ một nơi rất xa, vừa ngọt ngào vừa ma mị, khiến từng sợi lông trên gáy Henry dựng đứng: “Cậu bé… ta đến để trao cho cậu một quyền năng. cậu có muốn tiếp nhận nó không… hỡi chàng trai nhỏ bé của ta?” Henry dụi mắt, nhưng lớp sương mơ hồ trong đầu không tan đi. Cậu nhìn bà, vừa bối rối vừa nghi hoặc: “Quyền năng?… Đó là gì… và vì sao lại là cháu?” Giọng bà êm ả, nhưng từng chữ như có móc câu, kéo suy nghĩ của cậu trôi về phía mình: “Vì cậu đã được chọn. Ba nốt ruồi trên mặt cậu chính là điềm báo của định mệnh. Quyền năng ấy giúp cậu có thể biến mọi thứ thành sự thật khi chỉ cần nói ra hai chữ “tôi ước”. Cậu có thể có được món quà sinh nhật mà mình muốn hay là… bất cứ thứ gì.” “Điều đó là... sự thật sao? Bà không lừa cháu chứ...Đây chỉ là một giấc mơ !” Henry ngập ngừng thốt ra với tông giọng đầy lưỡng lự. “Là sự thật... Ta đến trong giấc mơ và trao cho cậu quyền năng có thể thay đổi mọi thứ !” Giọng bà ta lại vang lên. Henry ngẩn ra. Một cảm giác ấm nóng tràn vào tim cậu - có thể… cuối cùng mình sẽ có được những gì thật sự muốn? Nhưng cùng lúc, một nỗi sợ mơ hồ len lỏi, như có bàn tay lạnh buốt đang đặt lên vai, đó là sự mơ hồ giữa thực và mơ. Cậu nuốt nước bọt. “Nếu… nếu mình có thể ước bất cứ điều gì, thì… sẽ thế nào?” suy nghĩ ấy vừa chạm đến thì giọng bà lại vang lên. Lại là nó - giọng nói không phát ra từ bà ấy, mà vọng đến từ màn đen hỗn độn xung quanh cậu: “Dẫu vậy quyền năng này có một cái giá… Tất cả những gì cậu ước sẽ thành sự thật nhưng đồng thời cậu sẽ mất đi một thứ gì đó bên cạnh hoặc bi kịch sẽ xảy đến với bất kì ai... Cậu có sẵn sàng cho nó hay không?” Henry im lặng. Trong đầu cậu là một chuỗi hình ảnh chồng chéo: gương mặt mẹ cười hiền, bàn tay cha đặt trên vai, vài món đồ chơi cũ kỹ nhưng quen thuộc. Và cả những thứ cậu luôn khao khát nhưng chưa bao giờ có. Đôi mày Henry chau lại. Cậu thật sự muốn không? Cậu dám đánh đổi không? Cậu có biết mình sẽ mất gì không? Cậu ngước mặt lên, đôi mắt cố tập trung vào gương mặt đối diện, cậu muốn biết người kia thật ra trông như thế nào. Nhưng rồi mọi nỗ lực đều rơi vào vô vọng, Henry mấp máy đôi môi, ngập ngừng thốt lên: “Cái giá đó…cháu phải trả những gì ?” “Ta nào đâu biết được… Đơn giản có thể là một bông hoa đổi lấy một nhành cây. Một bộ xe đồ chơi đổi lấy một chiếc TV chẳng hạn?” - Người đàn bà dường như đang nhìn cậu, hồi đáp. Henry siết chặt bàn tay, hít một hơi thật sâu. Cuối cùng, trong sự mơ hồ và cả khao khát không thể lý giải, cậu ngẩng lên, đôi mắt ánh lên một tia quyết tâm xen lẫn băn khoăn: “Cháu muốn có… quyền năng ấy.” Cậu không nhìn rõ người phụ nữ nhưng có thể thấy được cái gật đầu khẽ của bà ta… rồi từ từ hình bóng ấy mờ dần, ánh sáng sau lưng bà cũng phai nhạt đi. Chỉ còn lại một câu nói văng vẳng vọng về: “Hãy cẩn thận với những điều cậu ước !” … ững tia nắng đầu tiên của ngày lọt qua cửa sổ nhảy múa trên gương mặt bầu bĩnh của Henry, khẽ khàng đánh thức cậu. Giấc mơ đêm qua thật kỳ lạ nhưng cảm giác đem đến thì chân thực vô cùng. Hôm nay là thứ bảy, cậu không cần đến trường. Điều này thật may mắn vì không biết nếu cậu đến trường chuyện gì sẽ xảy ra nữa. Bữa sáng đầy đủ được bày ra trước mặt, bao gồm cả món Bún Bò từ quê hương Việt Nam mà Henry thích nhất. Henry chẳng ngần ngại bắt đầu cặm cụi ngấu nghiến tất cả. Cha mẹ ngồi đối diện cậu lặng im và cứ nhìn cậu mãi như thế đến khi Henry nhận ra. Ánh mắt tò mò xen lẫn nghi hoặc liếc qua hai người rồi cậu cũng thốt lên: “Cha mẹ! Hai người có chuyện gì sao ?” Ông bà im lặng một lúc nữa, nhìn nhau rồi ông Wilson - cha của Henry cũng lên tiếng: “Henry, con trai yêu dấu của ta! Chuyện ở trường có phải đã xảy ra từ rất lâu rồi không? Con có thể nói cho cha và mẹ con sự thật… Chúng ta là gia đình !” Henry cúi gằm mặt xuống, không trả lời, hai tay cậu siết chặt như cố kiềm nén sự uất hận đang sục sôi trong lòng. Ông Wilson, bằng một sự kiên nhẫn, tiếp tục câu câu chuyện: “Con trai yêu à, con cứ nói ra đi… cha mẹ sẽ không trách mắng gì con cả. Chúng ta cần biết để có thể làm những việc tốt đẹp nhất cho con mà thôi !” Henry lầm lì, cất giọng trầm trầm, đáp: “Bọn chúng bắt nạt con… Gọi con là khỉ vàng và gọi mẹ là đồ ngoại lai…!” Cha mẹ Henry trao nhau ánh nhìn chua xót, cha cậu lại nói tiếp: “Tại sao con lại không nói cho chúng ta biết… Chúng ta có thể giúp. Con trai à, ta nghĩ con cũng biết rằng đánh nhau không phải là cách tốt nhất để giải quyết vấn đề. Chúng ta có nhiều cách hơn để xử lý mà phải không ? Hai tay Henry bấu chặt vào đùi cậu, đôi mày chau lại thốt lên: “Bọn chúng không cho con cơ hội… Bọn nó quá đáng, con không chịu được !” Ông Wilson buồn rầu nói: “Henry… Con có nghĩ rằng chúng ta nên học cách nhẫn nhịn? Trong thành ngữ của người Việt Nam có câu: Một sự nhịn, chín sự lành …” Đến lúc này bao nhiêu uất ức, bao nhiêu tổn thương, bao nhiêu dồn nén trong lòng cậu đột nhiên vỡ òa, cậu khóc lên thật to. Cuối cùng, cậu cũng chỉ có mười tuổi. Dù cố gắng tỏ ra mạnh mẽ đến đâu thì trái tim ngây thơ và hồn nhiên kia không thể chứa đựng tất cả. Ba tháng qua thực sự có quá nhiều thứ làm đảo lộn cuộc sống của cậu. Cậu tin rằng rồi một ngày sẽ tốt hơn, nhưng tức nước thì vỡ bờ. Henry thét lên trong dòng nước mắt tuông dài: “Bọn chúng bắt nạt con! Bọn chúng gọi con là kẻ dị biệt, bọn chúng ghét con… Dù con đã cố gắng kết bạn, đã cố gắng làm một đứa trẻ ngoan! Tại sao chứ, tại sao con phải nhẫn nhịn chứ?!… Và mấy món quà tối qua, không phải là cái con muốn, cha mẹ không nghe con nói. Con ước, con đã ước sẽ có một bộ lắp ráp robot trong ngày sinh nhật!…” Câu nói chưa dứt cậu đã chạy vội lên phòng đóng cửa lại, vùi mình vào trong chăn và khóc nứt nở. cha mẹ cậu rất ngạc nhiên, nhưng rồi chỉ biết nhìn nhau thở dài. Họ sẽ chờ cho cậu nguôi đi một chút rồi lựa lời ngon ngọt dỗ dành. Họ biết rằng còn nhiều thứ phải dạy cho đứa con trai yêu dấu mà họ có được. Henry cứ vậy nằm lì trên giường, chẳng biết thời gian trôi như thế nào đến khi bên ngoài có tiếng gõ cửa và giọng của mẹ Henry vọng vào: “Henry con có nghe mẹ nói không ?” Henry chán chường hồi đáp: “Mẹ ơi con không ăn trưa đâu… con không đói !” Giọng mẹ của Henry có chút hồ hởi, tiếp tục: “Không phải con yêu, con nên đi ra đây… có cái này sẽ làm con vui!” Henry im lặng suy ngẫm. Có gì mà vui, có lẽ cha mẹ chỉ cố dụ dỗ cậu đi ra ngoài rồi lại giáo huấn cậu. Tuy nhiên vừa nãy cậu nghe có tiếng xe vào sân… Có ai đến sao, hay là mẹ cậu nói thật. Dẫu là Henry có buồn trong lòng, nhưng cậu rất yêu quý mẹ cậu nên lúc này là thực hay giả thì cũng không nên để mẹ cậu buồn. Henry cố lôi thân mình ra khỏi giường, mở cửa, đã thấy mẹ cậu mỉm cười đứng bên ngoài. “Có gì vui vậy mẹ?” Henry ngờ vực chất vấn. Bà Trang từ tốn, nhẹ nhàng, nắm lấy tay cậu vừa nói: “Con xuống dưới nhà rồi biết.” Henry đi theo mẹ, bán tín bán nghi nhưng cũng không làm khác được. Lúc này dưới nhà vang lên tiếng cười nói, giọng có phần quen thuộc. Một lúc sau cậu đã nhận ra vui mừng chạy đến chào: “Ồ là chú Brad! Lâu quá mới được gặp chú !” Chú Brad là em trai của cha cậu. Chú rất quý Henry nên mỗi lần đến chơi đều đem theo quà cho cậu cháu trái láu lỉnh của mình. Chú Brad cười lớn, xoa đầu Henry rồi chìa ra trước mặt cậu một hộp quà lớn: “Nào Henry, chú lại quên mất là hôm qua là sinh nhật cháu. Chú hôm nay đem quà đến xin lỗi này…!” Henry không nén nổi sự hào hứng, vội vàng mở quà mà không thể chờ đợi thêm nữa. Ngay sau đó cậu hét lên một tiếng đầy phần khởi, đây chính là món quà mà cậu mơ ước! Mẫu lắp ráp robot mới nhất và thịnh hành nhất hiện tại. Cậu ôm chặt nó vào lòng và liên tục nói cảm ơn chú Brad. Vậy là tâm trạng uể oải chán chường lúc nào giờ đây đã không còn. Henry vui hơn bao giờ hết! Cả ngày hôm đó cậu chuyên tâm lắp ráp mô hình robot mà chẳng bận tâm chuyện gì khác. Mãi đến tối mới nghe giọng ông Wilson vọng vào hỏi: “Henry, con có thấy Happy đâu không? Cả ngày nay ba không thấy nó đâu cả !” Happy là con mèo cưng mà nhà cậu nuôi. Nó to béo và rất lười biếng, bình thường thì chẳng đi đâu, có lẽ vì nó chẳng thể nào nhất nổi cái cơ thể mập mạp đó. Henry đang say sưa với món đồ chơi của mình nên cũng không để ý lắm, mà thực ra thì cậu cũng không thấy nó đâu. “Không ba ơi, con không thấy Happy. Chắc nó lại đi đâu chơi rồi về thôi!” … Sáng chủ nhật, trái ngược với hôm qua, hôm nay trời ảm đạm, bầu trời xám xịt có vẻ sắp mưa. Mới sáng sớm, bà Jill hàng xóm bên cạnh đã sang gõ cửa. Gương mặt bà ấy có chút buồn bả, và ái ngại. Quả nhiên bà thông báo một tin chấn động với gia đình Henry: “Mọi người sang xem thử có phải là con Happy không? Nó đang ở trong hồ bơi sau vườn của chúng tôi !” Henry từ sớm đã thức dậy vì cả ngày hôm qua cậu còn chưa lắp ráp xong con robot. Nghe bà Jill nói vậy, một dự cảm không lành xâm lấn suy nghĩ của họ. Cả ba người tức tốc chạy qua xem xét. Vừa nhìn thấy, mẹ Henry đã lấy tay bưng miệng, nước mắt lưng tròng. Cha cậu cũng không giấu nổi tâm sự sau cái nhíu mày. Riêng Henry, đây thực sự là cú sốc đối với cậu. Con mèo Happy nổi lềnh bềnh trong hồ bơi của bà Jill, thân thể bất động… nó đã chết! Henry thét lên hai tiếng Happy rồi lao đến hồ bơi, may mà cha cậu nhanh tay giữ lại. Con mèo này như là một thành viên của gia đình, ai cũng đều rất quý mến nó. Mỗi khi Henry buồn chán đều lôi nó ra chơi đùa. Cái chết của Happy làm ngày chủ nhật của họ trở nên u buồn và nặng trĩu như bầu trời hôm ấy. Trong nhà không ai nói với ai tiếng nào, mãi đến khi ông Wilson lên tiếng động viên nhưng cũng chẳng thay đổi được bao nhiêu. Hôm sau đã là thứ Hai, cuộc sống lại trở về với nhịp điệu vốn có của nó. Henry đến trường, đi dọc hành lang, cậu phải chịu đựng bao nhiêu ánh nhìn dò xét, thái độ và sự dè biểu hướng về phía mình. Trái tim cậu đập thình thịch đầy phẫn uất. Tuy nhiên cái chết của Happy vẫn ám ảnh khiến cậu cũng chẳng mấy mặn mà để ý đến cái bầu không khí gượng gạo ngột ngạt xung quanh mình. Giờ nghỉ trưa, Simon - gã học sinh to xác hay bắt nạt cậu lại lôi cậu ra sân bóng toan giở trò. Henry quá mệt mỏi với mọi thứ, cộng thêm cái chết của Happy khiến cậu không muốn chịu đựng thêm nữa mà thét lớn vào mặt nó: “Cái tên khốn nạn này, tao luôn ước từ sau mày đừng đi học ở cái trường này nữa… Tao phát chán khi nhìn thấy bản mặt tồi tệ của chúng mày rồi !” Vừa dứt lời, cậu vùng mình ra rồi nhanh chân chạy biến. Hai hôm sau cậu nghe giáo viên chủ nhiệm thông báo rằng tên nhóc Simon đó đã cùng gia đình chuyển về Texas khiến cả lớp ai cũng ngỡ ngàng. Henry không dấu được sự vui mừng, chỉ muốn nhanh chóng về nhà để thông báo cho cha mẹ. Tuy nhiên khi cậu vừa vào trong đã cảm nhận được một bầu không khí nặng nề, gương mặt cha cậu nhăn nhúm, ánh mắt đầy lo lắng và bất an. “Có chuyện gì vậy ba mẹ…?” Bà Trang nhìn cậu, giọng có chút âu sầu đáp: “Chú Brad của con mới bị tai nạn. May mắn là tánh mạng không sao, chỉ bị gãy vài khúc ở chân. Giờ chúng ta chuẩn bị sang thăm chú ấy !” Tin tức này như sét đánh ngang tai. Cả cơ thể Henry run lên, ông trời chẳng để niềm vui của cậu kéo dài thêm chút nào. Cứ ngay khi cậu có chuyện gì tốt lành thì ngay sau đó là tin dữ. Henry bật khóc, gương mặt tái nhợt, có phải cậu vô tình quên mất điều gì không… một điều rất quan trọng! … khi từ bệnh viện trở về, cậu nằm vùi đầu vào đống chăn nệm, suy nghĩ mông lung. Trời đã quá khuya, sự ồn ào của phố thị cũng tạm nép vào nhường chỗ cho tĩnh lặng ngự trị. Ngoài cửa sổ bỗng nhiên có ánh đèn xe hơi, hoặc là thứ gì đó lóe qua một vầng sáng vàng. Trong đầu Henry đột nhiên nhảy số, phải chính ánh sáng ấy đã nhắc cậu về giấc mơ hôm trước. Cậu có thể biến mọi điều ước thành sự thật nhưng đi kèm là cái giá phải trả. Henry chợt run lên dù cho đã quấn quanh người cả lớp chăn dày. Cậu run vì một suy nghĩ chợt thoáng qua, lẽ nào những tai nạn kia là do chính cậu đã ước. Nhưng trong thâm tâm cậu phủ nhận điều đó. Cậu không tin, Henry không tin vào những điều thần kỳ. Cậu mười tuổi nhưng cũng biết được rằng truyện cổ tích cũng chỉ là truyện cổ tích mà thôi. Vậy lý giải như thế nào về những sự việc kỳ lạ đã xảy ra, rằng cậu có được những thứ cậu mong mỏi. Đầu óc Henry như muốn nổ tung, cậu không thể nghĩ thêm gì nữa. Henry bật dậy, đắn đo một lúc rồi thốt lên: “Tôi ước gì có một bịch kẹo dẻo ngay lúc này…!” Cậu nín thở chờ đợi, ba mươi phút trôi qua vẫn không có bịch kẹo nào rơi xuống trước mặt. Henry thở ra một hơi như trút được gánh nặng. Để cho chắc chắn cậu bước ra ngoài, từ từ mở cửa phòng, nhìn ra ngoài hành lang, vẫn không có bịch kẹo dẻo nào cả. Lúc này cậu mới thực sự an tâm. Để tạm quên đi những buồn phiền, Henry quyết định lôi con robot mới ra chơi, chẳng hiểu thế nào cậu mở nhầm cánh cửa tủ và thế là một cái gì đó rơi vào người cậu. Henry giật mình, vội nhìn lại dưới chân… Đó …không thể nào… đó là một bịch kẹo dẻo ! Tất cả lông trên cổ cậu đều dựng đứng, cậu như bị đóng băng. Điều ước đến thật sao?! Cố gắng lấy lại sự bình tĩnh, ngẫm nghĩ đôi lúc cậu chợt nhớ ra rằng vài tuần trước, vì mẹ cậu không cho cậu ăn nhiều kẹo nên Henry mới lén lút giấu mẹ cậu bịch kẹo ở đây. Đây không phải là điều ước, đây chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, vì cậu biết chắc chắn rằng bịch kẹo đã ở đây từ trước rồi, chẳng có bịch kẹo nào mới cả. Henry tạm yên tâm với suy luận của mình rồi thả người xuống giường. Cậu thở ra một hơi thật dài, như vừa trút bỏ một tảng đá đè trên ngực. Ấy vậy mà đâu đó trong bụng lại trào dâng một một sự hụt hẫng lạ kì, giống như khi cậu mở hộp quà sinh nhật và phát hiện bên trong chỉ là một cuốn sách “Khi trẻ con đang lớn” từ bố mình vậy. Cậu tự nhủ: “Thà không có phép màu còn hơn là có thứ khiến mọi người xung quanh gặp chuyện chẳng lành.” Nhưng ngay sau đó, một giọng nói nhỏ xíu trong đầu thì thầm: … “nhưng sẽ ra sao …nếu là thật?! Mình đã có thể làm được bao nhiêu điều tuyệt vời…” Henry kéo chăn trùm kín đầu, cố xua cái ý nghĩ đó đi. Cậu chỉ là một thằng bé mười tuổi, chẳng phải anh hùng trong truyện cổ tích nào hết. Và chuyện cổ tích… vốn chỉ là để kể cho trẻ con ngủ yên thôi. … Sáng hôm sau, khi chuẩn bị đi học, Henry thấy cha mình đứng trầm ngâm trước nhà, hướng mắt về thứ gì đó. “Cha ơi, có chuyện gì vậy ?” Ông Wilson giật mình, cười cười đáp lại: “À không có gì, lúc nãy không cận thận ta làm vỡ cái chậu hoa này của mẹ rồi. Không biết bà ấy có cho ta ngủ sofa không nữa ?” Henry bật cười với câu nói đùa của ông Wilson, sau đó ông đưa Henry đến trường. Trên đường đi, Henry vẫn không ngừng nghĩ về những sự trùng hợp kì lạ mấy ngày nay từ hôm có giấc mơ ấy. Cậu quyết định thử một lần nữa, vừa hay hôm nay trên lớp phát bài kiểm tra định kì. Cậu lập tức lầm bầm trong miệng chỉ đủ mình nghe thấy: “Ước gì bài kiểm tra môn toán sẽ được điểm cao!” Henry ước điều đó vì cậu cực ghét môn Toán, cái môn học ngớ ngẫn khiến cậu chẳng bao giờ có được điểm số tốt lành nào cả. Nếu thực sự cậu được điểm tốt thì giấc mơ đó không chỉ là một giấc mơ nữa rồi. Cuối cùng tiết Toán cũng đến, hôm nay cô giáo không trả bài kiểm tra như thường lệ mà chỉ đọc điểm, cô hứa sẽ trả bài sau. Đến lượt tên của Henry vang lên, cậu chỉ được điểm D, một điểm số có thể gọi là ngưỡng dưới trung bình. Tuy được điểm kém, nhưng ai nấy cũng đều bất ngờ khi thấy cậu thở ra một hơi và mỉm cười thật tươi. Cậu vui, rất vui, vì điều ước của cậu không thành hiện thực. Vậy là giấc mơ kia chỉ là hão huyền mà thôi, và mọi thứ xảy ra cho đến bây giờ đều là trùng hợp ngẫu nhiên. Tan học, Henry đợi mãi chẳng thấy bố đến đón như đã hứa. Bất chợt cô giáo đến thông báo là xe của ba Henry gặp một tai nạn, phải ở lại giải quyết nên cậu đành phải đi bộ về nhà vì thật ra nhà họ chỉ cách trường học vài ba con phố nhỏ mà thôi. Trời đã ngã về chiều muộn, ánh sáng cuối cùng của ngày le lói, xuyên qua cửa sổ phòng làm việc của giáo viên. Một cơn gió vô tình thổi ngang qua làm xấp giấy tờ trên bàn rơi rãi rác. Tia nắng yếu ớt rọi thẳng lên một bài kiểm tra có tên Henry Tran với điểm A. Cách đó không xa cũng là một bài kiểm tra với điểm D, cùng một cái tên Henry Thompson.
Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ