Sáng ra, chiếc xe đầu tiên vẫn nằm ở bờ bên kia.
Từ mái bến, Thanh nhìn thấy ba chiếc xe xếp thành một hàng nhỏ trên bãi cát. Mân đã cho người nhà thuyền sang tháo bánh từ lúc mặt nước còn xám. Hùng cùng Khê ở bên đó; họ phải đưa từng càng xe và từng bó đồ qua trước khi nước giữa hợp lưu đổi hướng. Phần người và thóc ăn đã sang từ chiều qua, nên không ai phải ngồi chờ trên xe.
Ở bờ này, Thanh cùng hai người trong ba nhà mất ruộng dọn lối kéo thuyền. Họ xúc cát từ mép cao xuống, đặt rổ đủ xa để nước không đưa cát trở lại rãnh. Lãm làm bên cạnh, thỉnh thoảng dừng tay nhìn dải bọt ngoài dòng.
“Chợ ở đâu?” Thanh hỏi.
Lãm chống xẻng xuống cát. “Hôm nay thì chưa biết.”
“Thiết nói ở bến có chợ trôi.”
“Có. Nhưng người ta không họp chợ ở chỗ nước bảo phải bỏ thuyền.”
Ông chỉ về một bãi cây thấp ở phía hạ lưu. Hôm qua nước ép sát bờ ấy, không thuyền nào buộc được. Sáng nay một doi cát mới nổi, chắn bớt dòng. Nếu doi cát giữ tới trưa, chợ có thể tới đó. Nếu nó chìm, người bán sẽ vòng sang cửa nhánh phải.
Thanh nhìn con đường men bờ. Trên thẻ Nham Dự đưa Khê, không có phiên chợ nào để tìm. Chỉ có một dấu nhỏ ở vùng hợp lưu: người từng nhận các nhà đi qua mùa lũ.
Ba nhà mất ruộng đi theo đoàn vì dấu ấy. Nhưng đã nhiều mùa nước họ không nhận được tin của người họ hàng bên này. Tên một người không đủ dẫn tới một mái nhà, nhất là ở nơi cả mái và thuyền đều đổi chỗ theo nước.
Bà giữ túi giống bước tới cạnh Thanh. Đêm qua bà đã buộc túi dưới mái cao, sáng nay lại mang theo người.
“Có cần tôi đi hỏi cùng không?”
“Cần,” Thanh đáp. “Cư biết tên người nhà mình. Tôi chỉ có tên trên thẻ.”
Người đàn bà gật đầu. Bà tên Liên. Người họ hàng bên này là Can của chồng bà, từng đưa người mất ruộng qua bến sau một mùa nước lớn. Chồng bà đã chết trước vụ gieo năm nay. Mối liên hệ còn lại nằm trong lời ông kể và một mẩu dây bện bà giữ ở đáy túi.
Liên lấy mẩu dây ra. Nó ngắn hơn ngón tay, ba sợi gai đã sẫm màu. Ở một đầu có hai nút buộc sát nhau, đầu kia tưa ra.
“Chồng tôi bảo nhà bên này sẽ nhận ra nút,” bà nói. “Tôi chưa từng qua sông.”
Thanh không cầm ngay. “Ai buộc nó?”
“Người Can ấy đưa cho chồng tôi. Khi có việc, cứ đem tới bến.”
“Người ấy tên gì?”
“Đước. Ở nhà gọi là Can Đước.”
Thanh ghi tên Đước lên thẻ riêng, dưới tên Liên và tên hai nhà đi cùng. Nàng vẽ hai nút dây, nhưng để mẩu thật trong tay Liên.
Bên ngoài, một tiếng mõ gỗ vang ba nhịp rồi dừng. Lãm ngẩng lên.
“Chợ chọn được bến rồi.”
• • •
Không ai đánh mõ để gọi người mua. Tiếng gỗ báo cho các thuyền bán hàng biết chỗ nào có thể cập.
Phiên chợ tới từng chiếc một. Thuyền đầu chở rau bó trong lá lớn, chiếc sau có hũ muối và cá phơi. Một bà lái đặt hai giỏ đất sét lên doi cát, chờ dòng bọt qua hết mới buộc dây. Các thuyền tới sau nhìn dây của bà để chọn khoảng cách. Không có hàng cọc cố định; mỗi người buộc vào thuyền của người tới trước hoặc cắm sào xuống chỗ vừa thử chắc.
Thanh đi cùng Liên và Tánh. Chân Tánh còn đau nên Thanh đặt nó ngồi ở một sàn gỗ nhỏ sát lối lên chợ, dặn không bước xuống doi cát. Tánh mang bó dây đã gỡ ở bến hôm qua. Nó xin việc se lại những đoạn còn dùng được để khỏi phải ngồi nhìn người khác đi hỏi.
“Địa ngồi đây thì nghe được gì?” nó hỏi.
“Nghe người ta gọi nhau,” Thanh đáp. “Nếu nghe tên Đước, gọi Kỷ.”
“Người ở đây có thể ai cũng tên Đước.”
“Vậy hỏi họ có nhận ra nút dây không.”
Tánh nhìn mẩu dây trong tay Liên. “Nếu họ nói có mà thực ra không biết?”
“Đừng đưa đầu dây cho họ trước.”
Liên kéo tay áo che mẩu dây. Bà nhìn những thuyền chồng mạn lên nhau, vẻ ngần ngại hiện rõ hơn lúc đứng ở bến. Thanh đi chậm để bà theo kịp.
Người bán cá đầu tiên lắc đầu với tên Đước. Một người sửa mái chèo bảo đã nghe có nhà nhận dân từ bờ núi, nhưng không biết họ ở nhánh nào. Bà lái giỏ đất sét hỏi họ tìm Đước già hay Đước trẻ; Thanh hỏi lại tên cha và bến cũ, bà không trả lời được.
Họ đi gần hết dãy thuyền khi một người đàn ông mặc áo ngắn màu chàm bước ra khỏi bóng mái.
“Tìm nhà nhận dân qua lũ?” ông hỏi.
Thanh dừng lại. “Công Tự biết nhà ấy?”
“Ta đưa khách tới đúng cửa.”
Ông tự xưng là Đàm, chuyên đưa tin giữa các bến. Trên thắt lưng ông treo những thẻ gỗ nhỏ, mặt thẻ khắc tên các cửa nước. Ông liếc mẩu dây lộ khỏi tay áo Liên.
“Nhà Cư có dấu gửi?” Đàm hỏi.
Liên chưa đáp, Thanh đã nói: “Đoàn muốn biết Công Tự gặp người nhà ấy khi nào.”
“Vừa mùa nước trước.”
“Công Tự gặp ai?”
“Người già giữ bếp của họ. Tên ta không nhớ, nhưng thấy dấu là biết.”
Ông đưa tay về phía Liên. Bà lùi nửa bước.
“Dấu này Công Tự chưa nhìn rõ,” Thanh nói.
“Vì thế mới cần xem.”
Đàm cười như thể câu trả lời quá hiển nhiên. Ông kể về một nhóm người từ sườn núi từng xuống hợp lưu, dựng mái trên doi cát rồi đi tiếp về phía nam. Trong lời ông, họ mang theo một chiếc trống đồng nhỏ, để dấu trên từng bến. Ai có đúng dây gửi sẽ được dẫn đến nhà giữ trống.
Thanh nghe hết. Nàng chỉ hỏi: “Doi cát ấy ở đâu?”
Đàm chỉ sang bãi cây thấp nơi chợ vừa chọn cập.
“Chỗ kia. Họ ở đó qua ba mùa nước.”
Lãm đã nói bãi ấy có khi nằm dưới dòng. Thanh không lấy điều đó làm bằng chứng ngay. Một doi cát có thể đã giữ được ba mùa rồi mất. Nàng hỏi tiếp:
“Người ở đây gọi đoạn nước nào là cửa xuống nam?”
Đàm đổi tay chỉ sang nhánh giữa. “Đi qua đó, rồi men bờ.”
Liên siết mẩu dây. “Can Đước từng dặn chồng tôi đừng đưa thuyền vào nhánh giữa lúc nước núi đục.”
“Lời dặn cũ,” Đàm nói. “Luồng đã đổi.”
Thanh nhìn dải bọt trên nhánh giữa. “Công Tự đưa khách bằng thuyền nào?”
“Người nhà kia có thuyền.”
“Vậy đoàn sẽ cùng Công Tự tới nhà họ, gặp người giữ bếp rồi mới trả công.”
Nụ cười của Đàm bớt rộng. Ông bảo nhà ấy phải được báo trước; việc báo cần một phần thóc hoặc sợi dây làm tin. Liên đưa mắt về túi giống. Thanh không để bà phải trả lời.
“Đoàn ở bến Lãm. Khi Công Tự có người tới nhận, cứ gọi tên tôi ở đó.”
Đàm nhìn nàng một lúc, rồi quay sang người khác vừa bước lên chợ. Ông vẫn giữ giọng nhỏ nhẹ khi mời người ấy xem những thẻ cửa nước.
Liên thở ra. “Người ấy biết chuyện di dân.”
“Người ấy biết người tìm nhà thường mang dấu,” Thanh nói. “Chuyện còn lại phải kiểm.”
Nàng không gạch tên Đàm khỏi thẻ. Lời ông có thể chứa một mảnh đúng, nhưng hiện chưa có ai chỉ ra mảnh nào.
• • •
Đến trưa, chợ dịch đi.
Một đầu doi cát sụp dưới chân sào của bà bán giỏ đất. Bà giật dây buộc, đẩy thuyền ra trước khi chiếc giỏ thứ hai được chuyển lên. Tiếng mõ vang hai nhịp ngắn. Các thuyền phía ngoài tháo dây, quay mũi theo dòng rồi lần lượt tìm chỗ cập ở nhánh phải.
Tánh nhìn cả dãy hàng trôi qua mình. Nó không đứng dậy đuổi theo. Thanh và Liên đã trở về sàn gỗ trước khi chiếc thuyền cuối rời doi.
“Chợ đi thật,” Tánh nói.
“Chiều có thể họp tiếp,” Lãm đáp từ sau lưng. Ông vừa đưa chuyến càng xe thứ hai về bến. “Hỏi được ai chưa?”
“Có một người muốn nhận thóc để dẫn đường,” Thanh nói. “Chưa gặp người nhà.”
Lãm nghe tên Đàm thì nhíu mày. “Người ấy biết đưa tin. Nhưng mỗi lời dẫn có giá khác nhau tùy người hỏi.”
“Thiết biết Đước không?”
“Có hơn một Đước qua bến này.”
Lãm không đoán thêm. Ông gọi người nhà đưa những càng xe vừa dỡ lên nền cao, đối từng món với thẻ Thanh ghi tối qua. Một bánh xe thiếu chốt gỗ; Khê đã buộc chốt riêng vào càng để khỏi rơi xuống nước. Thanh nhận đủ rồi mới đánh dấu.
Trong lúc đó, những thuyền chợ vòng qua nhánh phải. Từ xa, các mạn thuyền chạm nhau thành một dải đen giữa nước. Không ai báo bằng lời rằng chợ đã chọn bến mới. Người muốn mua tự nhìn dòng thuyền mà tìm.
Tánh ngồi se dây. Ở một chiếc thuyền chở bẹ lau, hai đứa nhỏ vừa đẩy hàng vừa hát. Tiếng chúng lẫn với tiếng mái chèo, chỉ vài âm cuối đến được sàn gỗ:
“Bờ cao giữ lửa,
Bờ sâu giữ dây…”
Một đứa kéo dài chữ cuối. Đứa kia gõ cán chèo xuống mạn ba tiếng, nghỉ một nhịp, rồi hát câu tiếp. Tánh ngẩng lên. Khi chiếc thuyền đi sau tới cùng khúc nước, tiếng gõ lại vang: ba tiếng, một khoảng lặng, hai tiếng nhanh.
Nó đặt bó dây xuống.
“Bài ấy Kỷ đã nghe chưa?”
Thanh đang buộc thẻ giao xe. “Bài nào?”
Tánh hát lại hai câu. Nó không nhớ đủ tiếng ở cuối, nên gõ nhịp bằng hai đầu ngón tay lên sàn.
Liên quay lại ngay.
“Chồng tôi từng gõ như vậy vào thành chum,” bà nói. “Khi kể chuyện nhà Can Đước.”
“Người ấy có hát không?” Thanh hỏi.
“Không thành lời. Chồng tôi bảo trẻ bên kia học nhịp để nhớ lúc nào tháo dây thuyền. Tôi tưởng chỉ là trò chơi.”
Tánh gõ lần nữa. Ba tiếng đều, dừng, hai tiếng gần nhau. Nó nhớ tiếng mõ buổi sáng gọi chợ: ba nhịp rồi dừng. Nhịp kia có thêm hai tiếng.
“Tiếng cuối là lúc thuyền đi?” nó hỏi Lãm.
Lãm lắc đầu. “Mỗi nhà dùng mõ khác. Muốn biết, hỏi người hát.”
Chiếc thuyền bẹ lau đã cập bờ mới. Thanh nhìn chân Tánh, rồi nhìn lối đất chạy dọc nhánh phải.
“Mày ngồi trên xe nhỏ. Kỷ đẩy.”
“Địa đi được.”
“Kỷ biết.”
Nàng không tranh thêm. Khê vừa đưa chiếc xe không chở đồ xuống từ mái bến. Anh đặt tấm ván ngang thấp để Tánh lên ngồi, rồi cùng Thanh đẩy xe theo lối đất. Liên mang mẩu dây đi cạnh họ.
• • •
Bến mới chỉ cách một khúc quanh, nhưng đường bộ dài hơn đường nước. Khi họ tới nơi, thuyền bẹ lau đã bán gần hết hàng.
Hai đứa nhỏ ngồi ở mũi, dùng sợi dây buộc những bẹ cuối thành bó. Một bé gái khoảng mười tuổi hát nốt câu Tánh nghe dở. Em gõ cán chèo trước mỗi câu, còn bé trai ngồi cạnh gõ theo nhưng hay vào sớm. Người đàn bà lái thuyền nhắc em chờ đủ nhịp.
Thanh không đưa mẩu dây ra. Nàng hỏi người đàn bà có thể chỉ cho Tánh bài hát vừa rồi không.
“Chỉ để hát?” bà hỏi.
“Để hiểu nhịp.”
Người đàn bà nhìn chiếc xe chở Tánh và chân nó quấn vải. Bà bảo hai đứa nhỏ hát từ đầu.
Bài hát kể việc buộc dây vào cọc cao, giữ lửa trên bờ chắc, nhìn nước đục rồi chờ nước trong. Mỗi đoạn có cùng nhịp ba tiếng, nghỉ, hai tiếng. Chỉ ở câu cuối, hai đứa gõ ngược: hai tiếng, nghỉ, ba tiếng.
“Vì sao đổi nhịp?” Tánh hỏi.
Bé gái chỉ mái chèo của mẹ. “Lúc quay về phải tháo dây bên này trước.”
“Bên nào?”
Em không đáp bằng tên bờ. Em lấy một sợi dây ngắn, quấn quanh hai đầu ngón tay rồi kéo nút về phía mình. Hai nút nằm sát nhau ở một đầu; đầu kia để tưa.
Liên mở bàn tay. Mẩu dây chồng bà giữ có đúng hai nút ấy.
Người đàn bà lái thuyền nhìn nó, không vội nhận. Bà lấy sợi dây từ tay con gái, đặt cạnh mẩu cũ. Một nút trên dây Liên buộc ngược chiều.
“Dây này đã tháo rồi buộc lại,” bà nói.
Liên thấy mặt mình nóng lên. “Chồng tôi buộc lại sau khi một đầu bị mục. Người ấy không biết có cần giữ nguyên không.”
“Người ấy nói ai đưa?”
“Can Đước.”
Người đàn bà im lặng. Bà quay sang bé gái.
“Đi gọi Cơ.”
Bé gái nhảy khỏi thuyền, chạy dọc bờ tới một mái thấp dựng sau rặng lau. Tánh định hỏi thêm, nhưng Thanh đặt tay lên thành xe. Nàng chờ người được gọi tới.
Một bà già chống sào đi ra. Bà không nhìn mẩu dây trước. Bà nhìn Liên, hỏi tên chồng và bờ ruộng cũ. Liên trả lời từng điều. Khi nghe tên một con mương đã bị cát lấp, bà già đặt sào xuống.
“Đước đã tới đó,” bà nói. “Ta đi cùng chuyến đưa người lần ấy.”
Liên hỏi dồn: “Can Đước còn ở đây không?”
“Người ấy mất ba mùa nước rồi.”
Liên cúi đầu. Bàn tay bà nắm mẩu dây chặt đến mức hai nút hằn vào lòng tay. Bà từng nghĩ sẽ gặp được ông, đưa mẩu dây ra và hỏi một câu đơn giản về chỗ ngủ cho ba nhà. Giờ câu ấy không còn người được bà chuẩn bị để hỏi.
Bà già đợi Liên ngẩng lên mới nói tiếp. Giọng bà chậm lại, như đang nói về một người còn ngồi trong mái. “Đước là Quân của người lái thuyền này. Ta là Cơ của người ấy. Theo lời truyền trong nhà, người giữ nhịp thuyền của đoàn di dân cũ là tổ của Đước; bọn bay muốn biết chắc đường họ đi thì còn phải đối lời người ở những bến khác.”
Bé gái đứng cạnh bà, bàn tay vẫn nắm chiếc dây vừa bện. Người đàn bà lái thuyền gọi bà già là Cơ, rồi mời cả nhóm xuống mái sau lau. Thanh đẩy xe Tánh theo họ.
Bà già tên Xoan. Bà nhớ chuyến Đước đi qua bờ núi vì năm ấy họ phải buộc dây theo cách khác để những thuyền đến sau biết bến nào còn người chờ. Hai nút sát nhau chỉ một nhà đã đi cùng người dẫn, đầu tưa để khi tới nơi có thể tháo và dùng tiếp. Người gửi không trao dây để nhận thóc; họ trao để người đến bến có thể kể lại đường mình đi, người mình còn tìm.
Thanh hỏi về đoàn di dân cũ trước khi mùa lũ ấy xảy ra. Xoan không trả lời ngay.
“Bọn bay tìm ba nhà này, hay tìm chuyện xa hơn?”
“Cả hai,” Thanh đáp. “Ba nhà cần chỗ hỏi người thân trước. Ấu tìm dấu những người đã đi qua vùng này từ nhiều đời.”
Xoan nhìn Liên. “Chuyện xa hơn không nuôi họ tối nay.”
“Vậy xin nói chỗ họ có thể nghỉ và người nào biết tên Đước,” Thanh nói. “Chuyện kia Ấu hỏi sau.”
Xoan gọi con gái lấy một tấm thẻ gỗ. Trên đó có những tên nhà từng được Đước dẫn qua, chia theo cửa nước và mùa. Tên chồng Liên chưa nằm trong thẻ: ông giữ dây để dùng khi cần, chưa từng đưa nhà qua. Xoan bảo ba nhà có thể tạm nghỉ trên nền cao cạnh mái lau, nhưng việc ở lâu hơn phải hỏi những người giữ bãi và người có ruộng ở nhánh trong. Bà không hứa đất cho họ.
Liên gật đầu. Một chỗ nghỉ và đúng người để hỏi đã là điều bà cần hôm nay.
Tánh nhìn thẻ. “Vì sao Già Thị không khắc tên người ở bờ cũ rồi chờ họ tới?”
“Nếu khắc hết người có thể tới, tấm gỗ nào đủ?” Xoan hỏi. “Người mang dây phải tự nói tên. Ta đối đường và người, rồi mới chỉ bãi còn chỗ.”
Tánh gõ nhẹ ba tiếng lên cạnh xe, dừng, hai tiếng. Xoan nghe thấy.
“Ấu theo tiếng ấy mà đến?”
“Ấu nghe hai đứa hát,” Tánh đáp. “Ấu nhớ Cư Liên nói nhà bên này có nhịp buộc thuyền.”
Xoan nhìn Thanh, rồi nhìn chân Tánh. “Tai Ấu ấy làm việc trong lúc chân phải nghỉ.”
Tánh không cười, nhưng bàn tay thôi bấu mép xe.
• • •
Chiều muộn, Hùng qua sông cùng chuyến xe cuối. Cả ba chiếc xe đã được tháo, chở qua và lắp lại trên nền cao; người nhà thuyền còn giữ các chốt để đối lần cuối. Hùng mang thẻ ghi việc hai bờ tới cho Lãm và Mân đọc. Lãm xác nhận phần đào rãnh hôm qua, phần dọn bến sáng nay và những chuyến chở xe. Công việc ở bến chưa hết, nhưng không ai của ba nhà bị giữ lại theo một lời hẹn kéo tới hết mùa nước.
Trên đường, Thanh kể Hùng nghe lời Đàm ở chợ và những điều nàng chưa kiểm được. Nàng dẫn chàng tới mái Xoan. Liên và hai nhà còn lại đang chuyển nồi, chăn và công cụ lên nền nghỉ. Họ chưa biết người thân của mỗi nhà hiện ở nhánh nào. Xoan đã cho gọi hai người nhớ các tên cũ tới hỏi cùng họ khi trời sáng.
Hùng xem hai mẩu dây. “Đàm ở chợ nói có nhà giữ trống.”
“Già Thị chưa nói tới trống,” Thanh đáp. “Qua ghi lời Đàm riêng.”
Xoan nghe tên người môi giới, thở qua mũi. “Có người từng mang trống qua đây. Cũng có người từng mang cối đá. Ghép hai thứ ấy vào một nhà là bán được một câu chuyện.”
“Vậy chuyện đoàn di dân mà Già Thị biết?” Hùng hỏi.
Xoan đặt hai mẩu dây vào tay con gái, bảo cất riêng để không lẫn.
“Ta biết những tên bến cũ,” bà nói. “Đước biết nhiều đường hơn ta. Trước người ấy còn có người giữ nhịp thuyền. Bài bọn trẻ hát đổi chữ theo mỗi mùa, nhưng chỗ dừng và chỗ quay vẫn giữ. Ai chỉ học lời sẽ tưởng mọi người đi cùng một đường.”
Thanh mở thẻ sạch. “Già Thị nhớ những đường nào?”
“Một đường dẫn người lên gò cao, một đường đưa hạt giống xuống bãi trong. Có nhà chỉ đi một đoạn rồi ở lại. Có nhà đi tiếp. Mai bọn bay muốn đối, phải nghe người của từng bến.”
“Già Thị có thể chỉ họ?” Thanh hỏi.
“Có người ta gọi được. Có người phải đợi chợ đi tới cửa nước của họ.”
Thanh ghi đúng lời Xoan, không nối các bến thành một đường duy nhất. Chỗ nào Xoan nói đã tận mắt thấy, nàng đánh dấu riêng; chuyện bà nghe Đước kể để ở hàng khác. Hùng nhìn cách nàng để khoảng trống giữa các tên. Khoảng trống ấy không phải chỗ còn thiếu để tùy ý điền, mà là phần cần người khác cùng xác nhận.
Ngoài mái, hai đứa nhỏ lại hát khi kéo thuyền lên bãi. Tánh ngồi cạnh chúng, dùng đầu ngón tay gõ vào thanh gỗ. Nó không hát to. Đến câu quay về, nó ngừng đúng chỗ rồi mới gõ hai tiếng tiếp. Bé trai lúc trưa từng vào sớm nhìn nó và sửa theo.
Trên bến, một giỏ cát ướt vừa được đổ ra để kê chân sào. Trong cát có những hạt tối nhỏ nằm lại giữa lớp vàng nhạt. Hùng nhận ra màu của phần lắng Mân đã chỉ hôm qua. Chàng không nhặt chúng lên gọi tên. Nước đã đưa chúng từ đâu tới, người bến dùng dấu ấy ra sao, còn phải hỏi qua nhiều lần thử.
Thanh ngồi bên thẻ gỗ của Xoan. Giữa hàng tên đã khắc, tên chưa tới và những câu hát vẫn được truyền đi, nàng cũng đang tìm một thứ nằm lẫn trong rất nhiều lời kể. Nàng để từng người nói phần mình biết.
Khi phiên chợ trôi khỏi cửa nước vào lúc hoàng hôn, mái lau của Xoan vẫn còn sáng lửa. Ba nhà mất ruộng đã có chỗ ngủ gần những người có thể giúp họ tìm thân thích. Sáng mai Thanh sẽ nghe các bến kể tiếp; lần này nàng biết phải bắt đầu từ nhịp nào.