Mưa bắt đầu trước khi những người Xoan hẹn tới bến.
Ban đầu chỉ vài giọt rơi lên mái lau, thưa đến mức Tánh đếm được khoảng cách giữa chúng. Rồi mặt sông lấm tấm trắng. Những người vừa nhóm bếp chuyển củi vào trong; nhà có thóc giống nhấc túi khỏi cọc thấp, buộc lên xà cao hơn.
Thanh ngồi cùng Xoan dưới mái. Trên thẻ ghi từ tối qua, nàng vẫn để riêng lối lên gò cao và lối xuống bãi trong. Xoan bảo người cần gặp trước là một lão nông ở gò phía trong. Ông giữ ruộng trên nền đất cao nhất vùng, cũng giữ câu chuyện về người đầu tiên mở đất sau một mùa mưa lớn.
“Người ấy nhớ bến cũ?” Thanh hỏi.
“Người ấy nhớ nhà mình,” Xoan đáp. “Nhưng nhà người ấy ở trên chỗ mọi đường nước từng đi qua.”
Người đến hẹn là một bà chèo thuyền từ nhánh trong và một người đàn ông mang giỏ rau. Họ nhận ra nhịp bài hát của hai đứa trẻ, nhưng không nhận cùng một lời giải thích. Bà chèo thuyền nói hai nhịp cuối là lệnh tháo dây khỏi cọc thấp. Người đàn ông bảo ở bến nhà mình đó là lúc chuyển túi hạt giống lên bờ. Thanh ghi hai lời ở hai hàng, không ép chúng thành một.
Cả hai đều chỉ về gò của lão nông.
“Muốn hỏi chuyện mùa mưa thay đất, phải lên đó,” bà chèo thuyền nói. “Già Tự Khẩn sẽ kể cho đoàn nghe đến hết ngày.”
“Già Tự ấy kể có đúng không?” Hùng hỏi.
“Chỗ nào nhà người ấy làm thì người ấy kể đúng. Chỗ nào người khác làm, người ấy kể nhanh lắm.”
Bà không cười. Người đàn ông mang rau nhìn ra mưa rồi nói còn một lối vòng theo mép ruộng. Nếu đi ngay, họ có thể tới gò trước lúc rãnh thấp đầy nước.
Thanh nhờ Xoan báo ba nhà mất ruộng rằng nàng sẽ trở về trước tối. Xoan đã gọi người đối tên họ hàng cho họ; việc ấy có thể tiếp tục mà không cần nàng đứng cạnh. Liên đang cùng hai nhà kia xem nền nghỉ và hỏi chỗ có thể làm công trong vài ngày tới.
Khê ở lại bến với Lãm để đối nốt những chốt bánh xe. Tánh muốn theo. Nó thử đặt chân đau xuống đất, đi được mấy bước không cần gậy rồi lại vịn cột mái.
“Địa đi chậm cũng tới,” nó nói.
Hùng nhìn đoạn đường đất đang sẫm nước. “Can cần mày ở đây nghe thêm lời các bến. Tối về kể cho Can.”
Tánh định cãi. Xoan đặt trước mặt nó hai thẻ gỗ, trên mỗi thẻ khắc một tên cửa nước khác nhau.
“Có người sẽ tới hỏi ta vì sao cùng một nhịp mà hai bến hiểu khác,” bà nói. “Ấu ở lại nghe cùng ta.”
Nó nhìn thẻ, rồi ngồi xuống. “Địa nghe. Nhưng Can phải kể chỗ gò.”
“Can kể.”
Hùng cùng Thanh theo người mang rau lên lối vòng. Mưa chưa lớn. Từng giọt tách khỏi mái lá, rơi xuống nền cứng và chảy theo những vết bánh xe cũ. Chỉ một khúc sau, các vệt nước gặp nhau ở mép ruộng. Ở chỗ bờ đất có rãnh dẫn, nước vào ruộng; ở chỗ bờ không mở, nó tràn qua lối đi.
Thanh dừng nhìn hai miệng rãnh nằm cách nhau không xa. Một rãnh có cọc mới. Rãnh kia chỉ còn gốc cọc đen dưới bùn.
“Cùng dẫn nước từ gò?” nàng hỏi.
Người mang rau lắc đầu. “Rãnh gần lấy nước sườn gò. Rãnh xa đón nước từ bãi lau lên. Trời mưa đủ lâu thì chúng gặp nhau.”
Hùng nhìn hướng chảy. Từ bãi lau lên nghe như nước đi ngược dốc, nhưng người dẫn đường chỉ một vòng đất thấp khuất sau bụi cỏ. Nước đi quanh gò rồi tràn vào ruộng từ phía khác.
“Người không biết chỗ vòng sẽ tưởng chỉ có một đường,” Thanh nói.
“Già Tự Khẩn cũng biết chỗ vòng,” người mang rau đáp.
• • •
Gò của Khẩn có ba tầng ruộng.
Tầng trên cùng đã gieo. Nước mưa nằm thành vệt mỏng giữa hàng mạ, chưa đủ ngập gốc. Tầng giữa mới được cày, đất lẫn những mảnh vỏ ốc trắng. Tầng dưới thấp hơn cả con đường họ vừa qua; một nhóm người đang dùng phên chặn lá mục khỏi miệng rãnh.
Nhà Khẩn dựng trên phần đất cao nhìn được cả ba tầng. Dưới mái trước có một tấm gỗ khắc hình người cầm cuốc, phía sau là ba đường sóng. Những vết khắc mới ở mép dưới sáng màu hơn mặt gỗ đã sẫm lâu năm.
Khẩn ngồi cạnh tấm gỗ. Ông đã già, lưng hơi cong nhưng bàn tay cầm dao gọt cán cuốc vẫn chắc. Một người đàn ông trẻ đứng phía sau ông, thỉnh thoảng nhìn mưa trên sân. Người dẫn đường giới thiệu Hùng và Thanh, rồi lùi sang một bên.
“Điển Tri Sứ muốn hỏi chuyện đất?” Khẩn nói với Thanh.
“Ấu muốn nghe chuyện mùa mưa đã đổi cách canh tác ở đây.”
“Vậy tới đúng nhà.”
Ông đặt cán cuốc xuống, chỉ tấm gỗ. Theo lời Khẩn, nhiều đời trước một mùa mưa kéo dài đã làm nước từ trời đổ kín bãi. Những nhà ở ven sông dời lên cao. Tổ nhà ông tìm được gò, đào rãnh đầu tiên, mở tầng ruộng trên và cho những người đến sau xuống các tầng dưới. Nhờ vậy vùng này mới có chỗ gieo sau khi nước rút.
Người đàn ông trẻ đứng sau khẽ gật ở những đoạn ông đã nghe nhiều lần.
“Các bến khác đến khi nào?” Thanh hỏi.
“Sau khi rãnh đầu đã mở.”
“Già Tự biết từ thẻ nào?”
Khẩn chỉ một bó thẻ tre đặt trong hộp gỗ. Mép ngoài thẻ đã mòn. Hùng xin xem; ông không ngăn. Những thẻ đầu ghi tên các mùa và lượng giống đưa lên gò. Thẻ gần cuối có tên những nhà từng làm bờ ruộng, nhưng không ghi ngày họ tới. Giữa hai nhóm thẻ có một khoảng bị buộc bằng dây mới.
Thanh hỏi về khoảng ấy.
“Thẻ mục,” Khẩn đáp. “Ta không chép lời mình lên gỗ mục để làm bằng.”
“Vậy lời Già Tự vừa kể đến từ đâu?”
“Từ Cội Tự ta. Cội Tự ta lại nghe Cội Tự của người ấy kể.”
Người đàn ông trẻ bước lên một bước. “Nhà tôi giữ lời kể khi nhiều nhà đã bỏ bến.”
Thanh gật đầu. “Vì thế tôi tới hỏi. Tôi muốn biết phần nào trên thẻ và phần nào do người nhà nhớ.”
Người đàn ông nhìn Khẩn. Ông già không tỏ vẻ khó chịu. Ông lấy một thẻ từ giữa bó, đặt cạnh tấm gỗ.
“Đây là lượng giống nhà ta chia ở năm nước rút. Nếu không có rãnh trên, không có giống để chia.”
Thanh đọc thẻ. Người nhận giống đến từ ba bến, mỗi bến có dấu khắc khác nhau. Phần cho đi nằm ở một cột, phần mang đến đặt ở cột bên cạnh. Cột mang đến không chỉ có người nhà Khẩn.
“Những nhà này đem giống lên gò?” nàng hỏi.
“Đem đổi.”
“Đổi lấy gì?”
“Chỗ gieo. Rãnh đã mở rồi.”
Khẩn kéo thẻ lại, nhưng không cất. Mưa trên sân nặng hạt hơn; người đàn ông trẻ ra mép mái bảo người dưới ruộng mở bớt phên cho nước trôi. Một tiếng gọi đáp lên từ tầng thấp.
Thanh không hỏi tiếp về thẻ. Nàng xin Khẩn chỉ rãnh đầu tiên.
Ông đứng dậy ngay.
• • •
Rãnh trên gò đi dưới một hàng cây nhỏ. Nó hẹp, đủ để hai người đứng hai bên chuyền rổ đất mà không phải bước xuống nước. Dọc rãnh có nhiều chỗ vá bờ: đất đỏ nén ở đoạn đầu, cát vàng trong một hốc cong, lớp bùn đen pha vỏ ốc gần miệng ruộng.
Khẩn cắm cán cuốc xuống đất đỏ.
“Tổ nhà ta đào từ đây.”
“Đất đỏ ở tầng cao,” Hùng nói.
“Đúng. Đào xuống thì gặp đất ấy.”
Hùng lấy một nhúm đất ở bờ rãnh, bóp trong tay. Nó giữ thành cục một lúc rồi vỡ ra. Chàng không biết lớp dưới sâu đến đâu nên không kết luận. Thanh nhìn qua đoạn cát vàng ở khúc cong.
“Chỗ này cũng do tổ nhà Già Tự đào?”
“Rãnh bị vỡ thì đời sau sửa.”
“Già Tự nhớ vỡ vào mùa nào?”
“Trước đời ta.”
Người đàn ông trẻ, tên Sở, đi theo sau. Anh nói trận vỡ lớn nhất xảy ra khi nước từ bãi lau dồn tới. Nhà anh đã phải đắp cát vàng vào một đêm để giữ tầng ruộng trên.
Khẩn quay lại. “Sở, chuyện ấy không nằm trên thẻ.”
“Ấu nghe Quân kể,” Sở đáp.
Ông già không trách, chỉ bảo đi tiếp.
Ở cuối rãnh, nước mưa mới chảy qua một miệng mở bằng ván. Một người đàn bà đứng giữ ván, chờ người tầng dưới gọi mới nhấc thêm. Nếu mở hết, ruộng trên mất nước; nếu đóng chặt, dòng phía sau tràn bờ, làm hỏng đường xuống.
Thanh hỏi ai quyết định khi nào nhấc ván.
“Người ở tầng dưới gọi,” người đàn bà nói. “Nhưng chúng tôi phải nhìn mực nước tầng trên.”
“Người giữ tầng dưới thuộc nhà Già Tự Khẩn?”
“Không. Nhà tôi ở bến bãi lau.”
Bà kéo tay áo tránh dòng nước bắn, đưa Thanh xem một vạch khắc trên cạnh ván. Vạch ấy không cùng kiểu với dấu trên tấm gỗ trước nhà Khẩn. Bà nói nhà mình đã giữ lượt mở ván từ thời Cơ bà còn sống; trước đó là những người ở bến khác. Năm nào thiếu người, nhà Khẩn thay. Không nhà nào mở ván một mình mà yên ổn với các ruộng bên dưới.
Khẩn nghe hết. Ông chống cuốc, nhìn dòng nước vừa qua ván.
“Ván này làm sau,” ông nói.
“Rãnh đầu có thể vẫn do nhà Già Tự mở,” Thanh đáp. “Ấu đang hỏi nước vào rãnh từ những đâu.”
Mưa đổ xuống mạnh hơn, che mờ tầng ruộng thấp. Nước không xuống đều. Từ mái gò, một dòng lăn qua đất đỏ. Sau hàng lau, dòng khác mang bùn sẫm vòng vào đoạn cát vàng. Chúng gặp nhau ở khúc cong rồi tách qua miệng ván. Hùng đứng lùi lên bờ, nhìn nơi hai màu nước chưa kịp hòa.
Dòng từ gò đầy cành nhỏ. Dòng từ bãi lau có vụn vỏ ốc.
“Cát vàng ở khúc cong không giống đất đào từ đây,” chàng nói.
Khẩn nhìn xuống nước. “Lũ có thể đem cát tới.”
“Có thể,” Hùng đáp. “Muốn biết nó đến từ lần lũ nào phải xem lớp dưới bờ.”
Họ không đào ngay khi nước đang lên. Người đàn bà giữ ván cần đứng đúng chỗ ấy. Thanh đề nghị đi xem mặt bờ đã sạt ở mép ruộng dưới, nơi không phải phá rãnh đang dùng.
Sở dẫn họ xuống. Ở đó một mảng đất vừa rơi sau cơn mưa sáng, để lộ các dải mỏng nằm chồng lên nhau. Lớp dưới cùng đỏ như đất gò. Trên nó là một lớp bùn đen có vỏ ốc vụn, rồi đến cát vàng hạt thô. Phía trên cùng, đất nâu đã được cày trộn nhiều mùa nên khó tách.
Hùng dùng đầu que chỉ từng lớp, không cạy ra. “Nếu chỉ đào một rãnh từ gò xuống, lớp bùn có vỏ ốc nằm giữa này tới bằng đường nào?”
Sở nhìn về bãi lau. “Nước vòng.”
“Có thể. Cần hỏi người giữ bến ấy lúc đầu họ đã làm gì.”
Khẩn đứng ở mép trên, không xuống gần mảng sạt. Ông nhìn lớp đen một lúc rồi nói bãi lau đã có người ở trước mùa mưa lớn. Họ chưa làm ruộng trên gò, nhưng biết nơi nước đi khi các nhánh sông cùng đầy.
“Già Tự có nghe tên họ?” Thanh hỏi.
“Có.”
Ông quay đi trước khi nói tên.
• • •
Mưa buộc họ trú dưới mái phên ở tầng giữa.
Người ở ba tầng ruộng cùng tới. Họ không tới nghe kể chuyện tổ, mà mang tin nước đang dâng ở những miệng rãnh khác nhau. Một người nói phên dưới cùng giữ quá nhiều lá. Người khác muốn mở thêm ván trên. Sở trải một thẻ gỗ nhỏ lên nền, dùng ba hòn sỏi chặn các góc rồi đánh dấu từng chỗ cần người tới.
Khẩn chỉ ai đi dọn lá, ai giữ bờ cát vàng. Ông không cần hỏi nhà họ thuộc bến nào; ông biết ai quen việc nào. Người đàn bà giữ ván bảo chờ tiếng gọi từ dưới. Khẩn đồng ý.
Thanh nhìn những quyết định diễn ra trước mắt. Một nhà có thể giữ câu chuyện về rãnh đầu. Ngày mưa này, cả gò vẫn cần người ở các cửa nước cùng làm thì rãnh mới không vỡ.
Sở đưa hai người bát nước nóng. “Công Tự, Công Thị đến đúng ngày khiến đất tự nói,” anh bảo.
“Đất không nói tên người đào,” Hùng đáp.
Sở nhìn ra mái. “Đúng. Nhưng nếu chỉ nghe Quân ta, Công Tự, Công Thị sẽ tưởng nước chảy thẳng từ gò xuống.”
Khẩn ngồi cách họ mấy bước. Ông nghe được, không gọi Sở lại.
Khi mưa ngớt một phần, hai người từ bãi lau lên giúp giữ đoạn cát vàng. Một bà mang theo chiếc phên mới. Bà đặt phên xuống, thấy Khẩn thì hỏi năm nay có trả lượt cho bến bãi lau trước lúc trời tối không.
“Có,” Khẩn đáp. “Lượt sáng nhà ta giữ.”
“Lượt sáng nhà Già Tự giữ vì chúng tôi đưa người sang bờ bên kia,” bà nói. “Thẻ lượt vẫn phải ghi đủ.”
Sở cúi xuống thêm dấu của bến bãi lau vào thẻ đang trải. Không ai tranh về một buổi giữ ván, nhưng lời của bà làm Thanh chú ý: trên gò, người ta vẫn biết cách chia việc theo bến, dù tấm gỗ trước nhà chỉ khắc một người cầm cuốc.
Thanh đợi mọi người đi nhận việc rồi mới ngồi gần Khẩn.
“Già Tự đã giữ rãnh qua bao mùa?” nàng hỏi.
“Từ khi tay ta cầm nổi cuốc.”
“Nếu hôm nay người ở bến bãi lau không mang phên tới?”
“Nhà ta phải làm phên khác. Muộn hơn.”
“Nếu họ không chỉ lối nước vòng từ trước mùa mưa lớn?”
Khẩn đặt bát xuống.
“Điển Tri Sứ muốn ta bảo tổ nhà ta không mở đất?”
“Ấu muốn ghi đúng việc tổ nhà Già Tự đã làm,” Thanh nói. “Và những việc khiến rãnh ấy đưa được nước tới ruộng.”
Khẩn nhìn về tầng trên. “Tổ ta đào đoạn đất đỏ. Đó là điều ta không bỏ.”
“Ấu đã ghi đoạn ấy theo lời Già Tự. Lớp đất đỏ ở bờ sạt cũng phù hợp, nhưng chưa tự nói người cầm cuốc là ai.”
Ông gật đầu, như thể ít nhất nàng chưa lấy mất điều ông vừa nói.
“Vì sao tấm gỗ không có người ở bến bãi lau?” nàng hỏi.
“Không phải ta khắc tấm gỗ đầu.”
“Mé dưới đã được khắc lại.”
Khẩn nhìn nàng. Mép gỗ mới sáng màu ở trước mái nhà là chỗ ai tới cũng có thể thấy.
“Sở thay phần mục năm ngoái,” ông nói. “Ta đọc lời cho Sở.”
“Già Tự đã bảo Sở khắc gì?”
“Một người mở rãnh.”
“Trước đó ghi thế nào?”
Khẩn không trả lời. Tiếng người dưới tầng thấp gọi mở ván thêm một nấc. Sở chạy xuống. Khẩn chờ tiếng ván dịch trong rãnh rồi mới nói:
“Trước đó có thêm hai mái chèo.”
“Mái chèo của bến bãi lau?”
“Một của bến bãi lau. Một của bến ở cửa trong.”
Thanh không đưa bút lên ngay. “Vì sao bỏ?”
“Người ta đến gò hỏi đất của ai. Ta chỉ tấm gỗ có ba dấu, họ lại hỏi ba nhà nào được chia tầng ruộng. Nhà ta đã giữ gò khi hai bến dời đi qua mấy mùa nước. Ta chán phải kể phần của người không còn đứng đó.”
“Và khi họ trở lại?”
“Ta đã quen chỉ một người.”
Ông nói câu ấy không lớn, như người vừa đặt xuống một gánh mang lâu đến mức quên nó nặng.
Ngoài mái, bà ở bến bãi lau cùng một người nhà Khẩn nâng phên vào rãnh. Họ phải chờ nhau đặt đúng hai mép; một người buông sớm, phên sẽ bị nước xô nghiêng.
Khẩn nhìn họ. “Ta không nghĩ mình nói dối về đoạn đất đỏ. Nhưng tấm gỗ mới khiến cả mùa mưa trông như việc của một chiếc cuốc.”
Thanh hỏi: “Già Tự còn nhớ hai mái chèo đã làm gì không?”
“Bến bãi lau dẫn nước vòng. Họ cho người đứng ở cửa bãi để báo lúc bùn đen lên, lúc cát theo sau. Bến cửa trong giữ thuyền đưa giống tới khi đường bộ ngập. Nhà ta đào rãnh trên gò, đắp tầng ruộng đầu. Nước từ trời xuống nhiều, nhưng nếu không chia những đường ấy, nó chỉ tràn qua đất rồi đi.”
Ông kể chậm hơn lúc dưới mái nhà. Có chỗ ông dừng để phân biệt điều nghe từ Cội Tự với điều còn trên thẻ. Một tên bến ông nhớ cách gọi cũ nhưng không chắc tên đang dùng; Thanh để hai tên cạnh nhau, đánh dấu chưa đối. Ông không biết ai là người đầu tiên cắm sào ở cửa bãi. Nàng không điền một tên thay ông.
Khẩn gọi Sở trở lên khi anh vừa giao việc xong.
“Tối nay lấy tấm gỗ xuống,” ông nói.
Sở nhìn mưa. “Để thay chỗ mục?”
“Để khắc lại hai mái chèo.”
Sở im một lúc. “Có hỏi người hai bến trước không?”
“Có. Tấm gỗ đứng trước nhà ta, nhưng chuyện trên đó có phần của họ.”
Thanh ghi lời Khẩn vào thẻ. Nàng không bảo Sở phải khắc theo nét nào. Người hai bến cần nhìn và nhận phần mình trước khi một mặt gỗ mới trở thành lời kể chung.
• • •
Trời tạnh khi họ đi xuống gò.
Ở tầng ruộng thấp, nước đã phủ đều những đường cày nông. Người giữ ván đóng bớt một nấc. Dòng từ bãi lau vẫn đục, dòng từ đất gò trong hơn; qua miệng rãnh, chúng hòa vào nhau và mang những hạt nhỏ xuống ruộng. Không ai có thể gom nước mưa trên một mái rồi nhận đó là tất cả nước của cánh đồng.
Hùng mang thẻ ghi lớp đất ở bờ sạt. Chàng đã viết rõ vị trí và thứ tự các lớp, không đặt tên người đào bên cạnh lớp đất đỏ. Thanh mang lời kể của Khẩn và tên hai bến cần hỏi tiếp. Hai bản ghi có thể đặt cạnh nhau, nhưng chưa thay thế cho thẻ của các nhà giữ nước.
Về tới bến, Tánh đang ngồi cùng Xoan và hai người khách mới tới. Trên sàn có ba sợi dây xếp thành những nhịp khác nhau. Nó nhìn bùn trên gấu áo Hùng.
“Can, gò có lối nước vòng thật?”
“Có. Can đã thấy nước đi qua.”
“Địa nghe bến cửa trong cũng từng chở giống tới đó,” Tánh nói. “Họ nhớ năm mưa bằng lượt thuyền, không bằng tầng ruộng.”
Thanh ngồi xuống cạnh thẻ của nó. Dấu bến cửa trong trên lời Tánh đúng với một trong hai mái chèo Khẩn vừa nhận. Nàng hỏi ai đã nói và người ấy biết từ đâu; Tánh chỉ người khách còn ngồi bên Xoan. Người ấy chưa đi, có thể tự kể lại.
Ở nền nghỉ gần đó, Liên và hai nhà mất ruộng đang nhóm bếp. Họ đã tìm được một người biết tên họ hàng ở nhánh trong, nhưng còn phải chờ ông về từ chuyến thuyền ngày mai. Xoan giúp họ đổi một buổi phụ dọn bến lấy chỗ ngủ thêm đêm nữa.
Thanh nhìn thẻ của ba nhà, rồi nhìn những thẻ đường nước trải trước mặt. Đất gò từng được khai bằng cách nhiều người chia nhau nước mưa, đưa giống qua lũ và giữ bờ sau khi người khác rời đi. Điều đó không tự tạo ra chỗ gieo cho Liên hôm nay. Nó cho nàng biết cần hỏi những ai trước khi một người đứng trên gò nhận quyền nói thay cả vùng.
Ngoài mái, trời lại có tiếng nước rơi từ các tán lá dù mây đã qua. Từng giọt đến muộn chảy xuống những rãnh khác nhau. Ở tầng ruộng phía xa, người giữ ván còn chờ tiếng gọi để mở đúng lượt.