Tôi gặp Hoài An vào một buổi sáng đầu tháng Chín tại ga tàu Thành Đô. Hắn đang đứng trước quầy bánh bao nghi ngút khói, tay trái cầm chiếc điện thoại đang sáng màn hình, tay phải xách túi nilon đựng hai cái bánh bao thịt vừa ra lò, gương mặt đăm chiêu nghiêm trọng đến mức tôi cứ tưởng hắn đang bấm máy gọi cho bên bảo hiểm thương lượng việc bồi thường tài sản. Tôi đứng sau lưng gọi liền hai tiếng, giọng chìm nghỉm giữa tiếng loa báo giờ tàu chạy và tiếng chày đập bột dồn dập của ông chủ quầy. Đến tiếng thứ ba, tôi đành dậm chân bước tới vỗ mạnh vào vai hắn.
Hoài An giật thót người, suýt nữa làm rơi túi bánh bao đang cầm. Hắn ngoái đầu lại, liếc nhìn tôi từ đầu đến chân rồi thản nhiên nhét thẳng cho tôi một chiếc bánh bao: “Cậu đến muộn năm phút.”
“Do cậu tự dưng gọi tôi đi Tứ Xuyên, tôi còn phải chuẩn bị hành lý chứ” Tôi đón lấy chiếc bánh còn nóng hổi, hơi nóng bốc lên mang theo mùi hành lá và mỡ lợn thơm nức mũi.
“Tôi nói tối qua rồi.”
“Nói lúc nào?”
“Tối qua.” Hắn bình thản cắn một miếng bánh rồi chậm rãi giơ chiếc điện thoại lên.
Tôi nhớ lại khoảng mười một giờ đêm qua, hắn có gửi cho tôi đúng một tin nhắn chỉ có một dòng vỏn vẹn năm chữ: Mai đi Tứ Xuyên không? Tôi khi ấy đang dở tay sửa nốt vài dòng bản thảo, tưởng hắn lại giở trò đùa cợt nhảm nhí lúc nửa đêm nên ngó lơ không thèm nhắn lại.
“Không trả lời tức là đồng ý.”
“Rốt cuộc là cậu muốn đi công tác hay muốn tìm tôi gánh bớt tiền phòng?” Tôi giật lấy nửa cái bánh còn lại trong tay hắn “Cậu đúng là càng ngày càng biết cách tiết kiệm tiền nhỉ?”
Hắn cũng chẳng giành lại, chỉ kéo vali đi về phía cửa soát vé. “Vé tàu tôi mua rồi.”
“Khách sạn bạn tôi đặt có hai giường đơn.” Hắn chẳng buồn ngoảnh lại, chỉ giơ một tấm vé tàu khè ra sau lưng quơ quơ. “Vé lượt đi tôi thanh toán rồi, tí nữa cậu trả tiền taxi là hòa.”
Tôi đứng ngẩn ra giữa dòng người đang ùn ùn đổ về cửa soát vé, chợt nhận ra mình vừa bị lừa vào cái bẫy tính toán của gã này. Nhưng tiếng còi tàu đã rú lên một hồi dài phía sâu trong đường ray, tôi đành thở dài xóc lại quai túi hành lý rồi sải chân đuổi theo hắn.
Khi đang bước xuống bậc thang dẫn ra sân ga, tôi mới hỏi rốt cuộc chuyến này hắn xuống tận miền sơn cước phía nam Tứ Xuyên để làm cái trò gì. Hoài An hạ thấp giọng bảo gã bạn học cũ bên mảng bảo tồn di sản, hiện phụ trách một dự án khôi phục làng dệt lụa cổ ở phía nam Tứ Xuyên. Người kia vừa tìm được một khung dệt bằng gỗ được một gia đình làm nghề dệt sử dụng qua nhiều thế hệ nên cậu ta muốn nhờ xem giúp một số hoa văn và kết cấu chạm khắc trên khung.
“Một cái khung dệt cũ thì có gì mà khiến cậu phải lặn lội chạy hàng trăm cây số thế?” Tôi thắc mắc.
Hoài An dừng lại ngay trước cửa toa tàu: “Kiếm được khoản lớn lắm đấy.”
Chưa kịp gặng hỏi thêm thì dòng người phía sau đã đùn đẩy chúng tôi bước lên xe. Tàu xình xịch chuyển bánh, tiếng bánh xe nghiến vào đường ray kêu ken két, kéo chúng tôi lao thẳng về hướng vùng núi Tứ Xuyên mờ mịt hơi sương.
Đường từ Thành Đô vào vùng núi phía nam không quá khó đi, chỉ là càng về sau cảnh vật càng thưa thớt dần. Hai bên đường bắt đầu xuất hiện những ruộng dâu thấp, từng hàng cây được cắt gọn thành những mảng xanh nối nhau men theo sườn đồi. Qua khỏi khu dân cư, những mái nhà ngói nằm rải rác giữa các triền núi, trước sân thường có những giá tre phơi kén tằm và từng cuộn tơ trắng được hong dưới mái hiên. Thỉnh thoảng lại thấy một con suối nhỏ men theo đường, nước trong đến mức nhìn rõ những viên đá cuội nằm dưới đáy. Đến đoạn đường nhỏ phải đổi sang xe địa phương, Hoài An ngủ mất gần một tiếng, còn tôi ngồi cạnh cửa kính nhìn những dãy núi xa dần chìm trong màn sương mỏng. Tháng Chín ở đây đã có hơi lạnh, buổi sáng còn mang chút oi ả của cuối hạ nhưng đến chiều, gió từ khe núi thổi qua cửa xe đã khiến người ta phải kéo cao cổ áo.
Tôi chống cằm nhìn ra ngoài cửa kính, đến khi điện thoại mất hẳn sóng mới quay sang hỏi Hoài An: “Thế cái khung dệt này rốt cuộc có gì đặc biệt?”
Hắn đang thiu thiu ngủ, nghe thấy câu hỏi thì mới mở một mắt.
“Không biết.”
“Cậu không biết mà kéo tôi đi?”
“Người ta mới chỉ gửi ảnh cho tôi xem thôi.” Hắn ngáp một cái rồi kéo áo khoác che lên mặt. “Đến nơi thì mới biết được.”
“Vậy lúc nãy còn làm ra vẻ thần bí.”
“Tôi có làm ra vẻ gì đâu?”
Tôi nhìn hắn trùm kín mặt, không buồn tranh luận nữa.
Đến chiều, xe dừng ở một trấn nhỏ nằm lọt giữa những triền núi. Trời vừa mưa xong, mặt đường lát đá xanh còn đọng nước, mái ngói hai bên phủ một lớp rêu mỏng. Con kênh chạy dọc cuối trấn đầy những lá dâu vàng úa trôi lững lờ theo dòng.
Người bạn của Hoài An đã đứng chờ ở đầu làng từ trước. Anh ta mặc áo khoác mỏng, vừa thấy chúng tôi xuống xe đã bước tới kéo giúp một chiếc vali.
Người bạn của Hoài An tên Lục Thành, hơn chúng tôi vài tuổi, hiện công tác ở Trung tâm bảo tồn văn hóa huyện. Anh ta lái một chiếc xe bán tải cũ đến đón, vừa gặp đã đưa cho Hoài An một túi giấy đựng mấy quả quýt rồi hất hàm nhìn sang tôi với vẻ hiếu kỳ: “Đường xa thế này mà cậu còn kéo thêm người tới à? Cậu ấy có chuyên môn gì không?”
Hoài An thản nhiên chỉ chỉ ngón trỏ vào tôi. “Người này tự đi theo. Cậu ta chuyên môn ăn hết phần của người khác.”
Tôi trố mắt nhìn cái bản mặt trơ tráo của hắn, đang định chửi đổng thì Lục Thành đã bật cười. Anh ta bảo trong làng hiện đang vào mùa trùng tu xưởng dệt nên các dãy nhà trọ, khách sạn ngoài trấn đều chật cứng người, anh ta chỉ xoay xở đặt tạm một phòng hai giường đơn ở khách sạn của người quen.
Tôi tranh thủ chen ngang, hỏi một câu thực tế đã chờ đợi từ nãy giờ: “Thế tụi tôi xuống đây có được bao ăn bữa nào không?”
Lục Thành vừa vặn vô lăng cho xe ôm theo khúc cua ngoằn ngoèo vừa cười nói: “Nếu chú em chịu phụ mấy ông thợ trong làng dọn dẹp ngoài xưởng dệt, tôi bao trọn ba bữa đủ lẩu, đầu thỏ cay Tứ Xuyên.”
Hoài An ngồi ghế phụ phía trước ngoảnh đầu lại, ánh mắt tràn ngập vẻ coi thường: “Cậu đừng tin tên này. Cứ hễ đụng tới việc tay chân là tầm nửa tiếng sau tên này lại lặn mất tăm cho xem.”
“Tôi lặn hồi nào?” Tôi lập tức độp lại ngay “Chuyên môn của tôi là cầm bút viết chữ chứ có phải đi bốc vác đâu. Bảo tôi đi dọn xưởng thì khác quái nào bắt bác sĩ đi trộn xi măng.”
Lục Thành nghe tới đó thì cười ngặt nghẽo đến mức phải quay mặt ra cửa kính. Trong khi đó, Hoài An chỉ lạnh lùng ném một múi quýt vào miệng, hạ thấp uy tín của tôi bằng cái giọng không thể đáng ghét hơn: “Cậu có phải bác sĩ đâu mà tự nâng giá trị bản thân cao thế?”
Làng dệt nằm men theo một con suối nhỏ, nhà cửa không cất san sát mà rải dọc theo hai bên triền dốc. Những giàn phơi tơ dựng trước khoảng sân nhỏ, từng bó sợi trắng ngà được cuộn thành vòng treo dưới mái hiên. Có vài nhà vẫn giữ khung dệt trong gian chính, tiếng thoi gỗ va vào nhau vang lên đều đều. Tôi vốn tưởng nghề dệt truyền thống ở một nơi như thế này đã sớm thành chuyện cũ để người ta đem ra kể cho khách du lịch, không ngờ vừa bước chân xuống xe đã nghe tiếng máy dệt từ ba bốn căn nhà khác nhau vọng lại, lẫn trong tiếng suối chảy róc rách dưới chân cầu đá.
Lục Thành vừa rà thắng cho xe lăn chậm qua dốc vừa hất hàm chỉ tay về phía những dải lụa đang đung đưa nhẹ trong gió. Anh ta giới thiệu nơi này từng nổi tiếng khắp nơi nhờ loại lụa mỏng nhẹ như mây, người địa phương gọi là bạch ty, tấm lụa mỏng đến mức khi đem giơ lên dưới nắng, người ta có thể nhìn thấy từng đường gân tay qua lớp vải. Lục Thành vừa lái xe vừa kể, từ thời Dân quốc trở về trước, gần như nhà nào cũng có một khung dệt. Con gái trong làng từ mười mấy tuổi đã học quay tơ, mắc sợi, xâu go, cả tuổi thanh xuân gắn liền bên khung cửi.
Tôi nheo mắt nhìn qua ô cửa kính xe, tò mò hỏi chêm vào: “Mấy cô con gái dệt vải quanh năm suốt tháng, thế đàn ông trong làng làm gì?”
Lục Thành phẩy tay, bật ra một tiếng cười nhẹ nhõm: “Buôn bán, đi học rồi ra ngoài thành phố làm việc lớn chứ làm gì.”
Hoài An vốn đang tựa đầu vào thành ghế ngủ gật từ lúc xe vào đường núi, nghe đến đấy bỗng nhiên mở mắt. Hắn không mở lời, chỉ ngẩng đầu lên nhìn vào tấm gương chiếu hậu phía trước. Lục Thành qua lớp kính cũng bắt gặp ánh mắt của Hoài An. Tôi chẳng rõ câu nói đùa bâng quơ của Lục Thành là vô tình hay hữu ý nhưng không khí trong xe tự dưng ngột ngạt đi thấy rõ. Hai người nhìn nhau chừng vài giây ngắn ngủi rồi Lục Thành bất ngờ cười mỉm rồi gạt câu chuyện sang một bên, quay mặt nhìn thẳng ra đường lộ.
Ít lâu sau, Lục Thành mới mở lời, bảo ngoài chúng tôi thì bên Trung tâm bảo tồn văn hóa huyện còn mời thêm một số người, mấy người kia đã chờ từ trưa.
Một người là chuyên gia phục chế đồ gỗ tên Trình Hạo, phụ trách kiểm tra và phục chế khung dệt.
Một người là phóng viên tự do tên La Khải, trước đây từng sống ở làng, sau khi lên thành phố làm việc vẫn thường viết bài quảng bá về văn hóa địa phương.
Người cuối cùng là một nhà văn có tên Tạ Minh Viễn.
“Nhà văn Tạ Minh Viễn?” Tôi hỏi lại, giọng không giấu nổi vẻ hoài nghi.
Lục Thành gật đầu, giọng lập tức có thêm chút kính trọng. “Ừm đúng là người cậu nghĩ đó. Chắc cậu cũng từng đọc sách của anh ấy rồi.”
Tôi quả thật từng đọc, ít nhất là một cuốn, tác phẩm lừng lẫy giúp Tạ Minh Viễn nổi danh như cồn trong cộng đồng văn học. Tên tuổi Tạ Minh Viễn mấy năm gần đây xuất hiện không ít trên các bảng xếp hạng sách bán chạy, tác phẩm được chuyển thể thành phim, ông ấy liên tục được phỏng vấn trên các tạp chí lớn nhỏ, báo chí tung hô chẳng thiếu từ ngữ mỹ miều nào. Một người như vậy đáng lẽ phải xuất hiện ở những buổi ký tặng đông nghịt người hâm mộ hoặc trong phòng làm việc có điều hòa mát rượi, không hiểu sao lại chịu khó lặn lội chạy đến một làng dệt hẻo lánh nằm sâu trong núi.
“Ông ấy cũng nghiên cứu nghề dệt à?” Tôi hỏi.
“Không hẳn. Anh ấy muốn tìm chút tư liệu cho cuốn sách mới.” Lục Thành nói. “Quê anh ấy cũng ở vùng này, tính ra nhiều năm rồi mới trở về.”
Tôi còn định hỏi quê ông ta ở đâu thì phía trước đã có người gọi Lục Thành. Hắn quay đầu lại, bảo chúng tôi cứ vào trước.
Trình Hạo đang đứng bên một gian nhà gỗ, cúi xuống kiểm tra mấy thanh gỗ mới tháo khỏi khung dệt. Người này trông chưa đến bốn mươi, dáng người gầy, đôi bàn tay chai sần dính đầy bụi gỗ. Thấy chúng tôi đi tới, hắn chỉ gật đầu chào một tiếng rồi tiếp tục xem xét ghép mộng gỗ.
La Khải thì hoàn toàn trái ngược. Vừa nghe ngóng có người từ Thành Đô tới, ông ta đã lăm lăm cầm máy ảnh chạy lại, hối hả hỏi dồn chúng tôi từng người làm gì, đến từ đâu, thậm chí còn hỏi Hoài An có định viết bài về làng nghề hay không. Hoài An thản nhiên đẩy câu hỏi về phía tôi, bảo tôi mới là người hóng hớt, nhiều chiện, khiến tôi suýt ném túi bánh bao nguội ngắt vào mặt hắn.
Tạ Minh Viễn xuất hiện sau cùng. Ông ta khoảng chừng ngoài năm mươi tuổi, tóc đã điểm bạc, khoác chiếc áo dài màu xám đơn giản, hoàn toàn không có dáng vẻ gì của một người bước ra từ thành phố lớn. Lục Thành giới thiệu qua loa đôi câu, ông ta lần lượt bắt tay từng người, lời lẽ chừng mực vừa đủ, chẳng có kiểu khách sáo quá mức của người xa quê lâu ngày cũng chẳng có vẻ cố tình thân thiết với những người lần đầu gặp. Khi La Khải hớn hở nhắc đến mấy cuốn sách ăn khách của ông, Tạ Minh Viễn chỉ mỉm cười xua tay nhẹ nhàng rồi chủ động lái câu chuyện sang hỏi thăm tiến độ phục chế.
Gian xưởng nằm nép mình ở cuối con dốc, trước kia vốn thuộc sở hữu của một gia đình làm nghề lâu đời nhất nhì trong vùng, sau này con cháu lần lượt rời làng lên thành phố nên bỏ hoang. Trung tâm bảo tồn phải mất gần nửa năm trời vận động mới thương lượng xong việc thu hồi đống đồ đạc còn sót lại.
Buổi chiều hôm đó, Hoài An cùng Trình Hạo vào xưởng xem xét khung dệt. Tôi lẽo đẽo theo sau một lúc rồi cũng bỏ ra ngoài vì không gian bên trong toàn mùi gỗ cũ, mùi dầu bảo quản trộn lẫn cái vị ngai ngái của sợi tơ, ngồi chưa đầy mười phút đã thấy hai bên thái dương giật giật đau đầu.
Khung cửi được đặt giữa gian nhà.
Nó không lớn như tôi tưởng tượng. Toàn bộ phần khung làm bằng gỗ sẫm màu, những chỗ thường xuyên chịu lực đã nhẵn bóng vì nhiều năm bị bàn tay con người chạm vào. Một vài thanh gỗ đã được thay mới, màu sắc gỗ còn tươi và sáng hơn phần còn lại. Trên chân khung có những đường vân chạm rất mảnh, không phải hoa văn cầu kỳ mà chỉ là vài nhánh dâu và đường sóng nước đã bị thời gian mài mòn gần hết.
Tôi lơ đãng chống tay lên thanh ngang, quay sang hỏi Trình Hạo: “Cái này nằm ở đây bao lâu rồi?”
“Không rõ nữa.” Hắn đáp, mắt vẫn dán vào mối ghép. “Ít nhất cũng đã qua ba đời người. Có khi còn lâu hơn.”
“Thế giờ còn dệt được không?”
“Vẫn được thôi. Nếu chịu khó tháo ra làm lại toàn bộ phần trục rồi thay vài chỗ bị mục.”
“Vậy sao không cứ để nguyên trạng vậy đi?”
Trình Hạo ngẩng đầu nhìn tôi. “Đồ dùng thì phải dùng. Đồ để bảo tồn thì không.”
Hoài An đang ngồi xổm bên cạnh, dùng đầu ngón tay miết nhẹ lau đi một vệt đen bám keo lại dưới chân khung cửi. Hắn đưa ngón tay lên sát mũi ngửi thử, rồi rút khăn tay ra lau sạch dơ bẩn.
“Có gì bất thường à?” Tôi nheo mắt hỏi.
“Nhựa gỗ thôi.”
Tôi dừng lại, trố mắt nhìn hắn chằm chằm.
“Cậu nhìn tôi làm gì?” Hắn nhướng mày.
“Không có gì.”
Hắn đứng lên, phủi phủi hai bàn tay rồi bảo tôi ra ngoài ăn cơm. Tôi vừa xoay lưng định bước đi thì phía sau lưng bỗng vang lên một âm thanh va chạm khô khốc dội thẳng vào màng nhĩ.
Cạch
Tôi giật nảy người quay đầu lại.
Khung cửi vẫn nằm trần trụi, im lìm giữa gian xưởng mù mịt bụi vải.
Trình Hạo vẫn cặm cụi bận rộn ở phía góc bên kia còn Hoài An thì đã bước khỏi ngưỡng cửa gỗ từ đời nào.
“Cậu vừa nghe thấy cái gì không?” Tôi gọi giật giọng.
“Nghe thấy cái gì?” Hắn đứng lại ngoài khoảng sân, ngoảnh đầu nhìn qua vai.
“Có tiếng động. Rõ ràng là tiếng con thoi va vào gỗ.”
Hoài An đưa mắt nhìn tôi rồi lặng lẽ nhìn về phía khung cửi. “Trời xuống sương lạnh, gỗ co rút lại thôi.”
Chúng tôi rời khỏi xưởng khi bóng tối bắt đầu phủ đầy triền núi.
Bữa tối được dọn ra ngay tại nhà của Lục Thành. Mâm cơm đượm mùi khói bếp với dăm ba món dân dã: Cá suối chiên giòn, thịt hun khói từng tảng, vài đĩa đậu phụ cay và một đĩa rau dại xào tỏi thơm lừng. La Khải uống được vài chén rượu đã bắt đầu ngà ngà say, khua tay múa chân kể lại chuyện thời niên thiếu: Từ chuyện trèo lên mái ngói nhà ai, lén trốn học ra bờ suối mò cá cho đến những trận đòn roi. Trình Hạo ngồi bên cạnh vừa thong thả gặp thức ăn vừa chỉnh lại vài chi tiết sai lệch trong mấy câu chuyện ba hoa của ông ta. Tạ Minh Viễn phần lớn chỉ điềm tĩnh lắng nghe, thỉnh thoảng khẽ mỉm cười lịch sự.
Đến khi câu chuyện trên mâm rượu vô tình xoay sang nghề dệt vải năm xưa, bà ngoại của Lục Thành bỗng lên tiếng: “Mấy cái khung cửi cũ ấy … đừng có dại mà để ngoài xưởng qua đêm.”
La Khải bật cười khoái chí, lắc lắc chén rượu: “Bà ơi, giờ là thời đại nào rồi, bà vẫn còn tin mấy chuyện mê tín dị đoan đó à?”
Bà cụ không thèm đáp lại, chỉ im lặng gắp rau vào bát rồi cúi đầu tiếp tục ăn.
Lục Thành lập tức lảng sang chủ đề khác, quay sang hỏi Hoài An kế hoạch ngày mai định xem xét đến đâu. Hoài An nói còn phải tháo một phần khung để kiểm tra các mối mộng thắt bên trong rồi sẵn tiện hỏi thêm quanh vùng này liệu còn ai từng sử dụng loại khung này không. Lục Thành nhíu mày suy nghĩ một hồi rồi bảo chắc giờ chỉ còn lại một vài người già trong làng.
Tôi vốn định hỏi thêm về câu nói lấp lửng mà bà cụ vừa nói ban nãy nhưng chưa kịp mở miệng đã bị Hoài An đá nhẹ vào cẳng chân dưới gầm bàn. Nhận thấy ánh mắt cảnh cáo của hắn, tôi đành im lặng nuốt ngược câu hỏi vào trong.