Bảy giờ mười hai, Keeper mới đến cuối con đường hẹp. Iris đứng trước căn nhà mái tôn thấp, đã kịp đọc hết bản sao hồ sơ trong lúc chờ anh.
“Bà Margaret ở nhà chứ?” Keeper hỏi, vẫn cố lấy lại hơi sau quãng đường vòng.
“Ở nhà. Bà ấy đồng ý nói chuyện về hộp giấy tờ.” Iris đưa anh bản sao đã lược thông tin. “Mình để bà kể trước đã, đừng đưa cả hai chuỗi cho bà rồi chờ bà chọn một.”
Trước sân có một cây thấp, cành lá chạm hàng rào. Cửa mới được thay, nhưng mép bậc thềm đã mòn đến trắng; Keeper nghĩ tới căn nhà trong Dư Âm rồi tự gạt phép so sánh ấy sang một bên.
Bà Margaret ra mở cửa, một tay giữ chùm chìa khóa, tay kia chặn cánh cửa. Bà nhìn giấy giới thiệu kỹ hơn nhìn hai người, rồi chỉ ngay vào chữ “kiểm tra nguồn”.
“Tôi nhận lời nói chuyện về giấy tờ cũ. Không ai nói có người tới mang tủ của tôi đi.”
Iris gấp tờ giới thiệu lại. “Chúng tôi không mang đi thứ gì. Bà muốn dừng lúc nào cũng được.”
“Còn tủ?”
“Bà không cho mở thì không mở.”
Margaret quay sang Keeper. “Cậu cũng thế?”
Keeper giơ hai tay. “Tôi vừa bị một cái thẻ cấm mở gần hết các cửa nơi cô ấy làm việc. Bà có thể yên tâm.”
Bà nhìn Iris. Iris gật. Margaret mở cửa, dẫn họ tới bàn ăn dưới chiếc quạt quay chậm.
Trong nhà, ảnh gia đình treo sát nhau trên một bức tường. Margaret kể một số giấy tờ từ hộp của ông ngoại từng bị ẩm; những thứ còn lại qua tay họ hàng rồi có người tới lập danh mục. Bà không nhớ có chiếc thuyền nào.
Khi được hỏi ảnh cũ, bà mang ra một hộp nhựa, tự tay lật những tấm ảnh cưới, nhóm người đứng cạnh xe đạp và lũ trẻ dưới cây. Iris lùi ghế, để bà giữ quyền chọn tấm nào đưa ra trước.
Một tấm ảnh nhỏ giữ tay Margaret lại. Bà xoay nó ra ánh cửa sổ, rồi kéo chiếc ghế khỏi vệt nắng đổ trên bàn.
“Cái này tôi chẳng biết ai,” bà nói. “Không hiểu sao ông tôi lại cất chung. Lúc dọn nhà tôi đã cầm nó lên ba lần, lần nào cũng bỏ xuống chỗ cũ.”
Trong ảnh là một đứa trẻ ngồi cạnh bờ nước, phía sau có vài mái nhà thấp. Hai tay em đặt trước đầu gối, giữ một vật bằng giấy nhỏ tới mức Keeper không dám gọi tên.
Keeper định hỏi liệu cô bé có phải Linh. Tờ ghi chú của chuỗi A nằm sẵn trong túi anh; anh nhận ra chỉ cần nói tên, khuôn mặt chưa rõ trong ảnh sẽ có ngay một lịch sử để Margaret nhớ theo.
“Có ai trong gia đình nhận ra em bé hay chỗ này không?” anh hỏi.
Margaret lắc đầu. “Tôi còn chẳng biết vì sao ông tôi giữ tấm này. Hồi chia đồ, ai cũng nhận ảnh người quen. Không ai lấy nó, tôi mới cất.” Bà vuốt góc ảnh đã gấp. “Bỏ đi thì tội con bé. Biết đâu có người vẫn đang tìm tấm ảnh này.”
Iris xin phép lật mặt sau. Margaret đưa ảnh nhưng giữ tay bên cạnh cho tới khi cô đặt nó xuống. Vệt chì mờ chỉ còn hai con số và một ký tự không rõ là chữ hay số. Bà kể tên hai người có thể còn nhớ đợt ảnh cũ; một người đã mất, người kia lâu rồi không liên lạc.
“Cô định mang ảnh đi à?” Margaret hỏi khi Iris lấy điện thoại.
“Chỉ chụp cả hai mặt nếu bà đồng ý. Bản gốc ở lại với bà.”
Margaret đứng cạnh kiểm khung hình. “Giữ cả góc bị gấp này. Ông tôi vụng tay hay người chụp vụng tay, tôi không biết. Nhưng tôi nhận ra tấm của mình nhờ nó.”
“Nếu hôm nay chỉ tìm được một điều cho bà, bà muốn biết điều gì nhất?” Keeper hỏi.
“Nếu biết đứa bé là ai thì báo. Nếu biết người ấy giờ ra sao, tôi muốn hỏi xem có nên đưa ảnh về với họ không.” Bà nhìn chiếc hộp ảnh mở trên bàn. “Còn nếu chỉ biết hộp từng nằm ở ngăn nào, khỏi mất công.”
Keeper không hứa sẽ tìm được đứa trẻ. Anh chỉ nói vật bằng giấy trong ảnh còn quá mờ để gọi tên, rồi xin cách liên lạc nếu sau này có một người thực sự nhớ bức ảnh. Margaret ghi số điện thoại lên giấy nháp, gấp đôi đưa Iris. Bức ảnh vẫn nằm trước mặt bà khi họ đứng dậy.
Họ rời nhà lúc Margaret đang bắc ấm nước, nhưng qua cửa sổ Keeper còn thấy bà nhấc tấm ảnh lên một lần nữa. Câu hỏi bà đưa cho họ không có ô nào trong hai bảng giao nhận.
⁂
Kho của chuỗi B đã chuyển địa điểm nhiều lần. Martin, người quản lý hiện tại, đưa họ một bản tóm tắt đánh máy sạch sẽ; góc phải có nét bút đỏ đánh dấu hai chỗ ông đã phải đối chiếu trong tuần.
“Các anh chị hỏi mã này à? Tôi chuẩn bị hết rồi,” ông nói, dùng gọng kính chặn giấy khỏi cuộn lại. “Tôi đã mất ba ngày tìm lại thứ tự sau lần chuyển kho. Hai người khỏi phải bắt đầu từ chỗ số không.”
Iris nhận bản tóm tắt bằng cả hai tay. “Ba ngày là nhiều công rồi. Tôi muốn xem thêm trang ông đã dựa vào để xếp lại thứ tự, nếu ông cho phép.”
Nụ cười của Martin khép lại. “Cậu ấy nhìn tôi từ lúc ngồi xuống như thể giấy tờ sạch sẽ là dấu hiệu phạm tội.” Ông chỉ Keeper. “Còn chị thì chưa đọc đã đòi lật sổ. Bản gốc hơn tuổi cậu này, không phải thứ muốn đưa ra là đưa.”
Keeper thấy mặt mình nóng lên. Anh đã nhìn tập giấy đúng như thế.
“Tôi nhìn bản giấy đúng như ông nói,” Keeper thừa nhận. “Nhưng tôi đang mắc ở mục chiếc thuyền. Cho tôi so thêm dòng trước với dòng sau được không?”
“Tôi so rồi,” Martin nói.
“Chúng tôi chỉ cần xem trên giá đỡ, không mang trang gốc ra khỏi phòng,” Iris nói. “Nếu hai bản thật sự khớp, ít nhất một giả thuyết chúng tôi đang theo sẽ phải bỏ đi.”
Martin cầm bản tóm tắt lên, ngón cái đặt trên vết bút đỏ. “Tôi không thích việc các người cứ nghĩ một phòng kho nhỏ thì tự nhiên phải làm thất lạc mọi thứ.”
“Tôi không nghĩ kho nhỏ thì làm việc cẩu thả,” Iris đáp. “Tôi đang xin ông cho kiểm một dòng khiến hai hồ sơ của chúng tôi không khớp nhau.”
Martin nhìn cô lâu hơn, rồi đứng dậy gọi nhân viên bảo quản. Trước khi đi, ông dặn Keeper không tự tháo kẹp giữ giấy.
Trong lúc chờ, Keeper đọc bản tóm tắt tới cuối. Anh không tìm thấy điểm sai nào đủ chứng minh điều mình ngờ. Margaret nhớ chuyện cả nhà chia lại đồ cũ, nhưng không biết tấm ảnh và chiếc hộp đã đi qua những tay ai. Martin nắm rõ ngày tháng giao nhận, song trong sổ không có tên đứa trẻ. Hai người giữ hai phần khác nhau của câu chuyện; Keeper đã suýt lấy sự khác biệt đó làm lý do nghi một người.
Martin trở lại với nhân viên giữ sổ. “Được xem ở phòng đọc. Tôi đứng cùng. Anh có thấy một dòng sai thì chỉ tận nơi cho tôi.”
Trong phòng đọc, tiếng máy hút ẩm chạy đều dưới cửa kính. Cuốn sổ được kê nghiêng; dòng chiếc thuyền nằm đúng chỗ bản sao đã ghi. Người giao, người nhận và ngày tháng đều khớp.
Giữa những dòng có nét viết tắt, chỗ tẩy sửa và mực lem nhẹ, riêng dòng mang mã chiếc thuyền nằm ngay ngắn đến khác thường. Keeper chưa kết luận được đó là do ai viết hay do một lần sao chép.
“Cho tôi xem cả trang,” anh nói, chỉ vào phần còn bị tấm che che khuất.
Iris tự đọc từ dòng đầu. Hai ô phía trên có người sửa ngày rồi ký nháy; dòng chiếc thuyền viết đầy đủ tên đơn vị, ngày theo đúng định dạng đang dùng trong bản tóm tắt. Dòng dưới lại trở về lối viết tắt.
Martin khoanh tay. “Tôi tưởng chữ rõ là chuyện tốt. Hay cậu đang bảo người của tôi viết sổ quá đẹp?”
“Tôi chỉ muốn biết tại sao ngay giữa những dòng viết tắt lại có một dòng đầy đủ đến thế,” Keeper đáp. “Tôi chưa gán nó cho ai cả.”
“Ông còn bản quét nào trước lần ông sắp xếp lại không?” Iris hỏi Martin. “Tôi muốn so xem dòng ấy đã có sẵn tới mức nào.”
Martin quay sang người giữ sổ. “Mở bản quét cũ nhất. Đừng lấy bản mới tôi vừa làm.”
Trên màn hình hiện trang sổ từ mười hai năm trước. Dòng chiếc thuyền đã nằm đó, ngay ngắn khác thường giữa hai dòng viết tắt. Keeper đọc ngày lập bản quét hai lần. Nếu có ai sửa trang gốc gần đây, việc sửa ấy không thể giải thích dòng tương tự trong ảnh cũ. Nhưng ảnh chỉ chứng minh được dòng ấy đã tồn tại ít nhất mười hai năm, không chỉ ra người đầu tiên đã viết nó.
“Mười hai năm trước nó đã như thế này rồi.” Keeper chạm đầu bút cạnh ngày quét. “Tôi đã đổ oan cho bản đánh máy của ông.”
“Tôi vừa nói ba ngày, không phải ba mươi năm.” Martin kéo ghế lại; ông không cười. “Các anh chị có hình dung một người đã phải xin giữ kho này sau hai lần chuyển nhà sẽ nghe câu nghi sổ bị dựng lại thế nào không?”
“Tôi xin lỗi. Tôi thấy bản tóm tắt sạch sẽ quá rồi vội nghi ông.” Keeper nhớ bức ảnh Margaret vẫn giữ ở nhà. “Nhưng ông có biết vì sao đúng dòng ấy khác đi không?”
“Không. Biết thì tôi đã ghi ngay ở lề, khỏi phải ngồi đây cãi với cậu.” Martin quay sang nhân viên giữ sổ, yêu cầu kẹp bản quét mười hai năm trước vào hồ sơ đi cùng bản tóm tắt mới. “Mai kia ai hỏi nữa thì cho họ xem cả hai. Đừng chỉ chìa mỗi bản tôi đánh máy.”
Iris nói sẽ xin bản sao của trang và lịch sử quét trong phạm vi được phép. Martin chỉ định một đầu mối cho việc đó, chứ không bắt họ ngồi đợi thêm ở phòng đọc. Những giả thuyết Keeper ghi trên sổ vẫn còn vài khả năng: nhập trùng vật, ảnh bị dùng lại, chuỗi A hoặc B được dựng lại từ nguồn kia, hoặc người giữ thật nhưng một trong hai lịch sử đã gán nhầm vật.
“Linh thì sao? Trong sổ này có ai từng ghi tên con bé không?” Keeper hỏi.
“Kho này có sổ, có giấy; không có tên con bé trong mục ấy.” Martin gõ vào ảnh quét cũ. “Cậu có ảnh của nó thì đi tìm cuộn phim. Đừng ép tôi đoán một cái tên rồi mai lại đến đây bắt tôi sửa.”
⁂
Ra khỏi kho, Keeper né một người mặc áo khoác xanh sẫm đang bước tới quầy, quai túi tài liệu vắt chéo vai. Anh mải mở bản chụp Margaret đã cho phép giữ nên không nhìn mặt người đó. Đứa trẻ bên bờ nước nằm lọt giữa ba mái nhà thấp. Vật giấy trong tay em vẫn không rõ hình.
“Nếu lần được hai ký hiệu mặt sau tới cuộn phim gốc, ta sẽ xem được cả khung hình,” Keeper nói. Iris tìm trên điện thoại những kho ảnh dân sự còn giữ bộ khảo sát khu ven sông.
Họ đi dưới nắng, tới đoạn đường khô ngay sau một cửa hiệu mở quạt hết cỡ thì Keeper bất chợt ngửi thấy bùn sông.
Một tiếng giấy sột soạt ở sát tai làm anh dừng lại. Không có sông; quanh họ chỉ có mặt đường nóng, Iris đang xem điện thoại và chiếc xe giao hàng vừa khuất sau góc phố.
Keeper bước sang lề đường, đặt hai chân vững rồi kiểm lại bốn phía. Mùi bùn đã nhạt nhưng cảm giác một người đang chờ vẫn níu lấy anh.
Anh khép mắt. Những ngón tay nhỏ ép xuống một nếp giấy hiện ra rõ đến bất ngờ; lúc mở mắt, bàn tay thật của anh vẫn bấu chặt quai túi.
“Iris.” Anh gọi cô trước khi kịp ghép hình ảnh ấy thành một câu chuyện.
Cô quay lại. “Chuyện gì?”
“Có mùi bùn. Sát tai tôi còn có tiếng giấy sột soạt.” Keeper phải dừng để phân biệt từng cảm giác. “Tôi thấy ai đó gấp giấy, rồi tự nhiên có cảm giác đang chờ một người. Tôi không biết là ai.”
Iris đưa điện thoại cho anh thấy bức ảnh anh vừa xem. “Mình ghi cả chuyện này vào cùng thời điểm, kẻo lát nữa không phân biệt được cái gì có trước. Còn đứa trẻ, tôi muốn tìm bằng ảnh và người đã gặp em.”
Trong sổ, mùi bùn, tiếng giấy và hình những ngón tay nhỏ nằm ở ba dòng riêng. Anh bỏ trống chỗ dành cho tên người.
“Hay cho tôi thử Dư Âm của vật đi,” Keeper nói khi cất sổ. “Tôi cứ đứng ngoài chiếc hộp thế này thì biết hỏi ai?”
Iris lắc đầu. “Không phải hôm nay. Anh đã đọc cả hai chuỗi; nếu bây giờ bước vào Dư Âm, anh có thể đem luôn hai câu chuyện ấy theo mình. Tôi không muốn tự tạo ra câu chuyện thứ ba rồi gọi nó là dấu vết.”
“Vậy cô giữ lại những phần tôi chưa đọc. Khi được vào, tôi chỉ kể đúng thứ mình thấy, ra ngoài rồi hẵng so. Chúng ta thử được cách đó chứ?”
“Phần mới tôi có thể giữ lại,” Iris đáp. “Nhưng A và B thì anh đã biết rồi. Tôi không có cách nào lấy chúng ra khỏi đầu anh trước khi thử.”
“Tôi biết chứ.” Keeper cất sổ, lại rút ra. “Nhưng cũng phải có cách nào khác với việc cứ đứng nhìn cái hộp ấy mãi.”
“Tôi sẽ xin một phương án thử có đối chứng sau khi kiểm niêm.” Iris bỏ điện thoại vào túi. “Hôm nay dừng.”
Trong tấm ảnh trên điện thoại, đứa trẻ vẫn ngồi bên bờ nước. Khuôn mặt nhỏ đến mức Keeper không thể biết em đang đợi ai, dù anh đã nhìn rất lâu.
Điện thoại Iris rung khi họ tới cuối đường. Cô nghe rất ngắn, rồi dừng ngay dưới mái hiên cửa hàng.
“Bản sao chứng thực của chuỗi A có đề xuất chuyển khỏi khu đối chứng,” cô nói.
Keeper quay lại phía con đường dẫn tới nhà Margaret. “Bản nào? Đừng nói là tấm ảnh bà ấy vừa đưa chúng ta xem.”
“Không. Tôi mới nhận được thông báo; bản A-17 của Kho. Chưa có xác nhận đã chuyển.”
Keeper khoanh A-17 trên trang mới. Anh cần biết bản sao đã chuyển hay chưa, rồi mới tìm lý do.