Chương 1: Người trở về giữa tháng Chạp

Đại Nghi lập quốc đã hơn một trăm năm. Đến đời Cảnh Hòa Đế, bờ cõi phía nam yên ổn, riêng vùng Bắc Cảnh vẫn thường xuyên có kỵ binh Hồ Nhung vượt qua sông Hắc Thủy quấy nhiễu. Năm Cảnh Hòa thứ mười chín, đầu tháng Chạp. Mùa đông ở Thịnh Kinh đến sớm hơn mọi năm. Tuyết rơi suốt hai đêm, phủ trắng những mái ngói lưu ly, đến sáng ngày thứ ba mới chịu ngừng. Trên đường Tuyên Bình, người quét tuyết của các cửa hiệu vừa vun được một lối đi nhỏ thì xe ngựa và chân người đã giẫm thành lớp bùn xám nhão nhoét. Cuối năm, phố xá vẫn đông. Hai bên đường treo đèn lồng đỏ, những hàng bán mứt quả, bánh nếp, thịt hong khói chen nhau tỏa mùi ngọt béo. Người bán hàng cất tiếng mời không ngừng, tiếng roi ngựa, tiếng bánh xe nghiến lên đá lát và tiếng trẻ con gọi nhau hòa thành một thứ âm thanh rộn ràng, khiến người ta tạm quên cái lạnh đang cắt vào da thịt. Đúng giờ Thìn, cửa Bắc thành mở rộng. Ba nghìn quân Huyền Giáp từ Nhạn Hồi Quan trở về. Đội quân đi suốt hơn một tháng, giáp sắt phủ bụi, cờ hiệu bạc màu vì gió cát. Dân chúng nghe tin từ sớm, đứng kín hai bên đường. Khi lá cờ đen thêu chữ “Bùi” xuất hiện sau lớp sương mỏng, tiếng reo hò lập tức dậy lên. Người cưỡi con ngựa ô đi đầu là Trấn Bắc tướng quân Bùi Hành Châu. Hắn vừa tròn hai mươi chín tuổi, vai rộng, lưng thẳng, trên người không có món trang sức nào ngoài miếng ngọc bội màu đen buộc ở thắt lưng. Bảy năm trấn thủ Bắc Cảnh đã làm đường nét trên gương mặt hắn trở nên lạnh và sắc. Từ xa nhìn lại, người ta chỉ thấy một vị tướng quân oai nghiêm, dường như ngay cả tuyết đọng trên vai cũng không dám tan. Phía sau hắn nửa thân ngựa là một binh sĩ trẻ mặc giáp nhẹ. Người ấy tên Tần Mặc, giữ chức đội suất trong doanh trinh sát. So với các tướng lĩnh cao lớn xung quanh, Tần Mặc có phần mảnh khảnh. Da cậu bị gió biên ải hun thành màu mật nhạt, đuôi mắt hơi dài, lúc không cười trông rất yên lặng. Cậu không có vẻ gì đặc biệt ngoài một vết sẹo nhỏ sát chân mày trái. Thế nhưng trên đường từ Bắc Cảnh về, mỗi lần Bùi Hành Châu quay đầu, ánh mắt đều dừng ở vị trí ấy trước tiên. Không ai để ý. Hoặc ít nhất, hai người đều tin rằng không ai để ý. Đoàn quân đi qua đầu đường Tuyên Bình thì xảy ra một chuyện nhỏ. Con ngựa kéo xe chở than bị tiếng pháo của trẻ con làm kinh sợ, bất ngờ dựng hai vó trước. Người đánh xe kéo dây cương không kịp, chiếc xe lệch sang một bên, trượt thẳng về phía một bé gái đang đứng giữa đường. Tiếng kêu hoảng loạn bật lên. Tần Mặc gần như rời yên ngựa cùng lúc. Cậu giẫm lên bàn đạp, nghiêng người chụp lấy cổ áo đứa bé rồi lăn sang bên đường. Bánh xe bọc sắt lướt qua ngay sau lưng, hất bùn tuyết lên vạt áo cậu. Bùi Hành Châu ghìm ngựa. Gương mặt hắn vẫn không đổi, nhưng bàn tay giữ dây cương siết đến nổi rõ gân. Mẹ đứa bé chạy tới, vừa khóc vừa cảm tạ. Tần Mặc trao con cho nàng, phủi tuyết trên vai rồi nói: “Không sao. Sau này đừng để con trẻ chạy xuống lòng đường.” Cậu quay lại, vừa ngẩng đầu liền bắt gặp ánh mắt Bùi Hành Châu. “Lên ngựa.” Hắn nói. Giọng không nặng, nhưng Tần Mặc biết hắn đang giận. Đoàn quân tiếp tục đi. Qua một quãng phố đông, Bùi Hành Châu mới hạ giọng đủ cho hai người nghe: “Ngươi tưởng mình có mấy cái mạng?” “Thuộc hạ tính được khoảng cách.” “Tính đến cả việc bánh xe trượt trên tuyết?” Tần Mặc im lặng. Bùi Hành Châu nhìn thẳng phía trước. Một lúc sau, hắn mới nói tiếp: “Cánh tay trái còn đau không?” “Không đau.” “Tối qua ai trở mình ba lần?” Tần Mặc quay mặt sang. Giữa phố lớn đông người, câu hỏi ấy nghe quá gần gũi. Cậu ho khẽ, đáp bằng giọng nghiêm chỉnh: “Có lẽ tướng quân nghe nhầm.” Khóe môi Bùi Hành Châu động nhẹ. Chỉ một thoáng, rồi lại trở về vẻ lạnh lùng thường ngày. Khi đi ngang một sạp hàng nhỏ, Tần Mặc nhìn thấy những sợi dây kết màu đỏ treo dưới mái hiên. Phần lớn được làm thành nút đồng tâm, người bán nói mua về buộc bên giường sẽ cầu được duyên lành. Cậu nhìn hơi lâu, đến khi đoàn quân đã qua khỏi sạp mới thu mắt lại. Buổi trưa, quân Huyền Giáp vào doanh trại phía tây thành. Sau lễ điểm binh, các tướng lĩnh theo Bùi Hành Châu vào cung phục mệnh, binh sĩ được nghỉ ba ngày về thăm nhà. Tần Mặc không có nhà để về. Cha mẹ cậu mất trong nạn đói ở quận Thanh Hà từ mười năm trước, họ hàng cũng chẳng còn ai. Cậu đang định theo những người ở lại dọn kho binh khí thì thân binh của tướng quân đến gọi. “Tướng quân bảo ngươi sang phủ.” Phủ Trấn Bắc tướng quân nằm ở cuối ngõ Trường Nhạc, cách hoàng thành hai con phố. Bùi gia vốn là thế gia võ tướng, tổ phụ và phụ thân Bùi Hành Châu đều chết ngoài chiến trận. Trong phủ hiện chỉ còn lão phu nhân, vài người họ hàng xa và một số gia nhân cũ. Tần Mặc theo cửa hông vào trong. Quản gia họ Lâm đã quen cậu, vừa thấy liền sai người bưng canh gừng đến. “Tướng quân chưa về sao?” “Trong cung giữ lại nghị sự.” Lâm quản gia đáp. “Ngài dặn cậu chờ ở thư phòng.” Trong thư phòng đốt than bạc, ấm hơn doanh trại rất nhiều. Tần Mặc tháo áo choàng, ngồi bên cửa sổ. Trên bàn có một chồng công văn chưa mở, bên cạnh là hộp gỗ đựng thuốc trị thương mà Bùi Hành Châu mang từ Bắc Cảnh về. Mọi thứ đều được đặt ngay ngắn, chỉ có một mảnh vải buộc tay đã cũ nằm dưới nghiên mực. Mảnh vải ấy vốn thuộc về Tần Mặc. Ba năm trước, trong trận đánh ở khe Lạc Ưng, Bùi Hành Châu trúng tên. Tần Mặc khi ấy mới là một lính truyền tin, đã cắt vạt áo bó vết thương cho hắn rồi cõng hắn đi gần năm dặm đường núi. Sau đó người trong doanh đều nói cậu nhờ cứu chủ soái mới được cất nhắc. Không ai biết, đêm ấy Bùi Hành Châu sốt cao, bàn tay nắm chặt cổ tay cậu suốt sáu canh giờ; cũng không ai biết từ hôm đó, giữa họ bắt đầu có một điều không thể nói ra. Trời sẫm dần. Ngoài sân, người hầu lần lượt thắp đèn. Đến đầu giờ Dậu, tiếng bước chân mới vang lên ngoài hành lang. Bùi Hành Châu đẩy cửa bước vào, trên người vẫn mặc triều phục. Hắn đóng cửa, nhìn Tần Mặc một lượt rồi hỏi: “Tay.” “Thật sự không sao.” “Đưa đây.” Tần Mặc đành tháo đai bảo vệ ở cổ tay trái. Chỗ từng bị đao chém trong trận cuối mùa thu đã sưng đỏ vì cú ngã ban sáng. Bùi Hành Châu lấy thuốc, ngồi xuống trước mặt cậu. Đầu ngón tay hắn chai cứng, động tác lại rất nhẹ. Tần Mặc nhìn hàng mi hắn rủ thấp, đột nhiên nói: “Thịnh Kinh sắp đón năm mới.” “Ừ.” “Lão phu nhân chắc mong ngài ở lại lâu hơn.” Bùi Hành Châu ngừng tay. “Ngươi thì sao?” Tần Mặc không trả lời. Cậu nhìn qua cửa sổ. Trên cành mai già ngoài sân, tuyết đang rơi xuống từng mảng nhỏ. Bùi Hành Châu băng xong cổ tay cho cậu, nhưng không buông ra ngay. “Tần Mặc.” “Thuộc hạ ở đây.” “Ở trước mặt ta, đừng tự xưng như thế.” Căn phòng yên tĩnh đến mức nghe rõ tiếng than nổ lách tách. Tần Mặc quay lại. Khoảng cách giữa họ rất gần, gần đến nỗi cậu thấy được vẻ mệt mỏi giấu dưới đáy mắt người kia. “Hành Châu.” Cậu gọi khẽ. Bùi Hành Châu cúi đầu, trán chạm vào trán cậu. Nhiều năm qua, họ đã quen với việc chỉ lấy những giây phút ngắn ngủi như thế để xác nhận rằng người kia vẫn còn ở đây. Một lát sau, Bùi Hành Châu lấy từ trong tay áo ra một vật đặt vào lòng bàn tay cậu. Đó là sợi dây kết màu đỏ ở sạp hàng ban sáng. Tần Mặc sửng sốt. “Ngài mua lúc nào?” “Trên đường vào cung, sai người quay lại mua.” Nút dây không phải đồng tâm mà chỉ là một nút bình an rất đơn giản. Bùi Hành Châu nói: “Cầu duyên không cần. Cầu ngươi bớt liều mạng là đủ.” Tần Mặc bật cười. Đây là nụ cười đầu tiên của cậu từ khi vào thành. Cả hai đều không biết, cùng lúc ấy, trong điện Dưỡng Tâm, Cảnh Hòa Đế đang xem một tờ tấu chương do Thừa tướng Thẩm Chương dâng lên. Trên tờ giấy chỉ có vài dòng, xin ban hôn đích nữ Thẩm gia cho Trấn Bắc tướng quân Bùi Hành Châu.
Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ