Sáng hôm sau, bản dập chiếc muỗng giữ giống nằm giữa Hùng và Thanh như một con vật nhỏ vừa được kéo ra khỏi hang tối.
Mộc Nương đã lấy nhọ nồi xoa lên mặt gỗ, phủ vải mỏng rồi ép từng đoạn bằng mu bàn tay. Những vết khắc hiện ra không đều. Có nét đậm như móc câu, có chấm chỉ vừa đủ giữ một hạt mực, lại có những đường xiên nối nhau giống dấu chân chim chạy trên bãi bùn.
Hùng đặt bên cạnh bản dập ba dấu đóng mở của đường nước dưới kho lương. Chàng xoay hai mảnh vải cho đến khi một nét cong ở chúng cùng hướng.
“Nếu dấu này là nước,” chàng nói, “hai chấm phía sau có thể là hai cửa. Nét xiên lặp ba lần có lẽ chỉ số lần mở.”
Thanh đang chép lại tên những nhà từng giữ giống. Nàng không ngẩng lên.
“Hoặc đó là gió, hai đêm và ba lượt hong.”
“Mộc Nương nói hàng giữa mới nhắc nước.”
“Bà cũng nói không ai đọc trọn.”
Hùng lấy ba thẻ tre, chép riêng từng dấu rồi đổi chỗ chúng. Khi xếp nét cong trước chấm lõm, chuỗi dấu giống một đường nước mở vào hai nhánh. Đổi chấm lên đầu, nó lại giống hai mắt nhìn xuống một cái móc.
“Dấu có trật tự,” chàng nói. “Nếu tìm được chỗ lặp, ta có thể suy ra cách ghép.”
Thanh đặt bút xuống mạnh hơn cần thiết. Đầu bút để lại một chấm mực tròn trên thẻ.
“Công Tự đang làm đúng điều Mộc Nương dặn đừng làm.”
“Ta chưa kết luận.”
“Nhưng Công Tự đã gọi nó là nước, là cửa và là số lần.”
Hùng tựa lưng vào cột. Mười hai ngày qua, Thanh đã học cách nhìn một hạt giống như vật đang sống. Còn chàng đã đi hết những miệng nước cũ với lão Cẩn, đo từng đoạn ống và thử từng phiến đá. Cả hai đều vừa tìm được một điều đúng, vì thế ai cũng dễ tin phương pháp của mình đúng hơn.
Hùng xoay mảnh vải thêm một lần. Chàng biết Thanh đang giận, nhưng cái nét cong gần khớp kia cứ níu mắt chàng lại.
“Nếu chỉ đi hỏi, mười người sẽ kể mười cách. Ta cần tìm xem phần nào không đổi.”
Thanh khoanh tay. “Còn nếu vì muốn có một phần không đổi mà Công Tự gọt mất chín phần sống thì sao?”
“Muốn biết phần nào không đổi, trước hết phải tìm người còn dùng nó.”
“Và nếu không còn ai?”
Thanh gấp bản danh sách lại. “Khi ấy chúng ta mới được phép thừa nhận mình không biết.”
Nàng cuộn bản dập, buộc bằng đúng kiểu nút Mộc Nương đã dạy. Hùng nhìn hai đầu dây bằng nhau, không hỏi nó có nghĩa gì.
“Công Thị định bắt đầu ở đâu?”
“Ở nơi người ta dùng cả gió lẫn nước, nhưng không cần gọi tên chúng trên thẻ.”
• • •
Phường nhuộm nằm sát con lạch phía đông thành. Nước ở đó không trong. Mỗi dãy nhà trả xuống một màu: xanh chàm, vàng vỏ cây, nâu củ nâu. Các dòng màu chen nhau trong rãnh hẹp rồi loãng dần trước khi đổ ra sông.
Thanh không tìm người đứng đầu phường. Nàng đi dọc những giàn vải, hỏi từng người xem họ có nhận ra dấu trên bản dập hay không.
Người thứ nhất bảo nét cong là móc phơi. Người thứ hai nói đó là con đỉa. Một bà già đang giặt vải nhận ra ba chấm dùng để đánh dấu số lần xả, nhưng dấu của bà là ba vết cắt thẳng, không phải chấm lõm. Một cậu bé nhìn hàng nét xiên rồi cười, bảo giống vết gà chạy qua tro.
Hùng ghi tất cả câu trả lời. Đến người thứ mười, chàng bắt đầu chia chúng thành nhóm. Nét cong thường được gắn với vật kéo hoặc dòng chảy. Chấm thường là số lần. Nét xiên có thể chỉ hướng.
Thanh thấy những cột ghi trên thẻ của chàng.
“Công Tự lại bắt đầu ghép rồi.”
“Ta chỉ ghi điều lặp.”
“Người ta nhìn cùng một hình rồi gọi mười thứ khác nhau. Điều ấy cũng lặp.”
Trước khi Hùng kịp đáp, từ cuối ngõ vang lên tiếng quát. Một người đàn ông vạm vỡ đang túm cổ tay một cô gái trẻ. Dưới chân họ là tấm vải xanh loang lổ những vệt trắng.
“Mày mở nước sớm!” Người đàn ông túm cổ tay cô gái, những đầu ngón tay tím màu chàm siết thành vệt. “Cả mẻ của ta nhạt như nước vo gạo rồi!”
Cô gái giằng tay. “Tôi chưa đụng cửa nước.”
“Không mở thì nước ở đâu tràn vào bể?”
Mấy người thợ bu lại. Một người nhận ra Hùng và Thanh, vội cúi chào rồi định gọi người giữ phường. Hùng ngăn ông ta.
“Chúng tôi không đến xử việc.”
Người đàn ông vẫn không buông cô gái. “Công Tự nhìn đi. Nó phụ trách rãnh trên. Nước vào sai giờ, ngoài nó còn ai?”
Thanh nhìn bể nhuộm. Trên mặt nước xanh có một lớp bọt mỏng dồn về phía góc tường. Nàng hỏi cô gái:
“Rãnh trên ở đâu?”
Cô gái chỉ qua ba căn nhà. “Nước từ lạch đi qua khe đá rồi mới vào máng. Tôi chỉ nhấc tấm chắn khi nghe ba tiếng mõ.”
“Sáng nay có mõ không?”
“Không.”
Hùng bước đến bờ bể, nhúng đầu ngón tay vào nước rồi nếm rất nhẹ. Vị nhạt, không có mùi tro. Chàng nhìn lên rãnh dẫn. Nó rộng chưa đầy bàn tay, chạy men chân tường rồi mất dưới một đống vỏ cây.
Hùng bước vào giữa hai người. Chàng không quát, chỉ đặt bàn tay lên cổ tay người đàn ông.
“Thả cô ấy ra.”
Giọng nói thấp đến mức đám đông phải im mới nghe được. Bàn tay tím màu chàm nới ra trước khi chủ nhân của nó kịp nhận mình đã nghe lời.
Người đàn ông chần chừ. “Nhưng...”
“Ta không nói cô ấy vô can. Ta nói ông đang giữ người khi chưa biết nước đến từ đâu.”
Ông ta buông tay.
Thanh đã quỳ xuống cạnh rãnh. Nàng bẻ một cọng rơm, thả vào dòng nước. Cọng rơm bị hút qua khe dưới đống vỏ cây, biến mất rồi hiện ra ở bể nhuộm.
“Khe ấy luôn có nước sao?” nàng hỏi.
Cô gái lắc đầu. “Chỉ khi mực lạch cao.”
“Đêm qua không mưa.”
“Nhưng phường trên xả bể ngâm vỏ.” Một bà thợ nói. “Nước dâng nhanh, chưa kịp đánh mõ.”
Hùng kéo đống vỏ cây sang bên. Dưới đó là một phiến đá dài chặn ngang rãnh. Nước không chảy qua mặt đá mà len theo một đường nứt mảnh ở chân tường. Khe nhỏ đến mức một ngón tay cũng không lọt, nhưng dòng nước chạy qua rất nhanh, sáng lên rồi khuất vào bóng tối.
Trên mặt phiến đá có ba vết khía: một móc cong, hai chấm lõm và một hàng nét xiên.
Thanh mở bản dập chiếc muỗng. Những người đứng quanh im dần.
Hùng đặt bản dập sát phiến đá. Nét không hoàn toàn giống nhau. Dấu trên đá thô hơn, một nhánh quay ngược. Nhưng nhịp của ba hàng gần như trùng khớp.
“Ai làm phiến chắn này?” chàng hỏi.
Không ai trả lời.
Cô gái bị giữ tay lúc nãy nói nhỏ: “Bà Nại biết.”
“Bà ấy ở đâu?”
“Dưới bến cũ. Bà gọi nước cho các phường. Nhưng ba năm nay người giữ phường không cho bà đụng cửa nữa.”
“Vì sao?” Thanh hỏi.
“Bà không biết chữ trên thẻ. Bà chỉ nhớ dấu đá và tiếng mõ.”
• • •
Bà Nại sống trong căn lều tựa lưng vào bờ đất, nơi con lạch chia thành nhiều rãnh nhỏ trước khi vào thành. Bà gầy đến mức hai cổ tay giống những nhánh củi khô, nhưng bàn chân bè rộng, các ngón bám đất như rễ cây.
Khi Thanh mở bản dập, bà không nhìn ngay. Bà đưa tay sờ mép vải, ngửi mùi nhọ rồi hỏi:
“Lấy ở đâu?”
“Dưới cán một chiếc muỗng giữ giống,” Thanh đáp. “Vật gốc vẫn ở nhà giữ giống.”
Bà Nại gật đầu. “Biết để vật ở chỗ của nó là tốt.”
Hùng trải thêm bản vẽ ba dấu đường nước. “Còn những dấu này ở dưới kho lương.”
Bà Nại liếc bản vẽ một cái rồi dùng đầu gậy gõ cộc xuống đất.
“Sai.”
Hùng khựng lại. Chàng đã mất gần nửa đêm cho ba dấu ấy. “Sai ở đâu?”
“Sai từ lúc cậu bắt nước đứng thẳng như lính hầu.” Bà chỉ vào dấu thứ ba. “Nó phải nghiêng theo dòng. Dựng nó lên thì nó chết.”
Hùng khựng lại. “Sai chỗ nào?”
“Dấu thứ ba phải nằm nghiêng theo dòng. Cậu dựng nó thẳng thì nó chết.”
“Một dấu đổi nghĩa theo hướng đặt?”
“Dấu nào chẳng đổi khi quay đầu.”
Bà chống gối đứng dậy, cầm một cây gậy có đầu mòn nhẵn. “Muốn hỏi thì theo tôi. Đừng bắt tôi nói với vải.”
Bà dẫn họ men theo lạch. Nước đầu mùa cạn, chỉ lấp xấp mắt cá, nhưng chỗ bờ hẹp dòng chảy xiết đến mức cuốn cát thành những vệt dài. Cứ qua một đoạn, bà lại dừng, lấy gậy gõ vào đá rồi cúi nghe.
Hùng quan sát số nhịp: chỗ thì một tiếng, chỗ hai tiếng gần nhau, chỗ ba tiếng cách quãng. Chàng định ghi thì bà Nại gạt thẻ tre xuống.
“Nghe đã.”
“Tôi cần nhớ thứ tự.”
Bà Nại quay phắt lại. “Cậu nhớ tiếng gậy mà quên tiếng nước thì nhớ để làm gì? Đem về gõ lên bàn cho quan nghe à?”
Hùng nóng mặt. Thanh nghiêng đầu nhìn sang, nhưng lần này nàng không cười.
Hùng đành cất thẻ. Tiếng nước không giống nhau. Ở bờ đất, nó rì rầm thấp. Qua khe đá, nó bật lên sắc và nhanh. Dưới một gốc sung, dòng nước biến mất hẳn, nhưng áp tai xuống đất vẫn nghe tiếng róc rách chạy bên dưới.
Bà Nại dừng ở đó. Trên rễ sung có một dãy vết khắc gần giống hàng đầu của chiếc muỗng.
“Hàng này không phải chữ gió,” bà nói. “Nó bảo phải để mặt nước thở.”
Thanh hỏi: “Thở bằng cách nào?”
Bà dùng gậy moi lớp lá mục khỏi một lỗ nhỏ cạnh rễ. Không khí thoát ra, mang theo mùi bùn lạnh. Dòng nước dưới đất bỗng kêu rõ hơn.
“Khi nước bị ép trong khe, phải có chỗ cho khí ra. Bịt lỗ này, dòng dưới sẽ dội ngược. Nhà giữ giống hong hạt cũng vậy. Túi kín quá thì hạt chết ngạt. Người xưa dùng cùng một dấu cho những vật cần được thở.”
Hùng nhìn bản dập. Chàng đã gọi nó là gió. Mộc Nương cũng truyền rằng hàng đầu nhắc gió. Cả hai đều không hẳn sai, nhưng tên gọi chỉ chạm vào phần nổi.
“Còn hàng giữa?” Thanh hỏi.
Bà Nại dẫn họ đến nơi lạch bị bó giữa hai phiến đá. Bà nhặt ba viên sỏi, đặt một viên ở đầu khe, hai viên ở cuối rồi dùng gậy vẽ một nét cong.
“Nước vào một, ra hai. Không được mở hai cửa cùng lúc. Mở cửa thấp trước cho bùn đi, rồi mới mở cửa cao lấy nước trong.”
“Hai chấm không phải hai lần,” Hùng nói.
“Có lúc là hai lần. Có lúc là hai cửa. Dấu chỉ nhắc việc phải tách đôi. Muốn biết tách cái gì thì nhìn nơi nó nằm.”
Thanh liếc sang Hùng. Nàng không cười, nhưng ánh mắt đã đủ làm chàng nhớ mười cột suy luận buổi sáng.
Hùng nhặt hai viên sỏi, đổi vị trí chúng. “Nếu người dùng dấu chết đi, làm sao người sau biết phải nhìn vào đâu?”
Bà Nại im lặng một lúc.
“Bởi vậy mới có lệ gọi nước.”
Trước mỗi mùa dẫn nước, những người giữ rãnh từng đi từ bến cũ lên đầu lạch. Họ gõ vào từng phiến đá, dọn từng lỗ thở, mở rồi đóng các cửa theo thứ tự. Trẻ học nghề đi sau, không được cầm thẻ, chỉ được nghe tiếng nước đổi giọng. Đến cuối đường, mỗi người tự khắc một dấu lên thanh gỗ mang về. Khi làm đủ ba mùa mà không khiến rãnh nào tràn hoặc cạn, họ mới được gọi nước cho người khác.
“Đó là nghi lễ sao?” Thanh hỏi.
Bà Nại nhún vai. “Người trên thành gọi là lễ. Chúng tôi gọi là đi thử nước. Có hương, có lời khấn vì người ta sợ quên mình đang nhờ sông mà sống. Nhưng khấn xong vẫn phải cúi xuống moi bùn. Không moi thì tổ tiên nào dẫn nước giúp được.”
Hùng bật cười. Bà Nại nhìn chàng, đôi mắt sâu nhưng không giận.
“Cậu cười được thì chắc còn học được.”
• • •
Họ đi đến cuối lạch khi mặt trời đã ngả. Bà Nại bảo Hùng tự mở một cửa nước nhỏ dẫn vào vườn rau ven thành.
Trên phiến chắn có dấu móc cong quay sang trái, một chấm và hai nét xiên. Hùng ngồi xuống, nhìn hướng dòng, nhìn độ cao của cửa rồi sờ lớp rêu ở chân đá.
“Mở cửa thấp trước,” chàng nói.
“Ở đây chỉ có một cửa,” bà Nại đáp.
Thanh khoanh tay. “Công Tự còn muốn suy không?”
“Muốn.” Hùng cầm mép đá. “Nhưng lần này ta sẽ hỏi trước. Dấu một chấm nhắc điều gì?”
Bà Nại không trả lời. Bà chỉ vào vườn rau. Một người đàn bà đang chờ bên luống, tay cầm chiếc gáo thủng đáy.
Thanh bước tới hỏi. Người đàn bà đặt gáo xuống rãnh, để nước tràn vào rồi chảy qua lỗ nhỏ.
“Một gáo,” bà nói. “Không phải một lần mở. Khi gáo đầy rồi cạn hết, đóng cửa. Vườn này ở cuối dòng, nhận nước ngắn nhưng nhanh. Mở lâu, đất trôi.”
Hùng hé phiến chắn. Nước ép qua khe, lao ra thành một lưỡi mỏng. Cát dưới rãnh chuyển động ngay. Chàng giữ đá, chờ chiếc gáo đầy rồi cạn. Khi người đàn bà hô, chàng đẩy phiến chắn về chỗ cũ.
Chỉ trong một khoảng thở, nước đã chạy hết ba luống rau.
“Giản dòng, không giản việc,” bà Nại nói. “Khe càng hẹp, nước càng tìm đường nhanh. Người giữ nước mà chậm tay thì nó lấy đất đi cùng.”
Thanh cúi xuống bản dập. Dấu một chấm trên chiếc muỗng có thể từng chỉ một lượt nước, một nhịp hong, một lần đánh thức hạt. Không có vật và người sử dụng bên cạnh, nó chỉ còn là hình.
Hùng lấy thẻ tre ra, nhưng lần này chàng không chép nghĩa của từng dấu. Chàng vẽ vị trí của chúng: dưới cán muỗng, trên phiến chắn, cạnh lỗ thở, ở cửa vườn. Bên mỗi hình, chàng ghi tên người đang dùng và việc họ làm.
Thanh nhìn cách chàng ghi rồi nói: “Cấu trúc của Công Tự vẫn có ích.”
“Ta tưởng Công Thị sẽ bắt ta vứt hết thẻ.”
“Tôi chỉ muốn Công Tự ngừng bắt dấu khắc tự khai khi không có người làm chứng.”
“Còn hỏi từng người mà không đối chiếu, ta sẽ có mười lời đúng cho mười nơi.”
Hùng xếp lại những thẻ chỉ ghi người, vật và nơi chốn. “Vậy lần này chúng ta cùng đúng một nửa.”
Thanh cuộn bản dập, cố giữ giọng thản nhiên. “Một nửa của Công Tự hơi thích lấn sang phần người khác.”
Hùng bật cười. Bà Nại đi trước chống gậy mạnh thêm một tiếng, giả như không nghe thấy.
Hùng cười. “Một nửa của Công Thị lớn hơn một chút?”
Thanh cuộn bản dập. “Lớn hơn vừa đủ để Công Tự nhận ra.”
Bà Nại đi trước, giả như không nghe thấy.
Khi họ trở lại lều, hai người của phường bến đã chờ sẵn. Một người mặc áo nâu sẫm, người kia áo xám, cả hai đứng cách nhau như sợ bóng mình chạm vào phía đối diện.
Người áo nâu chắp tay với Hùng.
“Thưa Công Tự, sáng mai quan coi thủy lộ mở vụ xử ở bến cũ. Phường trên nói phường dưới phá cửa chia nước. Phường dưới nói người trên đổi dòng, làm ruộng của họ cạn. Hai bên đều xin người trong họ hàng nhà Kinh tới chứng kiến.”
Hùng đáp: “Ta không có chức xét xử.”
“Chúng tôi biết. Quan coi thủy lộ chỉ mời Công Tự dự, vì việc kho lương cũng liên quan đường nước cũ.”
Người áo xám lập tức nói: “Nếu Công Tự đã thấy dấu trên các phiến đá, xin nói cho quan biết cửa nào thuộc phường nào.”
“Ta mới biết dấu không tự nói được điều đó.”
Hai người nhìn nhau, cùng thất vọng vì không bên nào lấy được câu mình muốn.
Bà Nại chống gậy ở cửa. “Họ tranh nhau nước đã ba mùa. Năm nay mới nhớ đến dấu đá.”
Thanh hỏi: “Bà sẽ đến chứ?”
“Quan không gọi tôi.”
“Nhưng bà là người còn biết lệ gọi nước.”
“Biết không có nghĩa được nói.”
Hùng nhìn dòng lạch đang chui qua khe chân bờ. Nó không hỏi phiến đất phía trên thuộc về ai. Gặp đá, nó thu mình. Gặp một lỗ nhỏ, nó luồn qua. Nhưng khi ra khỏi khe, nó có thể nuôi một luống rau hoặc cuốn cả lớp đất màu đi mất.
“Sáng mai,” chàng nói, “tôi sẽ dự vụ xử. Tôi không thể gọi bà thay quan, cũng không thể hứa họ sẽ nghe. Nhưng nếu bà đến đứng ngoài bến, tôi sẽ hỏi trước mọi người ai còn biết các dấu ấy được dùng thế nào.”
Bà Nại nhìn chàng rất lâu.
“Cậu hỏi, chưa chắc họ cho tôi đáp.”
Thanh đứng cạnh Hùng. “Nếu họ không cho bà đáp, ít nhất mọi người sẽ biết bản án được đưa ra trong khi một lời chứng còn bị giữ ngoài cửa.”
Ngoài lều, nước va vào rễ sung, phát ra một tiếng nhỏ rồi biến mất dưới đất.
Bà Nại nắm chặt đầu gậy.
“Vậy sáng mai tôi đứng ngoài bến.”
Hùng cuộn hai bản dập lại. Lần đầu tiên, chàng không thấy những dấu khắc là cánh cửa mở vào một kho tri thức đã mất. Chúng giống những khe hẹp hơn: tự chúng không giữ được cả dòng, nhưng nếu còn người biết khơi đúng chỗ, điều tưởng đã biến mất vẫn có thể tìm đường chảy qua.
Sáng mai, ở bến cũ, dòng nước ấy sẽ gặp luật của thành.